“Trầm tích”- Trường ca bốn lần đoạt giải thưởng hạng nhất

 

(Tổ Quốc)- Với trường ca Trầm tích, Hoàng Trần Cương từng nhận được bốn giải thưởng đều hạng nhất của các tổ chức văn học: Giải nhất cuộc thi Thơ của Tuần báo Văn nghệ năm 1989-1990, Giải A của Hội Nhà văn Việt Nam, Giải thưởng Văn học viết về đề tài lực lượng trang của Bộ Quốc phòng Giải A Giải thưởng Hồ Xuân Hương của quê hương ông. Đấy do khiến tôi muốn đọc lại tập trường ca này.

“Trầm tích”- Trường ca bốn lần đoạt giải thưởng hạng nhất - ảnh 1
Một số tác phẩm của nhà thơ Hoàng Trần Cương

Trầm tích trường ca đã từng đoạt giải nhất cuộc thi thơ của Tuần báo Văn nghệ năm 1989-1990 cùng với hai bài thơ Vết rạn chân chim Dấu vết tháng ngày in trong tập năm 1991 của Hoàng Trần Cương. Trước đây anh mới chỉ cho in rải rác một số chương. Lần này anh đã cho công bố trọn vẹn trường ca Trầm tích gồm 19 chương với gần 2.000 câu thơ một tập thơ lẻ Quà tặng hành tinh gồm 45 bài. những bài anh mới viết trước lúc bản thảo được đưa đến nhà in cả những chương trước đây đã được công bố trên các sách báo, đến lần in này anh đã sửa chữa, bổ sung đáng kể cấu trúc lại theo một ý tưởng mới mỗi chương một tên riêng.

Trước khi đến với thơ, đầu những năm 1970, lúc còn người lính của binh chủng Phòng không, Hoàng Trần Cương anh đã mặt nhiều chiến trường đã viết khá nhiều truyện truyện ngắn, truyện đã đoạt giải A cuộc vận động sáng tác về lực lượng trang 1970-1972 của tạp chí Văn nghệ Quân đội. Như vậy cả hai lĩnh vực văn xuôi thơ, với gần 30 năm cầm bút, anh đã những thành công đóng góp nhất định cho văn học nước nhà.

Âm hưởng chủ đạo toát lên từ các tập thơ của Hoàng Trần Cương sự trăn trở, nỗi buồn khôn nguôi khi còn chưa báo đáp được ân nghĩa với quê hương. Người đọc như thấy anh luôn tự đặt cho mình một trách nhiệm phải làm một điều đó cho đất nước, quê hương, cho con người mảnh đất xứ Nghệ - miền Trung quê anh, suốt đời anh đau đáu kiếm tìm điều ấy. Ước vọng đó luôn chất chứa bị kìm nén lại trong anh như đá núi Trường Sơn Trầm tích nắng mưa, đến mức không còn cách nào khác tự đã thơ rồi.

Thơ Hoàng Trần Cương sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa những chất liệu, hình ảnh ngôn ngữ của đời sống, với sự đào sâu những suy tư, khát vọng sống của con người một vùng quê anh đã nặng nghĩa sinh thành. Hơn ai hết anh người hiểu rất mảnh đất miền Trung chiếc đòn gánh tre oằn trên vai mẹ suốt đời khốn khó gánh trọn hai đầu đất nước với những đợt gió Lào bỏng rát những trận quét đã từng cuốn trôi bao đồng loại, cùng những ngôi nhà, mái trường, ngõ phố từng thấm đầm bao mồ hôi, nước mắt khi cả mạng sống của con người nơi đây mới được. Phải chăng thế trách nhiệm lịch sử của càng thêm nặng nề lớn lao hơn:

Ôi quê hương

Cái đòn gánh trĩu hai đầu đất nước

(Nguồn cội- Trầm tích)

Nhưng cớ sao trời đất lại thù oán bất công đối với con người mảnh đất miền Trung quê anh đến như vậy:

Gió bão thù chi với mảnh đất này

Nối đuôi nhau xếp hàng ngang đen xì ngoài biển

Mưa giờ ngọ chưa qua gió giờ mùi đã đến

Cay đắng lắng vào quả ớt lúc còn xanh

Đất vắt kiệt mình nước mọng múi chanh

Ngẩng mặt đụng trời xanh nhức mắt

(Nguồn cội- Trầm tích)

Cái đói, cái nghèo không phải chuyện mới mẻ trong cuộc sống của những người nông dân Việt Nam, nhưng đối với những con người miền Trung bao giờ cũng dữ dằn nhức buốt tận gan ruột. Quanh năm suốt tháng cày sâu cuốc bẫm, một nắng hai sương vẫn đói, vẫn nghèo thì phải tạo hóa đã bất công?

Dằng dặc dải làng quê thưa thắt

Những vạt lúa đỏ đuôi luội mình đổ rạp

Chỏng chơ nồi cơm ngày đói khát

Tảng cháy cạy đi rồi

Còn hằn vết móng tay

Cày lên

Sưng cả đáy nồi

(Nguồn cội- Trầm tích)

Hoàng Trần Cương không ngại ngần, giấu giếm cái đói cái nghèo của quê anh. Ngược lại anh rất tự hào thẳng thắn nói ra điều ấy. Ai yêu chấp nhận anh thì phải biết rằng quê anh không phải mảnh đất mộng dễ dàng làm ăn sinh sống. Trái lại tai họa luôn ùn ùn kéo đến đè lên kiếp người. Đến nỗi câu hát dặm từ ngàn xưa cũng phải nhọc nhằn bới lên vùi xuống, sàng đi sẩy lại năm lần bảy lượt để rồi khi nghe luôn cảm thấy day dứt quặn lòng:

Miền Trung

Câu ví dặm nằm nghiêng

Trên nắng và dưới cát

Đến câu hát cũng hai lần sàng lại

Sao lọt tai rồi vẫn day dứt quanh năm...

Bao giờ em về thăm

Mảnh đất nghèo mồng tơi không kịp rớt

Lúa con gái mà gầy còm úa đỏ

Chỉ gió bão là tốt tươi như cỏ

Không ai gieo cũng mọc trắng mặt người

(Miền Trung- Trầm tích)

Miền Trung thế đó! Nếu ai không tin xin hãy một lần trải nghiệm. Sự nghiệt ngã của thiên nhiên nơi đây hàng bao đời nay càng làm lắng sâu thêm trong họ nghĩa đời, đạo người. Nhìn bề ngoài không dễ mấy ai nhận ra được nỗi u buồn sâu thẳm kết đọng sau nét mặt của người con trai miền Trung buồn như đá bị ai đó vứt ra ngoài đồng. Lầm buồn thảm đến thế cùng. Nhưng ẩn sau những khuôn mặt ấy lại những tấm lòng rất trọng đạo nghĩa tình. Họ sẵn sàng xả thân sự sống còn của quê hương đất nước cả khi địch họa lẫn lúc thiên tai. Trận lụt vừa qua đã tràn ngập miền Trung không khỏi làm nhà thơ đau đớn anh đã từng thức trắng đêm khi nhìn thấy con mình đang quật nhau với lũ. Hình như cứ mỗi lần đến miền Trung một nhát dao chích vào làm tim anh nhói đau. Bài thơ Đầy tràn miền Trung (Tuần báo Văn nghệ) bài Lộ thiên (Báo QĐND) mới in gần đây nỗi niềm riêng của một người con miền Trung:

Cái lũ lụt cứ tống vào tôi tất

Giông bão ơi cứ nhè tôi mà quật...

Miễn là xả đều khắp ngả

Miễn là buông thả miền Trung...

Tội tình chi giông lại gồng theo bão

Tươm tướp ngày đêm đánh đáo mảnh đất nghèo...

Tôi là con của Mẹ

Tôi đầy tràn miền Trung

(Đầy tràn miền Trung)

Chỉ những người nặng nghĩa sinh thành với miền Trung như Hoàng Trần Cương mới thể viết được những câu thơ cháy lòng đến như vậy. Cùng với Trầm tích, những bài thơ gần đây nhất của anh hình tượng người Mẹ miền Trung luôn nổi lên giữa bức tranh hoành tráng như hiện thân của sự gian khổ, hy sinh suốt đời, nhưng vẫn một mực thương chồng thương con. Đọc những vần thơ miền Trung của Hoàng Trần Cương ta thấy dường như những người mẹ đây sinh ra để gánh chịu thiệt thòi, mất mát hy sinh một cách âm thầm, không một lời oán trách, kêu than. Mẹ cứ sống như những đã cần sống cho cõi đời này. Khi lụt ập vào nhà thì:

Treo vội con lên chạn

Mẹ xắn quần đi giằng lại cái xanh đồng sứt quai

Theo nước lũ nhoai ra ngoài ngõ

Rồi một tay chắn gió

Mẹ ngồi nhen lửa dưới mưa

Nuôi tôi giữa nước và trời

(Cật tre- Trầm tích)

Thật cảm động đáng khâm phục biết bao những người mẹ vừa quả cảm, không sợ lụt thiên tai, nhưng lại vừa biết chắt chiu, quý trọng những cái do chính bàn tay lao động của mình làm ra, tiết kiệm đến mức:

Cái nón mê mẹ đội nửa đời người

Khi chóp thủng lại trùm lên vại nhút

(Thóc giống- Trầm tích)

Bằng những việc làm thường nhật, mẹ đã nhóm lên trong tâm khảm những đứa con yêu của mình đạo uống nước nhớ nguồn. Hơn ai hết, mẹ hiểu rằng con người muốn đi xa bay cao thì phải bám chắc vào cội rễ, không bao giờ được quên nơi chôn rau cắt rốn những người đã nặng công sinh thành:

Một năm đôi lần về viếng mộ tổ tiên

Đốt nén hương thơm khấn cầu làng cũ

(Những viên đá lẻ- Trầm tích)

càng không bao giờ được đùa giỡn, mỉa mai hay quay lưng lại với quá khứ đói nghèo, lam đau thương của chính mình của đồng bào mình.Chính quá khứ ấy đã hun đúc tạo dựng mẹ lòng vị tha sự nhân hậu đối với con người trong những khi khốn khó. Thiết nghĩ những lời nhắn gửi của nhà thơ đối với những ai đang sống cho hôm nay cho mai sau không bao giờ thừa:

Thôi thì đành sống chung với lũ

Thôi thì đành nhịn nhường nhau mà dỡ rào mở lối

Sông có phận sông

Người có cõi người

Mắc mớ chi mà tính toan hoán đổi

Mắc mớ chi mà sấp mặt tối mày

(Tảo mộ- Trầm tích)

Mẹ cần mẫn như con ong cái kiến, xuyên thời gian xuyên cả không gian. Với mẹ dường như chẳng cái khó khăn, cực nhọc đã bao giờ mẹ sống cho riêng mình. Tấm lòng vị tha hỷ xả như Đức Phật từ bi của mẹ đối với con, với đời, thì hy sinh cả thân mình cũng chẳng thấm vào đâu:

Đói khát chen nhau gầy rạc lời ru

Nuốt lống ngày vui có giấc mơ năm ngoái

(Những viên đá lẻ- Trầm tích)

Những người mẹ như thế ắt phải sinh ra những đứa con vác gươm múa khắp làng từ tuổi ấu thơ, để rồi khi lớn lên rong ruổi khắp rừng sâu núi thẳm, sợ chi thiên tai hay địch họa.

“Trầm tích”- Trường ca bốn lần đoạt giải thưởng hạng nhất - ảnh 2
Nhà thơ Hoàng Trần Cương
 

Người lính cũng một chủ đề nổi trội trong suốt cả 4 tập thơ cả chặng đường gần 30 năm cầm bút của Hoàng Trần Cương. Anh đã cảm thông sâu sắc sẻ chia với những mất mát hy sinh của họ. Những người lính ra đi hết thời trai trẻ đã không thể trở về hoặc trở về thì người yêu đã đi lấy chồng. Nhưng nào các anh oán trách, đòi hỏi đâu. Ngược lại họ chỉ bần thần ngơ ngác thầm thán phục, cảm ơn đến mức không thể ngờ được rằng người yêu của mình vẫn một lòng thủy chung chờ đợi. Đọc đoạn thơ này ta cảm giác nhà thơ hoàn toàn bất lực trước tấm lòng thủy chung chờ đợi của người yêu, đến mức anh không còn cách nào khác để cho nguồn mạch xúc cảm tự nhiên tuôn trào chỉ thể buông những câu thơ xuất thần đến như vậy:

Từ mặt trận trở về

Không thể ngờ em còn đứng đợi

Tóc em xanh như trời

Tôi ngơ ngác đi qua

(Mưa ốc đảo- Trầm tích)

Thơ Hoàng Trần Cương mỗi nơi, mỗi lúc một tâm trạng, cảnh huống riêng biệt độc đáo không hề bị lặp lại. Hình ảnh người mẹ ăn sâu vào tâm trí nhà thơ hầu hết các chương trong Trầm tích không một tập thơ nào anh không nhắc đến. Mẹ chính điểm tựa cho những người con cất cánh bay xa, bay cao cũng đích cuối cùng để con hướng tới. Hình tượng người Mẹ trong thơ Hoàng Trần Cương chính người Mẹ miền Trung trong những ngày tháng gian nan vất vả với những chiều kích cụ thể mới mẻ.

Hoàng Trần Cương đã những phát hiện táo bạo trong việc tạo dựng hình tượng cũng như cách sử dụng ngôn ngữ thơ. Hình tượng ngôn ngữ thơ anh mộc mạc chân thành, tự nhiên tuôn chảy như dòng đời, kiếp người, thế đằm thắm, da diết khi quặn đau cháy lòng. Những trải nghiệm nhân trong cuộc sống thường nhật của nhà thơ, bản thân đã tạo nên một phần máu thịt trong anh. Do vậy thơ anh sự thăng hoa của những nỗi đau quằn quại, những khoảnh khắc giằng tâm trạng tưởng như ngoài thơ ra không thể diễn tả hết được. Anh không câu nệ nhiều đến câu chữ, vần điệu luôn tôn trọng tiếng nói cuối cùng của ngôn ngữ đời sống. Thơ Hoàng Trần Cương trọng mạch nguồn tự nhiên, hơn vần điệu, nên ít bay bổng điệu đà hay triết vòng vo như thơ của một số người khác. Chính thế lợm như đá núi miền Trung Trầm tích những nỗi đau rớm máu của kiếp người, nhiều đoạn đọc lên nghe đến sởn gai ốc:

Mặt anh buồn như đá

Ai vứt ra ngoài đồng

(Đợi- Dấu vết tháng ngày)

Hay:
Mỗi ngày tôi để lại một vạt lo toan, một miền khắc khoải

Nơi lưỡi cày vừa mới đi qua

Chiều đứng lặng nghe tiếng người cuối bãi

Trăng lại treo mơ mộng trước hiên nhà

(Dấu vết tháng ngày- Quà tặng hành tinh)

Bạn đọc tìm đến thơ Hoàng Trần Cương tìm đến những con người, sự việc, những tâm trạng, cảnh huống rất thực phía sau đấy những số phận trớ trêu nghiệt ngã của bao kiếp người, cuộc vật lộn hóa sinh không chỉ để tồn tại còn để ngẩng cao đầu làm NGƯỜI. người đã từng bước ra từ cuộc vật lộn ấy, nên thơ anh nhân chứng cho sự việc con người thực đã sinh ra lớn lên nơi mảnh đất đau thương kiên cường - miền Trung.

Cho xuất bản Trầm tích Quà tặng hành tinh lần này cùng với một số bài thơ viết lẻ về đề tài miền Trung, Hoàng Trần Cương đã giải quyết một cách dứt khoát vấn đề về mối quan hệ của thơ ca với những bài toán kinh tế công việc của nhà quản lý. Không hề sự đối lập tuyệt đối nào giữa các lĩnh vực đó, chỉ độ chín muồi của tài năng nghệ thuật những rung động thẩm mỹ sâu sắc được cất lên từ chiều sâu nhân bản của người nghệ sỹ trước những niềm vui nỗi đau của đồng loại.

Mặt khác thơ anh cũng đã góp phần giải quyết một vấn đề thực tiễn của đời sống văn học nước ta hiện nay. Những tác động của kinh tế thị trường làm cho công chúng không còn thì giờ tâm huyết để đến với thơ ca nữa không? Theo chúng tôi thực chất vấn đề chất lượng thơ ca hôm nay không đáp ứng được nhu cầu thưởng thức của các thượng đế khó tính. không đủ sức níu kéo công chúng lại phía mình, cũng giống như nhiều loại hình nghệ thuật khác nước ta hiện nay. Lịch sử phát triển của văn học nghệ thuật đã chứng minh rằng mọi thời đại chỉ những tác phẩm văn học nghệ thuật dở, chứ không hề công chúng tồi. Điểm cuối cùng liệu nền kinh tế thị trường phải mảnh đất tốt cho trường ca hiện đại phát sinh phát triển không hay chính kẻ đào mồ chôn cảm hứng sáng tạo của nghệ sỹ đối với thể loại này như một số người đã nghĩ? Tất cả những điều tôi vừa phân tích trên chính những yếu tố tạo nên những giá trị Trầm tích của thơ Hoàng Trần Cương không phải ai cũng thể có, nhưng có lẽ lại ít được quan tâm đúng mức.

Đỗ Ngọc Yên

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác