Tình hình trao giải và những so sánh bước đầu (2)

(Toquoc)- Dù đã được nhắc đến rất nhiều, nhưng việc đặt lại vấn đề ý nghĩa của giải thưởng văn học trong hoàn cảnh mà sự độc quyền học thuật đang bị đổ vỡ và liên tục bị giải hợp thức hóa; trong tình thế cả sự sáng tạo lẫn sự diễn giải văn học đều không thoát khỏi ảnh hưởng mạnh mẽ của cơ chế thị trường, của xu hướng toàn cầu hóa và giải lãnh thổ hóa; trong lúc mọi giá trị văn học đều có thể bị lung lay, chông chênh, bất ổn và trong khi niềm tin của công chúng bị xói mòn, quyền lực của các hội đồng nghệ thuật liên tục bị giảm trừ đáng kể… vẫn có ý nghĩa riêng, và có tầm quan trọng đặc biệt.

 

1. Trước 1986, công việc tổng kết các giải thưởng văn học ở ta chưa được chú ý, và cũng chưa có những nhu cầu bức thiết thúc đẩy hoạt động đó. Phải từ những năm 90, nhất là từ đầu năm 2000, trong khuôn khổ các hoạt động kỉ niệm tôn vinh những thành tựu đạt được của các hội đoàn, các tổ chức nghề nghiệp; xuất phát từ nhu cầu khôi phục các di sản văn học dân tộc, và từ hoạt động quảng bá, tổng kết các cuộc thi, các cuộc trao giải thưởng… công việc sưu tầm và hệ thống hóa các giải thưởng được chú ý và bước đầu có kết quả. Đáng kể có các công trình sau: Các nhà văn được giải thưởng Hồ Chí Minh (Nxb. Hội nhà văn, 1997); Giải nhất văn chương (50 năm tuần báo Văn nghệ, Nxb. Hội Nhà văn, 1998); Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1951-1997 (Nxb. Hội Nhà văn, 1998); Tác phẩm được giải thưởng Tự lực văn đoàn (Nxb. Văn học, 2001); Tuyển tập giải thưởng văn học - nghệ thuật Trịnh Hoài Đức (Nxb. Đồng Nai, 2001), Tủ sách tác phẩm đoạt giải thưởng văn học từ trước đến nay của Hội Nhà văn Việt Nam, Bộ Quốc phòng (Nxb. Quân đội nhân nhân dân, 2003), Tác phẩm văn học được Giải thưởng Hồ Chí Minh (Nxb. Khoa học xã hội, 2003; Nxb. Văn học, 2005, 2006, 2007); Giải thưởng văn học nghệ thuật Sông Thương (Nxb. Mỹ thuật, 2006), Văn học Hải Phòng qua các giải thưởng (1955-2005, Nxb. Hải Phòng, 2008)… Các công trình như thế có giá trị tư liệu, thể hiện sự ghi nhận, trân trọng công sức của nhiều thế hệ nhà văn, nhà thơ. Đấy cũng là một cách gián tiếp đề cao các Ban giám khảo, các Hội đồng nghệ thuật đã phát hiện và tôn vinh những tìm tòi mới, những giá trị nghệ thuật.

Bên cạnh những công trình hệ thống hóa giải thưởng như trên, còn có nhiều nhận định về một chặng đường trao giải thưởng. Chẳng hạn Diễn đàn văn nghệ Việt Nam (số 8/2005) đánh giá “60 năm giải thưởng văn học nghệ thuật” (1945-2005), từ giải thưởng văn nghệ của Hội Văn nghệ Việt Nam, Giải thưởng văn học nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu của Hội Văn nghệ giải phóng (miền Nam), đến giải thưởng cao quý nhất như Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Tuần báo Văn nghệ bàn thảo “Giải thưởng Tự lực văn đoàn và trường hợp buồn tiếc nhất” (số 16/2002), lập lại sự kiện “nhà văn hai lần đoạt giải nhất truyện ngắn báo Văn nghệ” (số 27/2003), nhìn lại những “người nhận giải thưởng văn nghệ đầu tiên” (số tết Bính Tuất 2006), “cuộc thi thơ 1969” (số 17+18/2008), các “trạng nguyên thơ” của báo Văn nghệ (số 42+43/2008)….

2. Công việc giới thiệu các hình thức giải thưởng, tình hình trao giải thưởng trên thế giới từ năm 2000 đến nay rất đa dạng và cập nhật. Chưa bao giờ những thông tin về giải thưởng văn học, bao gồm từ những tác phẩm được đề cử, các tác giả đoạt giải thưởng đến chuyện phê bình “văn học giải thưởng” trên thế giới được quan tâm truyền thông và giới thiệu nhanh nhạy như bây giờ. Đóng vai trò quan trọng trong hoạt động này là báo chí, cả báo in và báo mạng. Tiêu biểu nhất là tin bài của Tuổi trẻ, Tiền phong, Văn nghệ, Lao động, http://vnexpress.net/evan, Thể thao và văn hóa,… và một số chuyên trang Việt ngữ của báo chí hải ngoại.

Trước năm 2003, chưa có nhiều hình thức giải thưởng được giới truyền thông quan tâm đưa tin, thỉnh thoảng chúng ta mới gặp những thông tin về giải thưởng như giải Astrid Lindgren của Chính phủ Thụy Điển trao tặng hàng năm cho những tác giả viết về đề tài trẻ em. Từ năm 2003 trở lại đây có nhiều giải thưởng văn học trên thế giới được giới thiệu; nhiều nhất là giải thưởng của các nước Nga, Trung Quốc, Pháp, Tây Ban Nha, Mỹ, Đức. Giải thưởng văn học của Nhật Bản, Anh, Đức, Singapo, Ấn Độ, Ba Lan, Hàn Quốc, Rumani… cũng được giới thiệu ở ta, nhưng không thường xuyên.

Dưới đây chúng tôi điểm lại một số hình thức giải thưởng trên thế giới được giới thiệu ở ta thời gian qua.

Ở Mỹ: Một trong những giải thưởng lâu đời và danh giá nhất dành cho các lĩnh vực văn học, nghệ thuật và báo chí là giải thưởng Pulitzer, mỗi giải Pulitzer trị giá 10.000 đô la; giải thưởng này được trao tặng lần đầu năm 1917. Giải thưởng truyện ngắn uy tín nhất của Mỹ là giải thưởng O" Henry, được thành lập năm 1918, nhằm, “khuyến khích nghệ thuật truyện ngắn và các tác giả trẻ viết truyện ngắn”. Uy tín của giải O" Henry một phần phụ thuộc vào quy trình xét chọn kĩ lưỡng những người tham gia tuyển chọn: có hàng trăm biên tập biên các tạp chí chọn khoảng 20 truyện trong số các truyện được đăng tải trong năm trên vài trăm tạp chí Mỹ và Canada; các truyện ngắn được tuyển sẽ chuyển cho ba giám khảo (thường là các văn nổi tiếng, các biên tập viên, các nhà phê bình văn học) làm việc độc lập; mỗi giám khảo có quyền chọn một truyện hay nhất để trao giải. Giải thưởng quan trọng dành cho thể loại tiểu thuyết ở Mỹ là giải thưởng PEN/Faulkner. Năm 1950 nhà văn William Faulkner được trao tặng Nobel về văn học. Ông đã dùng toàn bộ số tiền thưởng của mình để thành lập một quỹ hỗ trợ và khuyến khích những nhà văn trẻ. Quỹ này về sau trở thành giải thưởng PEN/Faulkner của Hội văn bút Mỹ. Được giới thiệu cùng với 3 giải thưởng nói trên ở ta thời gian qua còn có các giải Newbery Medal, Ulysses, Neustadt, Ruth Lilly, Jackson, Sophie Kerr, Quills …. Newbery Medal là giải thưởng văn học dành cho thiếu nhi do các thư viện Mỹ bình chọn, cơ cấu giải thưởng gồm: giải tác phẩm xuất sắc nhất trong năm, giải dành cho nhà minh họa xuất sắc nhất, giải thưởng thành tựu trọn đời. Giải thưởng văn học quốc gia Mỹ được tổ chức hàng năm cho những tác giả người Mỹ. Trị giá giải thưởng 10.000 USD, với nhiều mục giải thưởng: Tiểu thuyết xuất sắc nhất, Văn học cho tuổi mới lớn, Thi ca…. Uy tín của giải thưởng quốc gia Mỹ sánh ngang với những Pulitzer hay Booker của người Anh. Giải thưởng mang tên nữ nhà văn Mỹ - Sophie Kerr ra đời từ năm 1968. Đây là giải thưởng văn học lớn nhất dành cho sinh viên chưa tốt nghiệp tại Hoa Kỳ. Những tác giả từng đoạt giải thưởng Sophie Kerr về sau đều trở thành những giáo sư văn chương, những biên tập viên giỏi và những tác giả có sách xuất bản. Giải thưởng Quills của Mỹ trao thưởng cho 19 thể loại, mỗi thể loại sẽ có 5 tác giả được đề nghị để nhận một giải chung cuộc. Đây là giải thưởng do người đọc bình chọn. Từ danh sách sách bán chạy trong thời gian đã được quy định, người tiêu dùng gửi phiếu bình chọn tác phẩm mà họ cho là hay nhất đến các thủ thư, người bán sách hoặc dùng mạng internet để bỏ phiếu đánh giá. Giải thưởng này tôn vinh tầm quan trọng của sách, các tác giả viết sách nổi tiếng, thu hút sự chú ý của người dân đối với sách…

Ở Pháp: Giải thưởng văn học Goncourt của Viện hàn lâm Pháp là một trong những giải thưởng văn học lâu đời và danh giá của Pháp. Bên cạnh giải Goncourt, báo chí trong nước, nhất là Văn nghệ ngay từ năm 2000, đã sớm cập nhật những thông tin về giải Renaudot. Renaudot là một trong hai giải thưởng văn học lớn nhất ở Pháp tôn vinh tác phẩm hay nhất mỗi năm. Giải Medicis thành lập năm 1958, dành trao cho tác phẩm văn học của một nhà văn viết bằng tiếng Pháp chưa có tên tuổi. Giải văn học Femina ra đời năm 1904 (ban giám khảo giải thưởng gồm toàn nhà văn nữ) được trao hằng năm cho những tác phẩm hư cấu viết bằng tiếng Pháp.

Ở Tây Ban Nha và các nước nói tiếng Tây Ban Nha: Độc giả Việt Nam từng được biết đến các giải thưởng như giải Krisoll, Nadal, Planeta, giải quốc tế Alfaguara de Novella, Cervantes, giải Hoàng tử Asturias, giải thi ca Federico Garcia Lorca… Giải thưởng Cervantes là giải thưởng văn học lớn nhất và được coi như giải Nobel văn học của cộng đồng các nước nói tiếng Tây Ban Nha. Giải thưởng Cervantes được trao tặng hàng năm, từ năm 1976; trị giá 110.000 USD. Giải thưởng Alfaguara, trị giá 175,000 USD, do nhà xuất bản Alfaguara tổ chức. Giải thưởng Menendez Pelayo trị giá gần 60.000 USD là giải thưởng văn học uy tín dành cho các cây bút văn học tiếng Tây Ban Nha có đóng góp xuất sắc nhất trong năm. Giải thưởng văn học Asturias danh giá được trao tặng thường niên kể từ năm 1981, tôn vinh cá nhân hay tập thể có tác phẩm đóng góp quan trọng cho nền văn hóa toàn cầu trong lĩnh vực văn học và ngôn ngữ; trị giá 50.000 euro (60.000 USD). Chủ khảo là Viện trưởng Viện ngôn ngữ Tây Ban Nha. Ngoài ra còn có: Giải thưởng văn học Planeta được trao hằng năm nhằm tôn vinh những tài năng văn học trong cộng đồng các nước nói tiếng Tây Ban Nha; Giải thưởng truyện ngắn dành cho các nước nói tiếng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha mang tên Julio Cortázar, nhà văn nổi tiếng người Argentina; Giải thưởng Ibero-American trị giá 42.000 euro (50.000 USD) vinh danh đối với các tác giả có tác phẩm viết bằng tiếng Tây Ban Nha hoặc Bồ Đào Nha đề cập đến các quốc gia thuộc khối Ibero-America (gồm các nước Trung Mỹ, Nam Mỹ và 2 nước châu Âu là Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha)…

Ireland: Giải thưởng văn học quốc tế IMPAC Dublin dành cho tiểu thuyết được viết bằng bất cứ thứ tiếng nào nhưng được dịch sang tiếng Anh có trị giá lớn nhất thế giới. Giải thưởng này được trao hàng năm tại Dublin (Ireland), trị giá giải thưởng lên tới 120.000 USD. Người đoạt giải IMPAC Dublin phải trích ra 1/4 tiền thưởng cho người chuyển ngữ sang tiếng Anh. Năm 2005, giải thưởng Frank O"Connor một giải thưởng quốc tế dành cho thể loại truyện ngắn được thành lập. Giải thưởng có giá trị 60.000 USD, mang tên nhà văn Ireland, người được xem là bậc thầy trong thể loại truyện ngắn. Giải thưởng Frank O"Connor đem lại nhiều bất ngờ: nó có thể đem lại vinh dự cho tập truyện ngắn đầu tay của một tác giả xuất sắc nào đó ngay cả khi trong danh sách đề cử có nhiều nhà văn danh tiếng, và cũng có thể khiến cho một tập truyện ngắn trở thành hiện tượng best-seller, điều mà chính các cây bút truyện ngắn cũng phải ngạc nhiên.

Ở Việt Nam giải Booker được công chúng văn học biết đến từ đầu những năm 2000. Booker của khối Liên hiệp Anh và Cộng hòa Ireland được xem là một trong những giải văn học uy tín nhất thế giới (sau giải Nobel). Giải Booker dành để tôn vinh một tiểu thuyết viết bằng tiếng Anh, có đóng góp chung cho sự phát triển của văn đàn tiểu thuyết thế giới, được trao mỗi năm một lần, trị giá giải thưởng tới 50.000 bảng Anh. Theo wikipedia.org: quá trình lựa chọn danh sách rút gọn và tác phẩm xứng đáng nhất cho Giải Booker được thực hiện bởi ban cố vấn gồm một nhà văn, hai nhà biên tập, một nhà quản lý văn học, một nhà kinh doanh sách, một nhà quản lý thư viện và một chủ tịch (do Quỹ Giải Booker lựa chọn). Ban cố vấn này sẽ chọn ra một ban giám khảo 5 người bao gồm các nhà phê bình, nhà văn, học giả có tiếng, ban giám khảo sẽ chịu trách nhiệm chọn ra cuốn sách giành Giải Booker năm đó. Thành phần ban giám khảo Giải Booker thay đổi theo từng năm. Bên cạnh giải Booker (hay Man Booker) từ năm 2004 công chúng văn học còn được biết đến giải Man Booker International. Giải thưởng này cùng chung quỹ với Booker, có trị giá 60.000 bảng Anh, được trao hai năm một lần, dành cho toàn bộ sự nghiệp sáng tạo của một tác giả còn sống, chứ không chỉ xét một tác phẩm riêng biệt. Hơn nữa giải thưởng Man Booker International còn mở rộng cơ hội cho mọi tác giả thuộc bất kỳ quốc tịch nào có tác phẩm viết bằng tiếng Anh. Giải Man Booker International được trao lần đầu tiên vào giữa năm 2005. Trong hệ thống giải thưởng văn học của Anh được giới thiệu ở ta còn có nhiều giải khác như Orange,Whitbread, Dylan Thomas.... Giải thưởng Orange được thành lập năm 1996, tôn vinh các tác giả nữ viết bằng tiếng Anh, không kể quốc tịch hay nơi cư trú. Giải thưởng danh giá này trị giá 30.000 bảng Anh. Giải thưởng Dylan Thomas ra đời năm 2006, dành tôn vinh các tác giả dưới 30 tuổi, có giá trị hiện kim 60.000 bảng.

So với các nước khác trên thế giới, hệ thống giải thưởng văn học ở Nga được giới thiệu ở ta phong phú nhất. Bao gồm các giải thưởng như: giải thưởng Apollon Grigoriep, giải thưởng văn học M.Solokhop, giải thưởng Ivan Pêtrovic Belkin, giải Buker, Jasnaja Poljana, Pasternak, Kazakov, giải thưởng quốc gia về văn học nghệ thuật, giải thưởng Bestseller quốc gia, giải Big book, giải thưởng Nhà nước, giải Yasnaya Polyana, giải thưởng I.A.Bunin, giải văn học Debiut… Giải thưởng “Booker Nga” được thành lập năm 1991 - đây là giải thưởng văn học phi chính phủ đầu tiên ở Nga nhằm cổ súy cho sự nghiệp sáng tác của các nhà văn viết bằng tiếng Nga và quảng bá nền văn học Nga đương đại đối với phương Tây. “Booker Nga” không sánh nổi với các giải thưởng văn học như giải Sonzhernitsyl, giải Jasnaja Poljana, hoặc giải “Sách lớn Nga” (Big Book) mới được sáng lập, nhưng dư luận coi đây là giải danh giá nhất, được các nhà văn mong ước nhất và được báo chí chờ đợi đưa tin nhiều nhất; Debiut là giải thưởng văn học độc lập dành cho giới trẻ ,được sáng lập năm 2000…

Các giải thưởng ở Trung Quốc được giới thiệu ở ta gồm: giải thưởng văn học Lỗ Tấn, giải thưởng Mao Thuẫn, giải thưởng Cúp Mao Đài, giải thưởng văn học Lão Xá, giải thưởng thơ - tản văn Quách Mạt Nhược…

Ngoài những giải thưởng văn học nhắc đến ở trên, giới báo chí, xuất bản và sáng tác Việt Nam còn được biết đến: Giải thưởng văn học hàng năm của Cộng hoà Czech mang tên nhà vǎn Tiệp Khắc gốc Do Thái, Franz Kafka (được lập ra năm 2001, trị giá giải thưởng là 10.000 USD); giải thưởng Caine do nhà doanh nghiệp Sir Michael Caine - người tổ chức giải thưởng Booker trong nhiều năm - sáng lập, trị giá 15.000 USD, dành cho tác giả người châu Phi, thường là tác giả trẻ và thể loại truyện ngắn, các tác phẩm đoạt giải có thể xuất bản ở châu Phi hoặc bất cứ nơi nào khác nhưng phải đề cập vấn đề của lục địa này; giải Asia Literary Award của Australia, thành lập năm 2008, dành cho những nhà văn xuất sắc cư trú ở Australia, và các nước châu Á, cũng như những nhà văn có tác phẩm mà nội dung miêu tả những gì diễn ra ở khu vực này, nói chung việc tồn tại của một giải thưởng văn học như thế tạo thêm cơ hội cho các nhà văn ở Australia và châu Á nhận được sự công nhận quốc tế; giải thưởng văn học Grisane Covoa uy tín nhất của Italia; giải thưởng văn học Scotiabank Giller sinh lợi nhất Canada; giải thưởng văn học Manhae của Hàn Quốc; giải thưởng văn học Kenzaburo Oe của Nhật Bản; giải thưởng Nelly Sachs, Giải thưởng Hoà bình của Đức; giải thưởng PEN của Tổ chức các Nhà văn quốc tế (PEN/Nabokov, PEN/Voelcker, PEN/Martha Albrand, PEN/Laura Pels Foundation ,PEN/Phyllis Naylor…).

Giải thưởng được đông đảo công chúng biết đến và thu hút sự chú ý của các nhà văn nhất lâu nay vẫn là giải Nobel về văn học. Tuần báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 2001 (số 33) mở chuyên mục Tuyên dương các tác giả đoạt giải Nobel văn chương: lần lượt giới thiệu một cách tổng quát và hệ thống 100 giải Nobel văn chương (được trao tặng từ năm 1901 đến năm 2001). Tuy nhiên, công việc tuyên dương này chỉ được tiến hành một cách công phu đối với khoảng 21 tác giả. Sau đó công việc giới thiệu tác giả và thành tựu sáng tác của họ ngày càng đơn giản hơn, nhiều số Văn nghệ chỉ dành nửa trang báo giới thiệu thông tin về 3,4, thậm chí là 5 tác giả thay vì dành 1 trang báo cho mỗi tác giả như trước đây.

Từ những bài viết giới thiệu tương đối đầy đủ hệ thống giải thưởng văn học của một số quốc gia, từ việc báo chí giới thiệu cập nhật một số hình thức tổ chức giải thưởng và tình hình xét trao giải thưởng văn học của nhiều nước trên thế giới chúng tôi thấy có mấy điểm đáng chú ý sau:

Theo nhịp phát triển chung của văn học, của ngành truyền thông và lĩnh vực in ấn xuất bản giải thưởng văn chương ngày càng được đa dạng hóa. Bên cạnh những giải thưởng lâu đời đã xuất hiện thêm khá nhiều giải thưởng mới mà trị giá giải thưởng, uy tín và sự cạnh tranh giữa chúng không hề nhỏ. Những năm gần đây nhiều giải thưởng được trao cho tác giả trẻ, các tác phẩm đầu tay, những nhà văn nữ và những tác giả ngoại biên. Ngoài những giải thưởng mà nhiều người mong muốn và vinh dự đoạt được lại có giải thưởng thường niên khiến cho không tác giả nào muốn nhận, chẳng hạn giải văn học bad sex dành trao cho những tác phẩm thu hút sự chú ý của độc giả vào những điều vô vị, thô thiển trong miêu tả tình dục (giải thưởng này nếu có ở ta, phải được trao cho cuốn Sợi xích năm 2010 của Lê Kiều Như…)

Trong việc xét chọn và trao giải thưởng, những vấn đề như tôn giáo, giới, giới tính, sự giao thoa văn hóa giữa các dân tộc, những vấn đề về quyền lực chính trị, những tiếng nói ngoại biên và dị biệt, những hành vi ngôn ngữ có tính chất phủ định và phản kháng, những tiếng nói có tính cách đại diện cho thời đại toàn cầu và hội nhập… luôn được quan tâm. Trong khi đó, ở ta, được đánh giá cao chủ yếu vẫn là các tác phẩm thuộc đề tài lịch sử, chiến tranh, cách mạng; thể loại tự truyện, văn học viết đề đồng tính, viết theo lối hậu hiện đại và nữ quyền luận, những tác phẩm có ý nghĩa khai mở cho thứ văn học thời toàn cầu hóa và hội nhập…chưa được hợp thức hóa giá trị. Trong khi ở không ít quốc gia trên thế giới những quyết định đề cử hay trao giải thưởng của Hội đồng thẩm định giải thưởng có tác động mạnh đến tình hình xuất bản phát hành, thì điều này ở ta gần như là không tưởng, thậm chí ngược lại, nhiều tác phẩm được trao giải bị công chúng thờ ơ hơn cả những tác phẩm không được trao thưởng. Sự thờ ơ ấy của người tiếp nhận còn được thể hiện ngay trước các đợt xét chọn, bình bầu và trao giải thưởng: trong khi đối với nhiều giải thưởng trên thế giới danh sách các ứng viên được đề cử, tham dự tranh giải luôn luôn thu hút công chúng và báo chí, thì ở ta các tác phẩm dự giải hầu như “không có đối thủ”, và cũng ít hấp dẫn. Nhiều giải thưởng văn học trên thế giới được đặt ra nhằm ghi nhận sự đổi mới, khẳng định tính dấu mốc, tính độc đáo của các tác phẩm văn học; tôn vinh những sáng tác góp phần làm phong phú nền văn học, làm thay đổi bức tranh văn học đương đại, những tác phẩm có đóng góp xuất sắc cho sự phát triển của thể loại, phản ánh sự quan tâm của văn học đối với hiện thực xã hội và với chính trị, nói chung là đề cập đến nhiều vấn đề xã hội cấp thiết, những vấn đề mang tính nhân loại, toàn cầu và nhân bản sâu sắc bằng một nghệ thuật mới mẻ…. thì ở ta giải thưởng thường được trao cho những tác phẩm nằm trong “khuynh hướng truyền thống” (một kiểu từ ngữ hay được các Hội đồng thẩm định dùng để đánh giá tác phẩm được trao giải thưởng, tặng thưởng) nghĩa là những tác phẩm đã “có công giữ gìn trật tự ổn định” và làm cho mọi thứ đều “an toàn”; và chính vì thế mà hầu như không có tác phẩm được trao giải nào tạo ra bước ngoặt lớn trong cuộc đời của người cầm bút để từ đó vị trí của anh ta được chính thức ghi nhận, được đón đọc trên văn đàn; thậm chí giải thưởng văn học được trao tặng hiện nay ở ta như một thứ thủ tục hành chính, một kiểu “đến hẹn lại lên”. Nhiều tác giả đoạt giải trên thế giới chứng tỏ được rằng nền văn học của nước họ đã vượt thoát khỏi ranh giới lãnh thổ chật hẹp của mình để hòa nhịp vào nền văn học thế giới. Ở nhiều quốc gia giải thưởng được mở rộng trở thành giải chung cho các nhà văn thế giới trong khi đó nhiều giải thưởng ở ta lại cơ cấu theo vùng miền địa phương, theo tuổi tác và “quan hệ”.

Nguyễn Thị Thu Huệ

 

>> Bài 1. Nhìn nhận về giải thưởng văn học trên thế giới

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác