Tiếng vọng tâm thế thời đại trong thơ Nguyễn Hưng Hải



(Toquoc)- Nguyễn Hưng Hải nổi tiếng từ ngày còn trẻ, với một giọng thơ say đắm trước vẻ đẹp chân chất của quê hương - cái quê hương nghèo khó nhưng đầy thi vị được nhìn qua mắt của người đang yêu.

Không có người đàn bà nào đẹp hơn em trên thế gian

Là khi yêu nói thế

Bài Đêm Thị Mầu khiến ông thêm nổi tiếng không chỉ bởi nó hay mà còn vì nó hình như khác lạ hẳn so với chị em ruột của mình, trước đó. Khác về giọng điệu, về vẻ mơ hồ, về cái cách vừa quạt vừa phanh và nhất là về cái sân chùa mà lại lắm rêu của chất người. Quả thật, thi trung hữu sự, nhưng là cái sự sinh ra bởi tình; thi trung hữu lý, nhưng là cái lý không thuần tư duy mà có:

Ai giam được cái chữ tình

Thị Mầu tay quạt tay phanh áo hờ

Trước đó mấy chục năm, Nguyễn Bính có câu thơ hình như còn ít người để ý:

Dịu dàng đôi ngón tay tiên

Giữ hờ mép áo làm duyên qua đường

Câu kết lại cho thêm một bất ngờ nữa về lý thuyết thơ, thi trung hữu triết, nhưng là cái triết rất khó khúc chiết:

Một thời kẻ đón người đưa

Vào chùa mới biết sân chùa lắm rêu

Vâng, bằng vào “cú” vấp ngã của đời Mầu, ta suy luận sân chùa hóa ra lại là nơi có thể dễ bị sẩy chân. Nhưng tâm thức ta, nơi chứa hình ảnh “con sãi ở chùa lại quét lá đa” thì cãi lại rằng sân chùa thì sao có thể lại có rêu mà ngã; vả lại, Mầu ngã là ngã với Nô chứ đâu với tiểu Kính Tâm? Thế nhưng cứ miên man vào sâu trong tứ thơ, ta gặp cái chiều sâu nhân bản, cái nhân bản mà dẫu bị giam triệt để vào cõi không, cõi tịch diệt, nó vẫn cứ buông tín hiệu mà hễ cứ là người thì có ăng ten bắt được tín hiệu ấy:

Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết

Đêm qua sân trước một nhành mai

Như một điềm triệu, sau thành công của Đêm Thị Mầu, Nguyễn Hưng Hải còn bỏ ra nhiều công phu để theo đuổi, để “tư duy hóa” thơ mình, nhưng thay vì nắm bắt được cái con lắc lẳng lơ kia, thơ ông lại đâm sinh ra nhiều lời…

Tôi cho rằng, đối với thơ, phẩm chất cương dũng không thể đặt lên trên nhu nhuyễn, cái có thể tường minh thì khó còn chỗ cho thơ hiện diện. Xin hãy đọc chính Nguyễn Hưng Hải, ở một bài thơ khác, bài Tôi đi, đây là câu tác giả dường như không định khái quát gì, lại có vẻ cũng không “cơm nặng áo dày” gì:

Tháng năm lặng lẽ mẹ tôi

Lá đa quét mãi đến trồi rễ đa

Hình ảnh thật ám ảnh, nó lập tức bật khỏi bài thơ, thậm chí còn tự tách khỏi tứ toàn bài, riêng đứng làm một thành ngữ. Thêm một minh chứng cho luận điểm của nhà thơ Hữu Thỉnh, câu thơ hay luôn có xu hướng tự bật khỏi bài. Khi đó, câu thơ có số phận riêng trong đời sống ngôn ngữ, tự sinh nở rồi tạo lập một không gian thẩm mỹ cho riêng mình. Cũng có thể nói như thế về một câu thơ khác cùng viết về mẹ, bài Chiều ba mươi tết:

Cả đời cúi mặt chưa xong

Mẹ đi lui tới lưng còng còn lui

Nó khiến ta nhớ đến một câu thơ khác, của Ái Tân Giác La Hoàng Lịch: Thoái nhất bộ kiến thiên thanh - lui một bước thấy trời xanh; rồi một câu khác nữa, của Nguyễn Hưng Hải:

Chiều ba mươi tết ở quê

Mẹ còn chân vấp nón mê ra đồng

Thật khó nói hai câu thơ vừa dẫn là không hay, nhưng là cái hay được nhìn thấy bằng mắt, nói như Trần Đăng Khoa chẳng người này thì người khác có thể nhìn thấy. Nhìn lãng mạn “vĩ mô” như hoàng đế Càn Long hay nhìn ngậm ngùi chua xót như Nguyễn Hưng Hải thì vẫn chỉ là cái nhìn mô tả. Hai câu thơ bật khỏi bài thơ nói trên thì viết bằng chiêm nghiệm của cả một đời, viết bằng một tâm thế. Do vậy mà đọc không hết được.

Thực ra thì ngoài những thiên tài kết thúc sự nghiệp của họ vào năm 25, 27 tuổi; đời các thi nhân không mấy người cứ nguyên một hành trang mà đến nổi thơ. Trong một đời người có sinh lão bệnh tử, thân một bài thơ Đường có đề thực luận kết. Và thơ là thơ, thơ không chịu chấp nhận những gì được thi vị hóa - cái mà tuổi trẻ, tuổi yêu thường vấp phải. Tôi hình dung, bước chững lại của Nguyễn Hưng Hải là một nỗ lực vượt thoát, không chịu làm cỏ dưới bóng cây thiên tuế; một chững lại tích cực và cần thiết. Và hình dung ấy đã được chính ông khắc họa trong Cây bàng mùa đông: Lúc trơ trọi một mình gió không còn đến bạn, chim không còn đến bạn nắng đi qua nhưng rất hợt hờ. Trong nỗ lực làm mới mình, không phải lúc nào Nguyễn Hưng Hải cũng thành công. Chữ “hợt hờ” là một chữ mới, ông sẽ còn lặp lại nó trong một bài thơ khác, nghe buồn cười và lười. Chữ “ơ hờ” của dân gian hay và thơ hơn thì bỏ phí mất; nhưng nếu tôi đúng thì đây cũng lại làm chứng cho những sầy vẩy của kẻ kiếm tìm, của những “cây bàng mùa đông”. Phải nhất thiết đi qua mùa đông, phải chấp nhận khẳng khiu trơ trụi, miễn là trong con người thi nhân còn tha thiết với mùa xuân:

trong trơ trọi một mình ứa ra nước mắt

bắt đầu cọ cựa những bào thai

như là đòi hỏi nghiệt ngã của quy luật sáng tạo.

Và khi đã qua mùa đông, cây bàng sáng tạo trong thơ Nguyễn Hưng Hải trở nên vạm vỡ và ngồn ngộn sức sống. Nhưng nó không biến thành một diện mạo của ví dụ cây đa, vẫn là ông - Nguyễn Hưng Hải say đắm và hồn hậu, nhưng hồn hậu mà không thô, chân thực mà ý nhị một tâm thế:

Khi cây đã gật đầu

Lá và gió cãi nhau vô tích sự.

Tiếng vọng tâm thế thời đại trong thơ Nguyễn Hưng Hải  - ảnh 1

Vâng, đặt các bài thơ hay của Nguyễn Hưng Hải cạnh nhau, ta thấy hiện lên một tâm thế thời cuộc mà bài Thơ hai câu dẫn trên đây là bước đột khởi. Nói đột khởi vì trước đây ông cũng như nhiều đồng nghiệp thường lập ý theo đơn vị khổ thơ, những bài thơ luôn luôn có thể nối dài; đến đây thì chuyển hẳn sang lập ý theo đơn vị câu, thậm chí là chữ. Chữ còn lui và chữ đến trồi rễ đa đã trở thành hạt nhân của tứ thơ theo thi pháp như thế. Chứ còn, để làm mới thơ mình, Nguyễn Hưng Hải lắng nghe tâm thế mình chứ ít khi theo trào lưu, đó là nét quý sẽ góp phần tạo nên đẳng cấp thơ ông.

Có một tuyến tính khác để hình dung đời thơ Nguyễn Hưng Hải. Sống đến đâu biết đến đấy, biết đến đâu nói đến đấy; quá trình nghiệm sinh là quá trình thơ trưởng thành. Bài Gió đàn ông là thơ tình yêu, nhưng viết nó lại là khi đã đưng đứng tuổi. Bài thơ nói về những đêm của tình yêu sau lần nhận hoa hồng do anh con trai đem tặng. Đó là:

Đêm thứ hai cùng hoa hồng tỏa ngát

Đêm thứ ba cùng hoa hồng xòe tung

Đêm thứ tư cùng hoa hồng rũ cánh

Đêm thứ năm cùng hoa hồng tàn phai

Để rồi, cái trực cảm hoa hồng là thứ hoa không quả đã thành sự thực:

Đêm thứ sáu hoa hồng đi đâu hết

và những đêm sau còn mỗi chiếc bình không

Hoa hồng còn đi đâu nữa, nó hóa thân thành một dư vị buồn mang tên “gió đàn ông”, nó còn cảnh báo một thói đời chiếm đoạt không phải bằng tình yêu. Một xót thương cho chính những kẻ chiếm đoạt. Đặt nó bên cạnh bài Khi con khôn lớn sẽ bật hẳn ra một tâm thế:

Buồn là hoa, đau là bình

Kẻ che phía trước, người rình phía sau

Nhớ mang nón mũ che đầu

Đường xa lắm nỗi mồm trâu mõm bò

Đây nữa, bài Viết cho con gái mới thật thấm thía:

Tháng ngày trong nỗi mông lung

Muốn con mau lớn lại mong từ từ

Chùm bài về tình yêu gia đình gói lại bằng bài Là khi yêu nói thế, cũng là một tâm thế, cái tâm thế của người thức tỉnh vì vỡ mộng nhưng không buông thả, nó đau đáu niềm nghĩ ngợi:

Ở với nhau thì khóc, còn khi yêu thì cười

Khi yêu đàn ông hay đánh đàn

Đàn bà hay ca hát

Còn lúc ở với nhau thì lại khác?!

Nhưng tình yêu và hôn nhân mới là cấp độ thứ nhất của thức tỉnh. Sống chăm chút với đời, Nguyễn Hưng Hải phát hiện ra sự trái ngang của thời cuộc rất sớm. Và thơ ông chợt bùng nổ cả ý lẫn lời khi nói về nó. Chúng ta biết Nguyễn Hưng Hải từng sở hữu một giọng thơ đằm thắm hồn hậu, ông hồn nhiên đến có cảm giác dễ tình. Nhưng đúng là lành với bụt ai lành với ma. Cái đáng quý ở thơ Hải là giận, rất giận nhưng không mất khôn. Xin hãy nghe ông chuyện trò với cỏ, bài Cỏ phố:

Sợ chết sặc chết khô

Cỏ bò vào trong phố

Mon men gốc cây

Mon men sát mép đường loang lổ

Cỏ bắt đầu đời cỏ chỗ người đông

(…) Những cao tầng đã ăn hết mặt trời

Ăn hết mặt trăng

Bóng đè lên cỏ

Đè lên mơ mộng của đồng quê

Lấm bụi vỉa hè

Cỏ bắt đầu xanh non kiểu cỏ

ở nhà ga bến tầu

Viết về người quê ở phố, văn thơ trước sau đã có nhiều. Tôi tưởng bài Lửng lơ của nữ thi sỹ Giáng Văn (1990) đã là bài hay nhất: Ta là con gái nhà quê/ Bao năm rồi ở phố / Một mình bước trên phố dài/ Lòng nhớ nắng và nhớ gió/ Nhớ câu hát lửng lơ ơi câu hát lửng lơ. Nhà thơ Phạm Tiến Duật hình như cũng có một bài viết thẳng về dân cửu vạn, nhưng xét về sự uyển nhã, độ mập mẩy của chữ thơ, đến Cỏ phố của Nguyễn Hưng Hải thì người quê ở phố mới thực sự có thánh ca của mình.

Chỉ có lắng nghe thật sâu tâm thế mình, Nguyễn Hưng Hải mới nghe được tâm thế thời đại, ở các khía cạnh bất ngờ nhất, đưa ông lên tốp đầu của bình diện thơ thế sự. Ở chùm bài Chi bộ xóm tôi, Phản xạ, Trong cảm giác, Hoa hướng dương, Bão nơi mộ Tổ, Trí thức làng, Sên ốc… mức độ thành công khác nhau, tùy thuộc vào độ nhu nhuyễn giữa tình và thế, giữa hình tượng và cách lập tứ nhưng ngay cả ở bài còn sượng nó cũng góp phần tạo nên chỗ đứng mới cho tác giả, hay nói cách khác, chỗ mà bạn đọc hôm nay cần nhà thơ đứng lên; đó là nơi tuyến đầu của cuộc chiến chống bất công, tham nhũng, lãng quên quá khứ; như một thời trận mạc, bạn đọc cần nhà thơ đứng trên tuyến đầu chống Mỹ.

Vâng, không thể không lớn tiếng lên dù lời nói còn chưa kịp chọn lựa cho nhẹ tai người nghe, vì cơ sự đã đến mức:

Làng có những đứa con sang Mỹ lập trình

Lập trình trên khắp cả hành tinh đang nối mạng

Nhưng ở chính quê mình bao đứa trẻ mùa thi không điểm toán

Không như là trí thức trở về không

(…) Những trí thức làng

Xập xệ kính đeo

Bước xuống khỏi xe có người theo xách cặp

Không giúp nổi cho làng ngôi chùa đang thiếu Phật

(…) Bao đóng góp dân làng thêm túng thiếu

Gọi trí thức về làng mà hỏi cái vung tay

Không biết vì đâu và từ bao giờ, cơ sự lại ra nông nỗi ấy. Xưa cuộc đời đẹp đến mức Chế Lan Viên viết Quỳ xuống bên đường/ Tôi hôn cuộc sống; đứng trước cái đẹp của những người thợ mỏ than, ông cảm thấy thơ mình bất lực, nên tên một bài thơ ông đặt là Văn xuôi về một vùng thơ. Bây giờ, cuộc sống lại là một thứ văn xuôi lem nhem; một chi tiết văn xuôi điển hình trong một hoàn cảnh điển hình… mà hỏi cái vung tay mới đau xót làm sao? Ở bài Chi bộ xóm tôi cũng thật nhiều chi tiết “văn xuôi” như thế:

Chi bộ xóm họp trong hơi men rượu

Nói đâu đâu toàn chuyện ở trên giời

(…) Chân lấm đất mà lơ mơ về đất

Cây con gì ai cũng nói chung chung

(…) Qua rất nhiều biểu quyết lắm giơ tay

Xóm vẫn nát, nhà đảng viên vẫn giột

Đọc bài Hỏi người vệ sỹ đứng canh đền mới thật nhiều suy tư ngoài thơ. Chúng ta biết, vệ sỹ canh đền Hùng không phải là hình tượng ông trừng Thiện ông trừng Ác như nơi đình đền ở các miền quê. Ấy là vệ sỹ của nơi tôn nghiêm quốc thể, của kỷ cương phép nước cho quốc thái dân an, cho tâm linh bình ổn. Vậy mà rồi nhà thơ phải buông câu trách cứ:

Lúc trao gươm Vua nói những gì

Người đang đứng ở đâu trong góc khuất

Sao vệ sỹ ngàn năm không đổi gác

Nét mặt nhìn không một chút ưu tư

Vệ sỹ đứng canh hay vệ sỹ đứng chờ?

Bão ở nơi mộ Tổ là một bài thơ đau đớn. Câu thơ Tôi linh cảm thấy những chuyện chẳng lành khi bão làm gãy cây nghìn năm như hồi kẻng báo động cứ vang xa rồi ngân lại, mỗi lần trở lại thì đã mang một cấp độ báo động khác:

Tôi linh cảm rõ ràng có chuyện không bình thường đã xảy ra, sắp xảy ra trong cơn bão lòng người

Cho đến khi thật khó hình dung nếu những ai đó còn chưa biết giật mình:

Tôi linh cảm rõ ràng cột đá thề bị bão lung lay, voi tan tác cả đàn khanh tướng chỉ còn biết chắp tay lạy trời, khấn Phật

Tôi cũng không biết cách làm thế nào để chấn hưng khi ngôi chùa làng thiếu Phật, khi người ta bắt đầu quên quá khứ, đến nỗi cái áo Trường Sơn năm nào chẳng bị ẩm ướt do mưa, người ta vẫn phải đem phơi lại: Ướt đâu mà áo mang phơi/ Phơi là phơi lại cái thời Trường Sơn. Bài Mưa thành cổ có câu thơ như bật hẳn khỏi bài: Khum tay châm lại nỗi niềm/ tắt từ đêm trước, từ đêm mưa nào; hay thì hay thực, nhưng cũng thực xót xa, khi cái đau chung đã thành rủi ai nấy chịu. Và đây nữa, khi thói tào lao đã thành một chứng nghiện, thì người ta sẽ cai nghiện thế nào: Hạt gạo bị xem thường - lúc no/ Bia rượu bị xem thường - khi quá chén/ Bao thứ nghiện trên đời/ Ghê nhất nghiện tào tào. Vâng, nghiện tào lao và nghiện vung tay nói những chuyện trên giời. Không biết cách chấn hưng, cách cai nghiện, tôi chỉ còn biết đọc to lên để vợ con mình nghe, bạn bè mình biết, như một cách tiêm phòng.

Nhưng phải đến bài Ban mai chóng mặt, cái tâm thế thời cuộc mới ở vào vị thế đối thoại thẳng thắn với sự suy thoái, khủng hoảng để đưa tác giả của nó lên một tầm nhân cách. Đến bài này, hình tượng thơ bỗng trở nên tương phản một cách gay gắt, ngôn ngữ thơ chợt trở nên đay nghiến giận hờn:

Ông lão chết thèm cơm và kẻ chán giò nem xưa ở cùng một làng nay ở chung một ngõ, ban mai ra chạm mặt chẳng ai chào. Biết làm sao thôi đành vậy đồng bào, chân thực quá nên ai lừa chẳng được.

(…) Ông chủ sáng nay đãi mẹ già rau muống luộc, đầy tớ rung đùi đãi nhau toàn quốc cấm đùi non.

(…) Đói kém thăng hoa thành ông tiên bà chúa, mồ hôi rơi mà vẫn bị nghi ngờ, áo ấm cơm no trên bờ tường áp phích, khán giả diễn viên đều đóng kịch, ai làm hề ai cứ nghĩ mình không

Nhưng cái đáng kể nhất ở bài thơ là tâm thế của tác giả, chính nó tạo nên tư thế, làm chứng cho sự trung thực và trên hết cả, nó tạo nên ý thức xây dựng của người trong cuộc. Nó chính là niềm tin cuối cùng còn son sắt với cuộc đời, nó nhắc nhớ đến bài Cây bàng mùa đông về một kiếp thi nhân:

Mưa từng cơn lắng bụi của một thời ngơ ngác trước gương soi, tinh khiết ban mai đang gõ cửa

Vẫn tâm thế ấy của nhà thơ sẽ hiện ra rõ hơn ở một bài khác, cũng không kém phần gay gắt, bài Phản xạ - có thể coi là một phản biện xã hội đầy ý thức công dân:

Và ý tưởng nổ tung thành tư tưởng

Sẽ sinh ra phản xạ biết phanh dừng

Vâng, với tôi, đọc thơ tâm thế thời cuộc của Nguyễn Hưng Hải là một cách tiêm phòng, để trong cơ chế thẩm mỹ của mình sản sinh ra phản xạ biết dấn lên hay dừng lại. Xét theo mọi nhẽ, ấy là sức chiến đấu của thơ, chiến đấu vì Cái Đẹp. Xin có lời mừng.

Nhưng mừng hơn còn ở chỗ, sau đổi mới thi pháp và đổi mới tâm thế, Nguyễn Hưng Hải vẫn còn là chính ông để bạn đọc dễ dàng nhận ra khi gặp lại. Vẫn một Nguyễn Hưng Hải hồn hậu và đắm say, có già giặn hơn, to tiếng hơn, âu cũng là “bởi chưng hay ghét cũng là hay thương.” Nói theo cách khác, chính hạt nhân hồn hậu, sau “va đập” với thời cuộc đã bùng nổ tạo nên gia tốc để tác giả đến được cõi thơ nhanh hơn, ngồi ở hàng ghế các nhà thơ có giọng điệu phong phú, đa thanh và cuối cùng là làm phong phú thơ.

Văn Chinh

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác