Trần Thế Vinh “nghiệm” lại đời thơ

(Toquoc)- Có lẽ Trần Thế Vinh là một cái tên không xa lạ gì với những người yêu thơ An Giang và Đồng bằng sông Cửu Long. Thời gian gần đây tôi mới đọc Trần Thế Vinh nhưng cũng nhiều lần bị thơ anh làm rung động. Chất dân dã là yếu tố đầu tiên phải kể đến khi nói về thơ Trần Thế Vinh.

Thơ Trần Thế Vinh chủ yếu viết theo lối truyền thống, chất dân dã luôn được lồng vào từng tứ thơ, xuyên suốt chiều dài và chiều sâu của thơ, thỉnh thoảng chúng ta cũng bắt gặp sự phá cách, khoáng đãng tự do đến hào phóng, tuy nhiên vẫn giữ một chuẩn mực rất riêng, rất “chân quê” của người An Giang mà không xô bồ, không chạy theo thời thượng.

Trần Thế Vinh cầm bút từ khoảng những năm trước 1980, khi anh còn đang là lính chiến đấu trên chiến trường Tây Nam. Năm 2005, khi được kết nạp là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, anh đã có một sự nghiệp thơ với những tác phẩm chính đã xuất bản: Qua đi mùa hạ (1991), Tặng người một nửa bài thơ (1993); Ký ức thơ và lính (1998); Bài thơ với đất (2001); Say trăng (2005); Hoa đá Cô Tô (2005) và Về nơi anh ở (2006). Đầu năm 2010, Trần Thế Vinh cho ra đời thi phẩm “Nghiệm & khổ cuối một vần thơ” do NXB Phương Đông và Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật An Giang xuất bản.

Trần Thế Vinh “nghiệm” lại đời thơ - ảnh 1Theo thiển ý của người viết bài này, thì “Nghiệm & khổ cuối một vần thơ” là sự đúc kết một chặng đường khá dài của tác giả - qua hơn 30 năm cầm bút, như là một đợt “nghỉ giải lao” giữa chặng đường, và đợt “nghỉ giải lao” này theo tác giả là để “Chiêm nghiệm mình và lãng đãng với thơ ca” (Thơ trong đêm chờ sáng).

Những bài thơ trong tập thơ đúng như cái tên mà tác giả đã đặt “Nghiệm”. Xuyên suốt tập thơ, người đọc sẽ có cơ hội bắt gặp cái “nghiệm” của tác giả, về cuộc đời, về tình yêu, về những mâu thuẫn đời thường luôn thường trực bên chúng ta… đó cũng là mảng chủ đạo, đậm chất triết lý mà hài hòa giữa tình yêu con người và cuộc sống xung quanh.

Tập thơ được tác giả chia làm hai phần là “Nghiệm” và “Và khổ chót một vần thơ”. Ở phần đầu, tác giả tập trung vào những sự chiêm nghiệm rất đời thường, về cuộc đời, về đường thơ, về những người nông dân quê nhà, về cái tôi bản ngã, về sự già nua của con người trước tạo hóa… Ở phần sau, tác giả chủ yếu viết về những hình ảnh của quê hương, đâu đó chúng ta sẽ thoáng bắt gặp dòng Cửu Long và dãy Thất Sơn hòa chung với nhau trong thơ Trần Thế Vinh.

Nếu như mở đầu tập thơ, Trần Thế Vinh đã viết:

Khoác áo nhà thơ

Thi nhân là hành giả bày mâm khẩu nghiệp

Nhóm lên ngọn lửa cảm xúc

Như ánh lân tinh

Tan vào mây gió xanh tươi, vàng đục…

(Nghiệm)

Thì 37 bài thơ trong tập thơ chính là 37 ánh lân tinh, nhiều màu sắc mà vẫn mang một cái chung quy nhất về chữ “nghiệm”, cứ tưởng chừng nó sẽ “Tan vào mây gió xanh tươi, vàng đục… nhưng không, nó vẫn “Âm ỉ cháy/ Giữa lòng minh tâm vô lượng để rồi tác giả đã nhìn nhận đúng về đời thơ hay chính là đời mình: “Vạn biến vào cõi niết bàn còn lắm bi, ai…” (Nghiệm).

Với quê nhà, Trần Thế Vinh đã hết sức sâu sắc khi viết về những người nông dân chân lấm tay bùn. Ở đây, anh không muốn nói đến những khổ cực, vất vả của họ, mà anh chú trọng khắc họa vẻ đẹp tâm hồn và lòng phóng khoáng của người dân Nam bộ. Ta sẽ bắt gặp hình ảnh người nông dân ra đồng:

Đâu phải mỗi bình minh không có nỗi buồn số phận

Móng chân tưa mép hôm qua còn chín dấu

Mỗi mùa…

Hay:

Nói chuyện này, ông bảo rằng xưa…

Khi đất ngày nay đã hai, ba mùa trĩu hạt

Việc cấy cày cũng khác

Kể làm gì

Chuyện mất mát một ngón chân!…

(Vẽ một bàn chân)

Hình ảnh vùng núi đồi Tà Pạ ngày Thanh minh cũng đi vào thơ Trần Thế Vinh, để cuối cùng vẫn là một sự chiêm nghiệm hết sức độc đáo mà gần gũi, cứ ngỡ đó chỉ là chép người, chép việc nhưng thực tế có sự nhìn nhận bằng con mắt trải đời, thậm chí “xem thường” đời, lối suy tư như “đùa cợt” nhưng khá “sâu”:

Tà Pạ thanh minh. Rực màu

Phố vui - Như thể chết sao mà buồn…

Rượu thịt - Nhang khói âm dương

Cùng say một bữa thế thường rồi thôi!

(Một ngày trên núi cõi âm)

Vùng đất Bảy Núi - quê hương tác giả có lẽ được anh dành nhiều cảm xúc nhất, mỗi ngọn núi là mỗi vùng đất hứa, mỗi khe đá là mỗi dấu quê, núi và anh hội ngộ nhau như duyên phận, nên khi viết về Bảy Núi anh đã cảm nhận:

Đá thở

Từ nhịp tim lòng

Ta chim về núi ngó trông lại mình

Bìm Bịp gọi tiếng thất tình

Gió trời trở ngọn mưa in. Trái mùa…

(Thất Sơn)

Đặc biệt, núi Dài - nơi Trần Thế Vinh sinh ra và lớn lên, gia đình anh như đã đồng hành cùng ngọn núi:

Ba mươi năm trôi qua

Ba mươi ngọt đắng riêng mình

Núi và tôi bấy nhiêu lần chia tay, gặp gỡ

để rồi những vùng đất ấy được tác giả cất giữ trong tâm hồn:

Mỗi lần đi

Và lần về.

Tôi như người mang nợ

Trước cây cỏ, núi rừng, hang động, suối khe...

(Núi Dài và tôi)

Đôi lúc là sự bất lực của người thơ và đời thơ, để rồi tự an ủi mình:

Bản thảo trắng

Qua đêm. Ta in lên trời

Như mây như gió, tìm nơi ta về…

(Bản thảo trắng)

Với tình yêu, tác giả “Nghiệm & khổ cuối một vần thơ” ghi lại cảm xúc của người đợi chờ, thất vọng:

Anh quen nếm đắng cay

Không giữ kịp một hột để muối lại tâm hồn

Nêm vào bài thơ tình sau cuối

(Trong một phút và bài thơ sáu khổ)

Hay đôi lúc là sự tinh nghịch đáng yêu:

Dọc đường

Ý tại tình cờ

Phải chi con gái bây giờ cài trâm

Chiều buồn ngồi nhớ xa xăm

Ta làm thằng ngốc, chuốt trâm tặng nàng!

(Dọc đường thơ)

Để rồi đôi lúc nhìn lại thấy mình thật sự đã già trước trò đùa của con tim, góc nhìn của Trần Thế Vinh đi từ cái xa, cái rộng lớn đến cái gần gũi bé nhỏ bên cạnh con người:

Ngọn gió cũ, qua đêm

Luồng vào khe cửa, thốc rối tàn tro thời gian

Ta nghe buốt tim

Từ sợi tóc mới mọc

Bạc trắng

(Bài thơ tình số 15)

Hoặc là:

Khắc vào cây cổ thụ - Ta

Hình như dấu chấm, ngã qua xế chiều!

(Về ở với rừng)

Nhưng cũng lắm khi là hi vọng, dù chỉ mong manh:

Xuân về. Xuân về…

Ta cám ơn em

Đã mấy mươi năm tiệc chưa tàn cuộc

Ly rượu tình mãi mãi còn xuân

(Xuân tái sinh)

cuộc vui nào rồi cũng phải tàn, nhưng đới với Trần Thế Vinh cuộc vui vẫn còn đọng lại nơi sâu thẳm tâm hồn, khi con người chưa tắt hi vọng thì “ly rượu tình mãi mãi còn xuân”.

Từ hình ảnh mùa lũ, Trần Thế Vinh đã hướng sự suy tưởng của mình đến thân phận con người, trong bài “Cánh đồng trắng” tác giả đã sử dụng thành công những động từ nhẹ nhàng gần gũi chỉ đến cuộc sống xung quanh con người trong mùa lũ, để nêu bật cái tính “không chịu khuất” của vạn vật trước trò đùa của tạo hóa, để gửi sự tin tưởng chắc nịch của mình vào vùng đất: “Cánh cò mò đêm về đoàn viên sự sống”, “Ngọn bông súng trồi đầu thả nước”, “Thả những miếng mồi mưu sinh”…

Có khi là hình ảnh người con gái đối chọi với thiên nhiên khắc nghiệt, với cuộc đời lắm những truân chuyên:

Lao xao đồng trắng bóng thuyền

Em lo kê lại mái hiên đời mình

Lụt tràn đỏ vạt bình minh

Chia hai dòng nước

Theo tình có, không

(Mùa lụt lao xao)

Cuộc sống ở xứ đồng bưng đi ăn vào tiềm thức của người con xứ núi, khiến anh đã đôi lần xao xuyến. Bằng những hình ảnh rất đẹp và nhẹ nhàng, tác giả đã hết sức tinh tế khi viết những câu:

Ở Thanh Điền viên, chiều vơi vơi nắng ngày

Bảng lảng khói - từ bếp lửa bập bùng chái bếp

Hẹn mai hay mốt... khi bão lòng thấm mệt

Gọi cá điêu hồng lên nhả bóng trăng khuya!

(Thơ viết ở Thanh Điền viên)

Đến những vùng đất xa lạ nhưng dào dạt nghĩa tình, đâu đó xúc cảm lại trào lên. Mỗi cuộc tương ngộ là một lần thắp lửa ủ ấm lại tâm hồn, để rồi sau đó lại phải chia xa. Hợp tan vốn là chuyện tất yếu, biết nhận nhưng tác giả vẫn cảm thấy nghẹn lòng:

Thôi về nhé - Hỡi chiều qua ta đến

Sẽ dò tìm theo dấu cũ ta quen

Sẽ hẹn, như lần đầu không hẹn

Miệt đồng bưng ta nén giọt thơ buồn

(Chiều ở Si Ma Cai)

Tuy vậy, dù có đi đâu, tác giả vẫn luôn đau đáu về quê nhà, nơi có những cánh đồng hòa cùng ngọn khói bay dài theo năm tháng:

Đường trơn thác đổ, mây giăng giăng

Tây Bắc. Giang hồ mới nửa đêm trăng

Chưa hết canh hai nhớ ơi là nhớ

Dạt khói đồng bằng, rơm rạ mùa riêng...

(Tản mạn dọc đường Tây Bắc)

Kết thúc tập thơ, vẫn là sự chiêm nghiệm, và lần này là tình yêu, có lắm lúc ta cũng không hiểu nỗi, không cưỡng lại được những bất cập trong cõi riêng:

Em

Quá khứ đi về, như một dấu chân riêng

Lần theo đó

Giữa canh mưa, trú mình làm nơi chốn

Có một lần say

Ta ngửa nghiêng, lẫn lộn

Trăng hay em, thao thức suốt đêm dài...

(Theo trăng)

Khép lại tập thơ, có thể thấy Trần Thế Vinh thật “lắt léo”, dẫn dụ người đọc đến những bài thơ đầy triết lý, mang hương sắc tình yêu đằm thắm, cái khối tình đó là tình yêu con người dành cho nhau. Anh khá thành công ở lục bát, sự ngắt nhịp khéo léo đã tạo nhạc tính cho mỗi bài lục bát của mình. Bút pháp hoán dụ và hàm ngôn được tác giả sử dụng khá vững tạo sự bất ngờ cho người đọc. Có thể tạm nhận định như đã nói ở phần đầu, “Nghiệm & khổ cuối một vần thơ” như là một đợt “nghỉ giải lao” để tác giả tự “nghiệm” lại mình.

Qua tập thơ có lẽ cái “nghiệm” của tác giả đã sâu rộng hơn, triết lý lồng cài vào nhau và chắc hẳn những cái “nghiệm” đó cũng là cái “nghiệm” chung khiến nhiều người đọc suy ngẫm.

Vĩnh Thông

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác