Trên đường đến với tư duy lý luận văn học của Trương Đăng Dung

Nhận thức luận triết học ở Trương Đăng Dung đã chỉ ra đặc trưng hệ thống hóa trong tri thức của ông, một quá trình “nương nhờ” qua lại của những dòng ý thức. Đặc trưng ấy đã đưa nhận thức luận văn học Trương Đăng Dung tới quá trình tư duy lại văn học hợp lý.

Nhận thức luận của chủ thể ý hướng tính là kết quả tích hợp từ tri thức thực hành và tri thức thuần túy, đồng thời được luận giải lại trong bản chất ngôn ngữ. Truy cứu nhận thức luận của một cá nhân, diễn giả đã đồng thời giải quyết nhiệm vụ kép, vừa khai minh vừa phản tư vấn đề, là quá trình tri thức về tri thức.
Trên đường đến với tư duy lý luận văn học của Trương Đăng Dung - ảnh 1
Trương Đăng Dung
Vậy là, khi tri thức diễn giả tư duy về tri thức tha thể, điều ấy cũng đồng nghĩa với việc nhận thức hiện thời được tư duy lại bằng nhận thức tha nhân. Tuy nhiên, nếu chủ thể ý hướng tính trong diễn giải không đặt tri thức của mình về tri thức tha nhân, mà tự tri thức về tri thức quá khứ của mình bằng điểm đứng hiện tại, thì đó là hướng đi của lý luận thuần túy. Trương Đăng Dung đã làm được điều đó. Từ tri thức luận tới nhận thức luận triết học là quá trình nhận thức luận không ngừng được tư duy lại thông qua hệ thống tri thức lấp chồng, tích hợp, đồng thời cũng tự phê phán. Khi nhận thức luận của chủ thể ý hướng được khai phóng, điều ấy có nghĩa, chủ thể ý hướng tính đã xây riêng cho mình bệ phóng bản thể luận vững vàng, để từ nền tảng căn bản ấy, những hình thức nhận thức cụ thể được khai mở. Nhận thức luận văn học ở Trương Đăng Dung là quá trình cụ thể hóa nhận thức luận triết học của ông.

Nhận thức luận triết học ở Trương Đăng Dung đã chỉ ra đặc trưng hệ thống hóa trong tri thức của ông, một quá trình “nương nhờ” qua lại của những dòng ý thức. Đặc trưng ấy đã đưa nhận thức luận văn học Trương Đăng Dung tới quá trình tư duy lại văn học hợp lý. Trong hệ thống tri thức thuộc khoa học văn học của mình, ông đã xác định đặc trưng lí tính của các bộ phận cấu thành nó, mà trong tính chỉnh thể, các bộ phận ấy có sự nương nhờ lẫn nhau về tư tưởng. Phê bình văn học nương nhờ lý thuyết văn học [1] để xây dựng đặc trưng quan niệm logic về tác phẩm hoặc một trào lưu, nền văn học cụ thể. Lý thuyết văn học nương nhờ nhận thức luận lịch sử văn học để biết thế giới sống trên văn bản là một tiến trình nối kết giữa các nền văn học và giữa các thế hệ người đọc. Lý thuyết văn học quan tâm đến cấp độ tư duy phạm trù, đặt nền tảng nhận thức luận vào đặc trưng lí tính trừu tượng, khám phá và giải quyết các quy luật văn học. Do đó, lý thuyết văn học cần được nhận thức như là quá trình tìm kiếm trong thế giới tinh thần những điểm nối kết và kế thừa, mà di sản nhận thức hiện tại của văn học là kết quả thông điệp của hệ thống tri thức quá khứ. Nó cần được diễn giả khai mở và sáng tạo. Quá trình ấy là quá trình không ngừng vận động của nhận thức xuyên hiện thực, mà mỗi quy luật sáng tạo và thẩm định văn học là một mắt xích quan yếu trong tiến trình nhận thức chung của văn học thế giới. Nói như vậy, lịch sử văn học cũng phải nương nhờ tư duy lý thuyết văn học để thấy được hệ hình logic [2] mà các nhà lý thuyết đề xuất phù hợp với đặc trưng nhận thức thời đại. Do đó, tính xuyên suốt của lịch sử văn học cần được ghi nhận ở tính liền mạch của quá trình nhận thức và tự nhận thức từ phía chủ thể diễn giải văn học. Điều ấy lại cần nương nhờ tới đặc tính trung giới của ngôn ngữ diễn giải. Nhưng ngôn ngữ văn học bao giờ cũng là sản phẩm của nhận thức, đồng thời cũng là dự phóng ý thức của một hoặc một nhóm diễn giả cụ thể, trong đó, tác giả cũng là diễn giả ban đầu cho văn bản mà họ tiếp cận. Vậy hiển nhiên, lịch sử của khoa nghiên cứu văn học là lịch sử của quá trình tác động giữa các bộ phận của nó với diễn giả tiếp nhận nó. Sự ràng buộc ấy có căn nguyên từ thế giới tư tưởng nằm trong triết học. Vậy, khoa học nghiên cứu văn chương dù phân chia theo hướng nào thì nó cũng không tách rời với ý thức hệ triết học. Vì ý thức hệ triết học phản ánh lịch sử tư tưởng và đấu tranh tư tưởng của một thời đại nhất định, nó biểu hiện đặc trưng nhận thức về thế giới hiện tượng một cách có hệ thống của chủ thể ý hướng tính. Nó là bản thể luận của những nhận thức riêng biệt. Việc Trương Đăng Dung tìm ra các giới hạn của khoa nghiên cứu văn học, đã chứng minh đặc trưng của nghiên cứu văn học nằm ở tính cố kết bền vững từ phía tri thức liên ngành. Đó là quá trình biện chứng giữa các chiều nhận thức, phản ánh bản chất dễ sụp đổ của những hệ hình - tri thức độc lập.

Nếu lý luận văn học truyền thống đặt nền tảng nhận thức vào giải quyết câu hỏi: Văn học là gì? Phê bình truyền thống luôn truy tìm cách giải quyết cho nghi vấn: Tác phẩm văn học được biểu hiện như thế nào? Lịch sử văn học truyền thống nhất nhất truy nguyên vấn đề: Bối cảnh nào làm nảy sinh tác phẩm văn học? Thì đến văn bản của Trương Đăng Dung, nhận thức trên đã được tư duy lại. Lý thuyết văn học truyền thống đã vấp phải những nấc thang đưa tới khủng hoảng về nhận thức chung, dẫn đến sự cực đoan trong luận giải các vấn đề thuộc thế giới hiện tượng. Đặc trưng tư duy lí luận truyền thống hướng mục đích vào đối tượng cá biệt được nghiên cứu. Các nhà lí thuyết vì một lí do ý thức hệ đã cố tách các bộ phận nghiên cứu thuộc khoa nghiên cứu văn học thành các quy luật logic độc lập. Trong khi đó, ngoài chức năng nhận thức đối tượng, mỗi phân môn trong khoa học văn học còn hướng đến chức năng siêu khoa học; không chỉ ở đối tượng đặc thù, văn học còn lấy bản thân nó làm đối tượng nghiên cứu [3]. Đó là quá trình tri thức văn học nương nhờ tri thức khoa học, là đặc trưng “vắt dòng tri thức” liên ngành. Tuy nhiên dù cố phân biệt rạch ròi giữa lí thuyết văn học, lịch sử văn học, phê bình văn học thì các nhà lí luận truyền thống vẫn vấp phải khả năng tự phá vỡ từ quá trình hiện thực hóa đối tượng có tính đặc thù từng ngành. Lịch sử văn học [4] nếu đứng biệt lập giải quyết các vấn đề văn bản thì nó lại thiếu vắng khả năng mô tả và bao quát bối cảnh có trong văn bản, do đó khó tái hiện được tâm lí tổng thể được tiên liệu trong quá trình sáng tác của nhà văn. Phê bình văn học [5] thì bất cập trong logic nhận thức: hoặc logic xúc cảm, hoặc logic lí tính. Lý thuyết văn học [6] bị phá vỡ bởi đặc trưng diễn giải và phương pháp luận nhận thức các quy luật văn chương, dẫn tới hệ quả phụ thuộc hoặc chịu đồng quy vào một trào lưu, một khuynh hướng triết học độc lập, đưa đến sự mỏng manh và khủng hoảng của các cộng đồng thẩm mỹ. Trương Đăng Dung đã đi qua những giới hạn khủng hoảng đó, đặt lịch sử tinh thần như tấm gương, mà ở đó, các bộ phận khác nhau của khoa nghiên cứu văn học soi mình và tự hoàn thiện mình. Lịch sử tinh thần cần được ghi nhận như là vận động biện chứng của những dòng tư tưởng văn học, mà mỗi thời điểm diễn giả nhận thức văn học chỉ là một nút neo đậu tư tưởng trong chuỗi dài nhận thức chung của văn hóa nhân loại. Nói như vậy, lịch sử văn bản muốn tái hiện lại không khí, thời đại tác giả khởi phát sáng tạo, nó phải căn cứ vào thế giới sống tinh thần có trước nhà văn và đồng thời với hiện thực nơi nhà văn đã sống. Lý thuyết văn học phải đi từ logic triết học đến logic văn học, nghiên cứu, phát hiện các phương pháp mới, phá vỡ những đặc trưng phong bế từ diễn trình văn học. Phê bình văn học không chỉ nương nhờ lịch sử văn học và lý thuyết văn học, mà còn nương nhờ thế giới văn hóa được tích tụ theo các dãy văn bản để thẩm định tác phẩm văn học một cách hợp lý nhất. Trương Đăng Dung đã đặt nhận thức luận văn học của mình trên nền tảng nhận thức luận về logic tinh thần của W. Dilthey. Do đó, ngoài việc tránh sa vào cực đoan lý thuyết ngành, ông còn hướng đến đặc trưng dự phóng liên ngành nằm ở ngôn ngữ văn bản. Đó là điểm phát hiện sâu sắc trong tư duy lí luận Trương Đăng Dung.

Dilthey cho rằng, hoạt động diễn giải có điểm phát xuất là đối tượng, dù muốn hay không vẫn phải bám vào đối tượng, vì vậy, ông xem phạm vi lý giải cần được mở rộng từ cách tiếp cận các bộ phận của đối tượng, sau đó xem xét và tìm đến khái quát của vấn đề cần tìm hiểu. Quá trình đó theo ông là quá trình liên tục, không ngừng nghỉ của những phán đoán, suy lý. Tính biện chứng cho diễn giải của Dilthey ở chỗ, ông xem quá trình đi từ cái riêng đến cái chung không phải là diễn tiến một chiều, nó đòi hỏi sự nhọc công tìm hiểu ngược trở lại cá biệt từ tầm khái quát của diễn giả, tức quá trình hiểu và diễn giải về đối tượng là quá trình “kép” giữa cái chung và cái riêng, giữa cái cho tavật tự nó. Dilthey cho rằng, vì ngôn ngữ là sở hữu của cả cộng đồng người, họ sáng tạo và lưu giữ theo thời gian và trong quá trình ấy, nó mang chứa những cách thức suy tư của con người. Do vậy, muốn hiểu được những cách thức suy tư ấy về hữu thể như thế nào thì cần phải đi vào văn bản, lý giải các biểu tượng, kí hiệu. Lĩnh vực có thể giúp diễn giả làm được điều ấy, không đâu khác là các ngành thuộc khoa học nhân văn, trong đó, trung tâm là văn học. Dilthey đã đem đối lập khoa học tự nhiên với khoa học xã hội để làm rõ tầm quan trọng của lĩnh vực khoa học nhân văn đối với thông diễn học. Ông cho rằng các ngành khoa học tự nhiên thiên về logic nội tại, với những đứt gãy liên kết phân tử cho nên nó hoàn toàn độc sáng, còn với các khoa học nhân văn, đối tượng của nó là diễn tiến tư tưởng đến từ bên ngoài, nó xuất hiện trước ý thức và độc lập với ý thức con người, do vậy không thể tồn tại khái niệm độc sáng. Tính liên đới của các vấn đề tư tưởng thúc ép nhà sáng tạo không thể phát kiến trên văn bản, nếu không dựa vào tinh thần của một giai đoạn văn hóa cụ thể [7]. Lĩnh vực tinh thần là lĩnh vực của sự tổng hợp các tính cách tâm lý, do vậy, nghiên cứu về khoa học tinh thần là nắm được thế giới tâm lý sống của những con người (hoặc cộng đồng) người “xa lạ”, đứt quãng về không gian và thời gian, nối kết họ lại trong sự thông hiểu lẫn nhau. Sự nối kết ấy có được là nhờ diễn giả tiếp cận và giải mã “những biểu hiện được ghi lại một cách lâu bền”, “những bằng chứng thuộc về con người được ghi lại qua sự viết” và “những tượng đài kỉ niệm bằng văn bản”. Nhận thức văn học của Trương Đăng Dung đã giao thoa với nhận thức triết học của Dilthey, ông đã nâng văn học lên khả năng tự kiểm sai nhận thức đối với tri thức văn hóa. Điều ấy đưa logic lý thuyết văn học của ông đến chỗ giao nhau với logic phức hợp về tri thức, trong đó khả năng tổng hợp: tác giả - tác phẩm - người đọc với lý thuyết - lịch sử - phê bình văn học gặp nhau trong đặc trưng chung diễn giải về ngôn ngữ. Ngôn ngữ văn học trở thành bản thể luận cho nhận thức văn học, nó cân bằng đặc trưng chỉnh thể của văn học cũng như diễn giải văn học, mà lịch sử đọc văn bản trong quan niệm của ông chỉ là một bộ phận của lịch sử nhận thức văn học nói chung: trong đó bao gồm lịch sử tái tạo văn bản, lịch sử sáng tạo văn học, lịch sử thẩm định văn học. Nói đúng ra, lịch sử diễn giải văn bản nằm ở đặc trưng logic bản thể văn học [8] chứ không phải là logic văn học. Do đó, nói logic lý thuyết văn học của Trương Đăng Dung thuộc về mỹ học tiếp nhận hay lí luận người đọc là cách quy chụp nhận thức chung vào nhận thức cá biệt, là cách phán xét văn bản thiếu độ tin cậy.

Trên đường đến với tư duy lí luận hiện đại, Trương Đăng Dung đã nhìn thấy ở ngôn ngữ [9] khả năng hòa giải cần thiết đối với các quan niệm văn học, đặt tính đồng quy của ngôn ngữ vào khả tính bản thể nhận thức có liên đới tới thế giới tinh thần. Ngôn ngữ văn học dù được liên kết bởi những hình thức cấu thành nó ra sao, biểu tượng hay là những dự- tín ký hiệu thì nó cũng đảm bảo đặc trưng truyền thông điệp qua các thế hệ đọc. Trong đó, chủ thể sáng tạo hay chủ thể đọc được đồng quy vào khái niệm chung là chủ thể diễn giải, mà cá nhân nhà văn không có lí gì để biện minh cho việc đã- từng- tồn tại một hệ hình tri thức quá khứ trong tư duy sáng tạo của mình, và người đọc hoàn toàn có quyền biện lý cho khả thể sáng tạo trong đặc trưng nhận thức văn bản của họ. Tri thức văn học là quá trình dung nạp và dụng điển lẫn nhau qua trung giới là ngôn ngữ văn bản. Giải quyết những vấn đề trên văn bản không phải là hướng đi về nghĩa, cái mà lý thuyết văn học hiện đại hướng tới là diễn giải ý nghĩa của nó. Và rằng, nghĩacái căn bản để văn bản tồn tại, thì ý nghĩaý niệm được hướng tới của tri thức lại nằm về cả hai phía nhà văn và người đọc. Các nhà lý thuyết Marxits do quá đặt nặng tới vấn đề nghĩa của văn bản cho nên đã cực- đoan hóa khả năng tự-làm đầy về ý nghĩa của tác giả, trong khi đó, để xây dựng nghĩa của văn bản, chủ thể sáng tạo phải viện dẫn vô số những ý niệm quá khứ về tri thức trọng điểm. Vậy là, khi nhà văn cố gắng hướng đến nghĩa độc sáng của mình trên văn bản, thì ý niệm về tri thức trên văn bản đã xuất hiện trước khi xuất hiện nghĩa. Nói đúng ra, nghĩa của văn bản là hình thức che đậy ý niệm tri thức (ý nghĩa) được dung nạp từ lịch sử nhận thức, vì vậy, điểm quyết định đến sự tồn tại của văn bản văn học phải là sự nối kết ý nghĩa, khả năng tự thông điệp của ngôn ngữ giữa nhà văn và bạn đọc. Diễn giải về văn bản không phải là cắt nghĩa văn bản mà là nối kết các ý niệm văn học giữa nhà văn và người đọc, là đặc trưng nối kết kinh nghiệm mỹ cảm giữa các thế hệ diễn giả. Đó là quá trình tương thông văn hóa, tương thông tri thức và tương thông ngôn ngữ văn bản. Điều này đã xác định tính biện chứng giữa ngôn ngữ và thế giới tinh thần, một thế giới được nối kết với nhau bằng các hình thức biểu hiệu. Vậy còn thế giới tự nhiên thì sao? Thế giới tự nhiên là thế giới đã được giải nghĩa bởi con người, điều ấy đồng nghĩa với việc quy thế giới tự nhiên và thế giới xã hội về điểm tiên quyết là ngôn ngữ. Chủ thể thực thi ngôn ngữ trong mọi hình thức văn bản là con người, với thế giới kinh nghiệm quy định phương thế tư duy. Tính biện chứng trên tinh thần hiện đại trong nhận thức luận của Trương Đăng Dung theo hướng tương tác hệ thống: bản thể luận - thế giới tinh thần và thế giới ngôn ngữ- biểu tượng đã được giải quyết bằng nhận thức luận văn học với những liên đới và khả năng cụ thể hóa thành các vấn đề có trên văn bản: tác giả - tác phẩm - bạn đọc, quy định đặc tính vướng líu giữa các mô hình lý thuyết trong khoa nghiên cứu văn học; chứng minh thuyết phục nhận thức luận của ông là hợp lí, khẳng định tri thức khoa học của ông đang vận đông theo quy luật chung của tri thức văn học thế giới. Một nhận thức đi theo quỹ đạo tư tưởng nhân loại, một tri thức logic văn học cuộn theo dòng chảy chung của tri thức văn học thế giới là hướng khai phóng đúng đắn về kiểu thức tư duy lý luận hiện đại.

Để khép lại luận đề quan trọng này, tôi muốn nhắc đến cảnh báo của Adorno [10] về sứ mệnh của lý thuyết hiện đại và mối liên hệ của nó với triết học mà Eduardo De La Fuente [11] đã trích dẫn khi nói về Tính hiện đại của tri thức, và rằng nếu ai có ý định tách triết học ra khỏi đời sống nhận thức luận cụ thể thì điều ấy đồng nghĩa với việc biến nhận thức nhân loại trở thành công cụ của chính trị, phục vụ cho mục đích toàn trị về quyền lực. Khi văn bản này khép lại bằng những biểu- hiệu thô ráp của ngôn ngữ thì cũng là lúc hành nhân- Trương Đăng Dung đang bước tiếp những bước dài trên muôn ngả tư tưởng nhiều vinh quang, nhưng cũng không ít lụy phiền.

Ngô Hương Giang



[1] Trương Đăng Dung (1998), Từ văn bản đến tác phẩm văn học, Sđd, tr. 13.

[2] Trương Đăng Dung (1998), Từ văn bản đến tác phẩm văn học, Sđd, tr. 15.

[3] Trương Đăng Dung (1998), Từ văn bản đến tác phẩm văn học, Sđd, tr.17.

[4] “Những giới hạn của lịch sử văn học”: Trương Đăng Dung (2004), Tác phẩm văn học như là quá trình Sđd, tr. 202-218.

[5] Trương Đăng Dung, “Những giới hạn của phê bình văn học”, TC Văn học, số 6 -1993.

[6] Trương Đăng Dung, “Những giới hạn của cộng đồng diễn giải”, TC nghiên cứu văn học, số 9 -2008.

[7] Phan Quang Định (2008), Toàn cảnh triết học Âu Mỹ thế kỷ XX, NXB Văn học, Hà Nội, tr. 204.

“Trong khoa học về tinh thần, toàn bộ đời sống tâm lý đâu đâu cũng cấu tạo một dữ kiện nguyên thủy và căn bản. Về thiên nhiên, thì chúng ta giải thích; về đời sống tâm hồn thì chúng ta hiểu biết. Vì những tác động thu hoạch, vì những cách biệt theo đó những cơ năng tâm lý, tức là những yếu tố riêng biệt của đời sống tâm hồn, tổ hợp thành một toàn bộ, đều là những dữ kiện mà chúng ta biết được nhờ kinh nghiệm nội tâm. Ở đây, toàn bộ được sống cảm là cái nguyên thủy, chỉ sau này, người ta mới phân biệt những phần cấu thành toàn bộ ấy” [7].

[8] Xin xem: Gadamer (2004), Truth and Method, Ibid: “The ontology of the work of art and its hermeneutic significance”, P. 102 -157.

[9] Trương Đăng Dung, “Trên đường đến với tư duy lí luận văn học hiện đại”.

[10] “The last of the modernists - Adorno, Foucault and modern intellectual”: Meanjin magazine (1993), Intellectuals in Europe, Meanjin Publisher, Australia, p. 89-90.

“Có thể đến một lúc nào đó, trừng ba mươi năm sau, trong một tiểu luận nổi bật tương tự, đặt ra với nghi vấn “tại sao có triết học?”- Adorno kết luận về điều đó như kiểu mẫu của lối “kết thúc mở” đối với tri thức thực hành mà ông đã nhìn thẳng vào như sự thích đáng nhất, gói gọn trong công thức của Rimbaud rằng, “Il faut être absolument modern” (“cần phải hiện đại một cách tuyệt đối”)”

[11] “The last of the modernists - Adorno, Foucault and modern intellectual”: Meanjin magazine (1993), Intellectuals in Europe, Meanjin Publisher, Australia, p.93.

Cái chết của Chúa” đã từng buộc [chúng ta] phải suy nghĩ đối với việc tiếp tục trang bị tri thức về “chủ nghĩa hiện đại”, những người nhấn mạnh đến điều đó như Foucault và Adorno đã làm minh bạch hóa về: hình thức, sự tương thông, về những nghịch biến đóng - mở, về tính tự phản chiếu và về việc truyền lại nhận biết “chủ đề” hay “cái tôi của ai đó chưa khắc sâu với chính nó” (ibid, p.93)

* “nghịch biến: đóng - mở” (open - ended paradoxes): Những thay đổi theo hướng ngược quy luật của tồn tại.

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác