Tình người trong truyện ngắn của Tống Ngọc Hân

 

(Tổ Quốc)- Tống Ngọc Hân là nhà văn thuộc thế hế 7x (1976). Chị được nhắc đến với những tác phẩm thành công về đề tài miền núi. Chất văn của chị đẹp, quyến rũ, mê hoặc hệt như vẻ đẹp tự nhiên, thuần khiết, khỏe khoắn, rạng rỡ của các thiếu nữ dân tộc thiểu số. Không gian văn hóa của cuộc sống, thiên nhiên miền sơn cước, những vui, buồn, nghèo khổ, cay đắng... trong Tam không cứ hiển hiện ám ảnh day dứt, mở ra những góc nhìn mới về tình người giữa thời thế nhá nhem sáng tối.

Nhắc đến văn xuôi dân tộc thiểu số, văn học viết về miền núi chúng ta không thể không nhắc đến những cây bút đã để lại nhiều dấu ấn như Tô Hoài, Ma Văn Kháng, Nguyên Ngọc, Vi Hồng, Mã A Lềnh, Nguyễn Quang Sáng, Mã Thế Vinh, Hà Thị Cẩm Anh, Cao Duy Sơn, Inrasara, Phạm Duy Nghĩa, Hlinh Niê, Niê Thanh Mai... Đề tài văn học các dân tộc thiểu số phong phú, đa dạng, xoay quanh cuộc sống và con người miền núi. Ngoài những đề tài viết về chiến tranh, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội miền Bắc, các nhà văn miêu tả hiện thực khắc nghiệt, những biến chuyển, đổi thay theo guồng máy cơ chế thị trường cũng như hướng giải thoát đói nghèo, xóa bỏ luật tục lạc hậu, mê tín, đồng thời qua đó gửi gắm lòng tự hào, trân quý trước truyền thống văn hóa lâu đời và sự cảm thông, chia sẻ với cuộc sống của người dân miền núi. Trong dòng chảy của văn học các dân tộc thiểu số, văn xuôi của Tống Ngọc Hân đã khẳng định nét riêng, sức hấp dẫn riêng.

Tình người trong truyện ngắn của Tống Ngọc Hân - ảnh 1
Nhà văn Tống Ngọc Hân (ảnh nvcc)

Tam không đa phần viết về cuộc sống người dân tộc miền núi phía Bắc. Tống Ngọc Hân tái hiện những khó khăn, đói khổ, chật vật, bênh tật, những tồn tại của các hủ tục lạc hậu, những thiệt thòi của người phụ nữ trong cuộc sống hôn nhân... nơi vùng đất khắc nghiệt, khô cằn: “...đá thì sẵn còn đất hiếm lắm” [8] qua bức tranh đời sống sinh hoạt hằng ngày gần gũi, bình dị.

Cái đói, cái nghèo xuất hiện khá nhiều trong các tác phẩm viết về đề tài miền núi. Chủ đề này cũng được Tống Ngọc Hân khai thác, một mặt phản ánh đúng thực trạng cuộc sống, mặt khác, thể hiện khá rõ số phận nghiệt ngã, sự tồn tại chông chênh của người dân vùng cao. Cái nghèo như là số mệnh truyền kiếp của người dân nơi đây. Đường vào bản cheo leo, gập ghềnh, phức tạp. Mọi trợ cấp, mọi tuyên truyền cũng bị từ chối bởi: “Đường vào Sài Cang là một con dốc không có tên vì xem ra chưa có cái tên nào xứng với nó, vừa cao, vừa dài, vừa hẹp, lại vừa quanh co gấp khúc, một bên núi cao, một bên vực sâu, khúc trơn trượt, lầy lội, khúc phơi đá gan trâu trơ lì, khúc loi choi đá sắc. Con chim lên Sài Cang phải bay chuyền, con ngựa lên Sài Cang phải nghỉ mấy chặng. Chân dốc là một con suối lớn, lổng chổng đá mùa khô cạn và ngàu đục gầm gào mùa mưa lũ. Đỉnh dốc là trời xanh, là mây mù, là túi gió, là chảo nắng” (82). Ở đây, cái ăn, cái mặc thiếu thốn xoay quanh, vần vũ. Ngay cả dép rách cũng không có mà đi. Tất được thay bằng những giẻ rách bó vào chân. Áo mỏng tang, quần không có. Củi chỉ đủ sưởi chút phần trước ngực, sau lưng thì buốt nhức. Nhà cửa trống trải tứ phía: Ba gian nhà vách nứa mái tranh chênh vênh lưng núi, bốn bề gió lộng. Nhà chả có đồ đạc gì giá trị ngoài hai cái giường tre Chỉn tự đóng và cái nồi nấu rượu bố mẹ cho khi ra ở riêng. Đứa trai lên năm thì ngồi xổm, rụt cổ, tí tí lại thè lưỡi liếm hai cái môi nứt nẻ, rỉ máu. Nó bảo người ấm rồi nhưng trong bụng vẫn lạnh. Chỉn biết là nó đói. Thường, những ngày ấm áp, tạnh ráo thì nấu cơm ăn hai bữa sáng và tối để còn đi nương. Kể từ hôm tuyết rơi trên núi, cái giá buốt tràn về bản, không đi làm được nên bỏ bữa sáng, ăn bữa trưa” (60-61). Hay như đoạn văn trực tả cảnh ăn uống của những đứa trẻ giữa ngày đông giá rét đã khoe hết, bày hết mọi ngóc ngách của sự thiếu thốn: Đứa gái lớn bảy tuổi, xúc nhoay nhoáy, thìa nào ra thìa ấy, đưa vào mồm nhanh như thể nuốt chửng. Đứa trai năm tuổi còn đái dầm nên chỉ có áo mà không có quần, nhưng lại biết xấu hổ, cứ cúi xuống, chổng mông xúc một thìa vơi lại vội vàng đứng lên ngay ngắn, rồi mới cho vào mồm. Một tay cầm thìa, tay giữ vạt áo chàm, che chỗ ấy. Đứa gái lên bốn, mũi thò lò vừa ăn vừa gà gật vì bị gọi dậy sớm quá. Áo nó vấy đầy cơm canh, phần dưới từ đùi trở xuống cũng bám đầy cơm. Cũng như anh, nó chả có quần mặc, nhưng chưa biết xấu hổ, cứ hồn nhiên khoe ra mọi sản phẩm của ông tạo. Mùa đông, mưa lướt thướt cả tháng không ngừng, củi đun còn thiếu, lấy đâu củi mà sấy quần áo. Bao than cuối cùng ông Sùng không cho động vào, để sáng nay cõng lên chợ. Đứa gái ba tuổi cũng tô hô, cầm thìa lanh chanh ngồi sụp xuống, vạt áo nó sắp trùm lấy tô cơm chung. Nó xúc đi xúc lại mấy lần mới được đầy một thìa cơm nhão, ngửa cổ, há to miệng đút vào khá gọn. Thằng bé tuổi rưỡi tay cầm cán, tay điều chỉnh hướng thìa, đưa thìa cơm vơi vào miệng. Một phần ba từ chỗ cơm ít ỏi lại rơi ra đùi nó. Cũng như chị, nó ở truồng, cái chim bằng quả ớt gió tím lịm vì rét” (5-6). Đoạn văn trực tả hết sức tỉ mỉ. Dường như cái đói cái rét liên tục diễn ra từ năm này sang năm khác. Một gia đình đông con kéo theo sự khốn khó, thiếu thốn trăm thứ. Bọn trẻ con quen thuộc, không còn lạ lẫm gì. Phải chăng bản năng sống của những đứa trẻ được tôi luyện thêm bởi cái rét, cái đói thường xuyên như thế? Chúng tự bươn chải, tự đứng dậy, tự phục vụ nhu cầu thiết thực của mình. Xét cho cùng, người lớn có muốn lo cũng không lo nổi, muốn gánh cũng không gánh nổi.

Đặc tả hiện thực nghèo khó, môi trường sống khắc nghiệt, trang văn của Tống Ngọc Hân cứ chênh chao, day dứt chúng ta trước những thân phận hết sức hồn nhiên và đầy bản năng. Đối mặt với trắc trở nhưng tâm hồn của họ vẫn thánh thiện, tình người thao thiết, mãnh liệt. Ai nói, nghèo đói thì biến chất, tha hóa? Tống Ngọc Hân vẫn thấy trong đáy sâu cái tình người bàng bạc, neo đậu. Ba mươi nghìn chỉ đủ phần ăn cho hai người nạp đủ năng lượng chng chọi cái đói của bữa trưa lạnh rét buốt xương. Ông Sùng, Páo, Dâu cứ nhường nhịn, đùn đẩy nhau mãi. Bát phở cứ trút qua trút lại (Đợi mùa nắng ấm). Theo phong tục tập quán của người Mông, may vá, thêu thùa là căn cứ để đánh giá tài năng và vẻ đẹp của người phụ nữ. Ngoài áo dài, tạp dề, xà cạp... dây thắt lưng thêu hoa văn tỉ mỉ, tinh xảo cũng được xem là kỉ vật trong ngày cưới. Thắt lưng này vừa làm tôn dáng đẹp vừa thể hiện sự “khéo léo, đảm đang” của cô gái. Páo cũng đã từng say mê Dâu vì những đường thêu tinh tế này. Nói như thế, việc bán đi cái thắt lưng là điều khó có thể xảy ra. Nhưng trong hoàn cảnh cái đói, cái nghèo bủa vây, con người ta phải bán đi những thứ quan trọng nhất của đời mình. Dâu bán đi để đổi lấy cái tình mẹ chồng nàng dâu, cái tình cao cả giữa người với người. Có thể nói, cái thắt lưng không chỉ là thước đo giá trị của người phụ nữ mà nó còn là vật chứng của giá trị tinh thần, giá trị văn hóa vật chất truyền thống của người Mông.

Ở đời, cái đẹp, cái thật thà không bao giờ tàn lụi. Nơi người dân quê có thể thiếu ăn thiếu mặc nhưng trong trái tim họ vẫn dạt dào yêu thương, nồng hậu, đầy vị tha. Sự giản dị, chân thành, bộc trực, ngay thẳng, bao dung, giàu lòng trắc ẩn của họ làm nên nét riêng của người dân tộc miền núi trong việc đối nhân xử thế. Họ bỏ qua lỗi lầm của tên chủ thầu đã làm họ điêu đứng, khổ sở vì cái nhà văn hóa mới xây hơn một năm đã sập. Họ vẫn cứu vị giáo sư ích kỉ, cá nhân, chỉ biết lấy lợi ích cá nhân làm trọng, luôn đề cao thuyết tam không (Tam không). Họ sẵn sàng bỏ qua những lỗi lầm, đắng cay, tủi nhục của hơn 50 năm trước, bỏ qua sự miệt thị, coi thường của người thành phố để đổi lấy tình yêu cuối mùa ăm ắp nồng (Mắt thần). Họ quên cái đói, quên bệnh tật chỉ vì khát khao gìn giữ bản sắc văn hóa của dân tộc mình. Ông Dừn mặc kệ bệnh nan y, Lang bà bỏ qua những ánh mắt soi mói, tò mò, quở trách cũng chỉ quyết tâm bảo vệ, gìn giữ, chứng minh giá trị và sức ảnh hưởng của sình ca (Sình ca). Lòng tự hào về truyền thống văn hóa tốt đẹp này chính là mấu chốt nhân thêm tình yêu quê hương và ý thức tự nuôi dưỡng tâm hồn. Sình ca là cuộc trở về cội nguồn, nuôi dưỡng những nét đẹp trong ứng xử giữa con người với nhau.

Đói ăn đói mặc và đói chữ khiến người miền núi cứ như tơ vò không bứt ra được tư tưởng lỗi thời, lầm lạc, vì thế, cuộc sống cứ rơi vào khoảng tối bể dâu đớn đau, lầm than, tình yêu và hạnh phúc mong manh, dễ vỡ. Hay nói cách khác, đói, nghèo, bệnh tật... cũng kéo theo sự tù đọng của ý thức. Ngoài vấn đề giữ gìn, tôn vinh những câu hát đối đáp mượt mà (Sình ca), kỉ vật ngày cưới (Đợi mùa nắng ấm)... Tống Ngọc Hân còn bàn đến những hủ tục lạc hậu vẫn đang tồn tại và đè nén lên thân phận con người. Tình yêu đôi lứa bị ngăn cách, dở dang bởi những cái bẫy mê tín dị đoan. Ở truyện Con đường chưa đi, tác giả bày tỏ thái độ phê phán trước những tập tục hết sức cực đoan. Chuyện bói toán, xem tuổi tác giữa các cặp đôi trước khi có ý định lấy nhau khiến họ rơi vào hoàn cảnh nghiệt ngã, thậm chí hủy hoại cả cuộc đời. Đêm Dín lấy vợ là đêm Dín vĩnh viễn mất một con mắt bởi cái hủ tục đã ăn sâu vào nếp nghĩ của người Mông: “Chẳng biết từ bao giờ, người Mông vùng này lại sinh ra cái thói kiêng kị là không cưới con dâu tuổi hổ cho con trai tuổi lợn, tuổi khỉ” (55-56). Những luật tục ấy vô tình giáng tai ương, bất hạnh cho chính con cái. Nhưng nó không đơn giản gì để bỏ đi. Có chăng chỉ chọn một con đường khác, hướng khác mà thôi. Sủi cũng thế, dù đã được báo trước nhưng vẫn bất tỉnh ngay khi thấy những cảnh tượng ghê rợn ngay trong buồng ngủ của hai vợ chồng. Tống Ngọc Hân đã nhận ra cuộc chiến giữa cái lạc hậu và cái tiến bộ là một hành trình dai dẳng, nan giải: “Cuộc chiến đấu giữa con người với tập tục mà thần linh và tổ tiên quy ước, thật không dễ dàng” (55).

Tập tục tảo hôn không xa lạ gì với người dân tộc. Sài Cang, nơi sâu hun hút, cheo leo, từ chối dấu vết mọi phương tiện, ngoại trừ dấu chân người và chân ngựa, cũng đồng thời từ chối mọi nếp sống văn minh, tiến bộ. “Cứ một mùa xuân, Sài Cang lại có đến năm, sáu đám tảo hôn” (87). Ở đây “Chồng chồng vợ vợ, thông gia chồng chéo, quẩn quanh có trăm nóc nhà, rối tinh rối mù” (85). Mười ba tuổi, cái tuổi chưa tận hưởng hết hồn nhiên, tinh nghịch tuổi thơ đã phải sớm lo lắng cho cuộc sống gia đình. Do vậy, những đau khổ, mất mát đến với các em nữ cũng là điều dễ hiểu khi còn quá ít kinh nghiệm, cơ thể chưa phát triển đầy đủ. Nơi miền núi này, Mười ba mà có ai hỏi cũng gả tạm được rồi. Còn sau đấy, chúng mày muốn mưa, muốn nắng thế nào cũng mặc. Như con Phấy nhà bên cạnh kia, cũng mười lăm tuổi lấy chồng. Đêm, con thơ khóc, thằng chồng đang tuổi ăn tuổi ngủ bực mình, đạp cho mấy phát. Hai mẹ con lăn xuống đất. Đạp một lần quen ngay. Bây giờ, ngay cả ban ngày, hễ con khóc là mẹ ăn đòn. Ai bảo không biết dỗ con? Có dạo, nó làm thế nào mà con Phấy ngã, sảy cái thai ba tháng. Giờ thì không phải lo kế hoạch gì nữa. Cứ chửa là sảy, người xanh như dải rêu suối” (88). Mắn cũng vậy, bỏ cái chữ đi lấy chồng. Đẻ ra đứa con bị bệnh bạch tạng nhưng không biết mà cứ cho uống lá lay, cúng bái khiến đứa trẻ suýt mất mạng. Chính suy nghĩ lạc hậu, mê tín dị đoan đã giáng nỗi đau thân phận xuống người phụ nữ và cướp đi nụ cười và sự hồn nhiên trên gương mặt còn non choẹt, thơm mùi sữa của những đứa trẻ (Dải vải chàm bịt mắt). Như thế, người phụ nữ là nạn nhân của định kiến, của tập tục lạc hậu. Họ không có quyền lựa chọn tình yêu và hôn nhân. Phải chịu cảnh lệ thuộc, bị động, thủ phận, chứ chưa có sự phản kháng, đấu tranh quyết liệt để giải thoát. Sủi (trong truyện Con đường chưa đi) và Mắn (trong truyện Dải vải chàm bịt mắt), khát khao được sống đúng cái nhân vị đàn bà nhưng cũng không thể giải thoát được vòng tròn khép kín của những tư tưởng cổ hủ, mê tín. Hiện lên trên bức tranh bi kịch ấy, họ vẫn là những người phụ nữ cam chịu, chấp nhận. Dường như họ chỉ có tình yêu thương với chồng với con là niềm vui mỗi ngày. Khi đẩy thân phận người phụ nữ giữa mênh mông tập tục đó, truyện ngắn của Tống Ngọc Hân không chỉ là tiếng nói phê phán, bài trừ hủ tục mà còn bày tỏ sự đồng cảm với số phận nghiệt ngã, ngang trái của người phụ nữ miền núi.

Trong tập truyện, nhân vật trí thức miền núi xuất hiện cũng đưa đến cái nhìn đa dạng, nhiều chiều trước cuộc sống. Ông Din trong Dải vải chàm bịt mắt là một trí thức miền núi. Người miền núi “cũ kĩ” nhưng họ biết tìm đến lối sống tiến bộ, văn minh. Ông Din hiểu hậu quả của tập tục tảo hôn “là phạm pháp, là có tội với tổ tiên” (101) nhưng trước thành trì tư tưởng quá vững chắc của người rẻo cao, những ngăn cản của ông cũng chỉ là lời nói vô nghĩa: “Dào ôi, bác nhiều chữ nên rắc rối quá. Chúng nó tự nguyện lấy nhau chứ có ép uổng gì đâu. Bản ta, bản trên, bản dưới, cũng đầy rẫy chuyện ấy. Cháu lấy cô còn được nữa là anh với em”. Em dâu phụ họa theo. “Phải đấy, thằng Vương với con Mắn cùng máu thì càng thương nhau chứ sao. Anh em trai làm thông gia với nhau thì tốt quá rồi còn gì. Đợi mẹ con cái Mắn khỏi bệnh đã, rồi hai nhà chung lợn, chung rượu vào, ăn mừng thôi” (101). Tuy ông Din chưa phải là nhân vật trí thức miền núi điển hình song những dằn vặt, trở trăn của ông đã phần nào chứng minh đang có sự thay đổi, chuyển biến tư tưởng, hướng về cái mới, vượt mọi rào cản của luật tục, thoát khỏi lề thói thâm căn cố đế nơi vùng đất xa xôi này.

Bên cạnh đề tài về cuộc sống và con người miền núi, tác giả còn xoáy vào đề tài thế sự. Trước sự xâm nhập của kinh tế thị trường, cuộc sống làng quê ngày một thay đổi. Đời sống tối tăm, nghèo nàn, khắc nghiệt được cởi trói. Tuy vậy, ngoài việc đưa đến những khởi sắc, ánh sáng mới, ít nhiều thay đổi những nếp nghĩ cổ hủ, mê tín, tập tục lạc hậu còn mang vào làng những vỉa tầng văn hóa khác, rất mốt, thời thượng, xô bồ, nhốn nháo. Đời sống làng vì thế đa dạng hơn, méo mó hơn bởi sự tạp nham, hỗn độn: “Chục năm trở lại đây, lao động dư thừa, ruộng đất ít, việc làm chả có, mạnh thằng nào thằng ấy sống, khỏe con nào, con ấy chạy. Cái bọn gái học hết bảy, tám, thích ăn chơi hơn lao động thì chỉ có đi làm gái (33). Hoặc khi làng có đám cưới, nhạc bốc mạnh xập xình, trai thanh nữ tú “nhảy nhót loạn xạ”; đám đàn ông còn tổ chức hội “tổ tôm, tam cúc, tiến lên, xóc đĩa thâu đêm suốt sáng” (32), cãi vã, to tiếng rôm rả hơn ngày thường. Bức tranh làng quê thanh bình, yên ả chỉ còn lại trong nỗi nhớ, ký ức, trong những bài văn tưởng tượng của cậu bé đam mê học văn.

Nền kinh tế thị trường tác động khiến nông thôn rơi vào bi kịch đô thị hóa, nếp sống, nếp nghĩ thay đổi, thật giả lẫn lộn. Như trong truyện Tam không, một vị giáo sư sống giàu sang giữa làng quê nghèo yên vị, bằng lòng với thuyết tam không: không nhìn, không nghe, không thấy. Đấy là kiểu hành xử của một kẻ hẹp hòi, thờ ơ, ích kỉ, chỉ nghĩ đến lợi ích cá nhân, không quan tâm và giúp đỡ ai. Chứ không phải là cách hành xử của kẻ đắc đạo: “Đạo Phật thâm thúy chứ đâu có nông nổi như mấy bác trưởng giả. Giả câm giả điếc trước nhân tình thế thái, trước thống khổ của đồng loại mà lại cho rằng mình đắc đạo tu tập” (189-190). Hay ở truyện Góc khuất của làng, hiện lên một khu vườn quanh năm hoa trái thơm mát, đủ đầy, chim chóc, khỉ hoang kéo nhau về, người mua tíu tít, tấp nập. Nhưng đằng sau bộ mặt trù phú ấy là sự ngắn cũn cỡn về tình người, về lối sống ích kỉ, thờ ơ, vô cảm, vô tâm đến mức tàn nhẫn. Nơi ấy, tính gia trưởng, tính chuyên quyền vẫn còn hằn sâu. Mọi người trong gia đình đều phải cam chịu, chấp nhận, phục tùng mệnh lệnh của ông Tư. Nơi ấy, trái tim con người lạnh giá đến mức sẵn sàng giành lấy miếng ngon từ khẩu phần của người bệnh để nuôi nhân ngãi; lạnh lùng, dửng dưng trước cái chết của người thân, xem như đã đến lúc phải chết; thú ăn tươi động vật hoang dã không một chút tanh lợm... Viết về góc khuất ấy, Tống Ngọc Hân báo động, cảnh tỉnh con người trước lối sống hạn hẹp, lệch lạc, bất nhân, từ đó, tự mình gìn giữ sợi tình thường trực trong thăm thẳm cõi lòng, luôn biết chia sẻ, thông cảm, yêu thương đồng loại. Chỉ có tâm đẹp, lối sống thánh thiện, con người mới lập được hồng phước cho mình. Đó cũng là lý do vì sao truyện Đom đóm vào nhà được tác giả hướng theo luật “nhân quả báo ứng”. Nếu sát sinh nhiều trong đời trước thì kiếp này sẽ ốm đau và đoản mệnh. Tâm hướng thiện mới hóa giải được kiếp nạn này. Trong truyện, ông chồng chết vì bị bệnh lạ quái ác. Khi đầu thai làm con đom đóm cũng bị mấy phen “dùi” lỗ vào cái bụng. Còn người vợ, từ chỗ không sát sinh cũng trở thành kẻ sát sinh vì “bàn tay cô cũng đã quen với sự tước đoạt”. Hơi hướm sắc màu huyền thoại và quan điểm của Phật giáo đã đẩy ý nghĩa của truyện cao hơn, con người càng thêm dằn vặt, trăn trở trước oan oan tương báo, nghiệp chướng luân hồi.

Sự va chạm giữa cái mới và cái cũ đã phác họa bức tranh làng nham nhở giữa cái xấu - cái tốt, giữa cái thiện - cái ác. Hiện thực cuộc sống vừa yên bình vừa xáo động này chính là hệ quả tất yếu mà tất cả làng quê đều phải gánh chịu trước quá trình mở cửa hội nhập của đất nước.

Như vậy, Tam không có sự nới rộng về đề tài. Ngoài những đề tài quen thuộc như xóa đói giảm nghèo, thất học, nạn tảo hôn, tư tưởng cổ hủ, mê tín... của người dân vùng rẻo cao, chị còn cho chúng ta thấy sự vận động, chuyển dịch chưa triệt để của làng quê trước tác động của kinh tế thị trường. Cơn lốc đô thị hóa đến nông thôn ít nhiều phá vỡ, khuấy đảo lối sống, văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc miền núi.

Truyện ngắn của Tống Ngọc Hân vừa đậm bản sắc vùng miền vừa có sự đổi mới, cách tân. Có truyện sử dụng cốt truyện đơn tuyến và có truyện sử dụng cốt truyện đa tuyến; thời gian trần thuật lệch pha với thời gian cốt truyện; tạo được những tình huống truyện gay cấn, hấp dẫn; phá vỡ kiểu thời gian truyến tính; nhiều chi tiết, sự kiện đan xen; quan hệ giữa các nhân vật phức tạp; nhiều truyện đã bứt khỏi kiểu kết thúc có hậu, kết thúc theo kiểu mở, khơi gợi tính đồng sáng tạo; đưa đến cái nhìn đa dạng hơn, phong phú hơn về đời sống cũng như khám phá những ray rứt trong thẳm sâu trái lòng của người dân vùng cao. Tống Ngọc Hân còn rất dụng công về mặt câu chữ, đảm bảo sắc thái vùng miền. Ví như cách vận dụng biện pháp so sánh. Vế so sánh thường rất quen thuộc, gần gũi với tư duy, lối sống, cách cảm, cách nghĩ của người dân nơi đây. (“Sau lễ hội quét làng đuổi ma, cái rét như cũng theo con ma chạy về núi”; “Hai đứa giờ đã như hai cây sa mộc đứng ở bìa nương, không thể đến gần nhau hơn được nữa”; “Từ ngày không trò truyện với Hờ nữa, những câu hỏi Chỉn để dành cho Hờ cứ chất cao lên, cao lên như núi”; “Cô vào nhà, đã thấy cái người say tình, bi lụy tình cũ đang nằm im trên giường như nằm trên tảng đá ngoài suối”; “Giọng Vương như tiếng suối gần, ào ạt, ào ạt, vội vã. Toàn những lời yêu thương, nhớ nhung. Nước mắt Mắn ứa ra. Tình thương yêu, nếu được xem như ngô lúa, vải vóc, của cải, thì Mắn có bao nhiêu của cải quý giá cũng sẽ cho anh Vương hết thôi”; “Tiếng bà như tiếng gió rít qua rừng nứa”; “Cái sắc xanh như người đàn bà đương sức, cứ ưỡn cái ngực hừng hực, phây phây vào lưng núi mà mài mà miết”). Yếu tố so sánh sử dụng trong tập truyện không nhiều nhưng giàu liên tưởng, ví von, có sức lay động, phù hợp với lối sống mộc mạc, dung dị, đậm chất miền núi. Giọng văn vừa mượt vừa sắc, vừa tình cảm vừa lạnh lùng, hôn phối lối kể chuyện vừa hiện thực vừa lãng mạn, vừa truyền thống vừa hiện đại, hấp dẫn, nhiều ám gợi, nhiều chiêm nghiệm.

Với những điều luận bàn trên, Tam không là tập truyện đáng đọc. Trân quý, gìn giữ, phát huy bản sắc truyền thống cũng như nâng niu tình người giữa hiện thực cuộc sống còn nhiều mớ trắng mớ đen trong tập truyện ngắn này là thông điệp mà Tống Ngọc Hân muốn gửi gắm đến người đọc. Không phải truyện nào cũng đặc sắc, đạt đến độ chín nhất định, nhưng với tập Tam không, chị đã ít nhiều thể hiện được bản sắc dân tộc cũng như vẻ đẹp riêng của con người và cuộc sống nơi rẻo cao.

Hoàng Thụy Anh

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác