Tiếng nói như một thân phận và như một hành động (tiếp theo và hết)


>>> Kháng cự tình trạng mất tiếng nói: Tiếng nói như một thân phận và như một hành động [Kỳ 1]

(Toquoc)- Ngày nay, có thể nói, là thời đại văn học nữ (quyền) bung ra, rộng khắp chưa từng thấy, là thời đại những tiếng nói đã mất bắt đầu trở lại, những tiếng nói trước kia bị đặt bên lề trở nên quan trọng, những tiếng nói của “kẻ Khác” vang lên giữa “thế giới của chúng ta”; thời đại phụ nữ bước vào văn học một cách tự tin, đàng hoàng và đầy thách thức: giờ đây tiếng nói trở thành một hành động (lựa chọn, chất vấn, phản kháng…) chứ không là một thân phận như trước kia. Bên cạnh những tiếng nói văn học nữ trong nước với sự tham gia của nhiều thế hệ còn có tiếng nói nhiều bè cộng hưởng của văn học nữ hải ngoại: những khung khổ chật hẹp của văn học đang được nới ra cùng với sự tham gia ngày càng đông đảo của tác giả nữ; những cấm kỵ lâu nay trong văn học đang dần bị phá vỡ cùng với sự trỗi dậy của diễn ngôn nữ; những thành công, vị thế của nữ giới trong văn học đang được thay đổi cùng với sự thay đổi của những điều kiện vật chất đảm bảo cho sự viết, cái viết; các nhà văn nữ được trao những giải thưởng văn học chính thống quan trọng đang tăng dần; sáng tác của họ được nhìn nhận như một thương hiệu cạnh tranh với các đồng nghiệp nam… Trên Văn nghệ Trẻ số 10/2002, dịch giả Vũ Công Hoan giới thiệu tản văn đặc sắc “Đàn bà sáng tác” của Trương Kháng Kháng, một nhà văn nữ quyền tiêu biểu của Trung Quốc, nhưng rất tiếc tác phẩm này ít được chú ý. Chúng tôi xem đây là một tác phẩm quan trọng, phản ánh khá rõ nét, tinh tế sự chuyển biến về ý thức sáng tác của nữ giới nói chung, nó khẳng định mạnh mẽ sự thực là một thời kỳ văn học nữ mới đã mở ra trước mắt chúng ta, và đó là chuyện đương nhiên, văn học đang lật sang trang mới, một trang chủ yếu dành cho phụ nữ lên tiếng. Trương Kháng Kháng ví thời kỳ nở rộ của sáng tác nữ với mùa xuân, ban đầu còn lác đác một vài nhành hoa đẹp nổi trội hẳn lên sau hoa tươi cứ lan dần, xuất hiện nhiều chủng loại mới nhập khẩu, lại được lai tạo, ghép chiết, thành một giống hoa mới, đến mức đàn ông không thể nhận biết được và ngay đến đàn bà lấy sáng tác để sinh sống cũng luôn luôn cảm thấy đội ngũ của mình đang ngày một đổi mới: “đàn bà sáng tác hiện giờ sinh trưởng trên hoa đàn không tàn lụi, quanh năm nở rộ như mùa xuân”, “dở các trang báo, tạp chí chợt thấy có biết bao nhiêu tên tác giả mới lạ, những cái tên rất đẹp, rất dịu dàng chuyên dùng cho phái đẹp, nổi bật trên lá xanh hỗn tạp. Ngoài những nhà văn nữ, nhà báo nữ, biên tập viên nữ chuyên sáng tác để mưu sống, còn có diễn viên nữ, giám đốc nữ, giáo sư nữ, nhân viên tiếp thị nữ, họa sĩ nữ… Quả thật, dường như phàm là một đàn bà ai cũng biết sáng tác”, đến mức tưởng chừng như “cánh đàn ông đã bị những cái tên màu sắc rực rỡ kia chèn ép, xua đuổi và che lấp”. Trước kia, nữ giới là đối tượng miêu tả, tiếp nhận của nam giới thì nay - theo Trương Kháng Kháng - nữ giới đã trở thành môt chủ thể sáng tạo, sáng tác là một lối sống của họ, bổ sung đời sống của họ; họ có quyền đem chuyện trong lòng nói ra giấy một tự nhiên, thẳng thắn, chân thành; “đàn bà sáng tác chân chính vẫn là tôi làm theo cách của tôi, ai muốn nói gì mặc họ”.

Văn học nữ nở rộ và đạt thành công bước đầu như một minh chứng về hiện tượng (dù vô thức hay có ý thức) nữ giới chống lại tình trạng thao túng khán giả, mỹ cảm của nam giới. “Đàn bà sáng tác là chuyện hiển nhiên, không cần phải nghi ngờ” (Trương Kháng Kháng, Trung Quốc), “viết để khẳng định mình là nhà văn, một nhà văn Việt Nam” (Nguyễn Thị Châu Giang). Đành rằng, trước kia cũng như bây giờ, nhiều người nữ muốn viết văn (dù là nhu cầu tinh thần thuần túy hay có liên quan đến quyền lợi kinh tế) vẫn phải thỏa hiệp - theo cách nào đó, mức độ nào đó - với bổn phận, nghĩa vụ gia đình. Song điểm khác là, hiện nay khi đứng trước câu hỏi như “điều gì khiến cho các nhà văn, nhà thơ nữ được bình đẳng với nam giới?”, họ đã trả lời tự tin: “Tài năng. Chính vì vậy tôi không thích một cái nhìn định kiến về nữ giới trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật” (Phan Huyền Thư).

Thực tiễn sáng tác và tiếp nhận hiện giờ đòi hỏi giới nghiên cứu phải xét lại và nghĩ tiếp nhiều vấn đề. Chẳng hạn,

- cần phải xác định rõ nội hàm khái niệm văn học nữ, văn học nữ quyền, văn học nữ tính;

- xem xét văn học nữ như một vấn đề lý thuyết giới trong sáng tạo văn học nghệ thuật, văn học nữ như một vấn đề tư tưởng hệ, văn học nữ như một vấn đề tâm lý sáng tạo, văn học nữ như một bình diện lý thuyết phong cách học/tu từ học văn bản, văn học nữ như một bình diện lý thuyết đọc/lý thuyết tiếp nhận; phụ nữ có thể hoàn toàn trở thành một cá nhân - chủ thể trong cái viết của họ hay không…

Cũng đã có những điều kiện thuận lợi để chúng ta đặt ra vấn đề: nhìn lại văn học nữ nói chung và văn xuôi nữ Việt Nam nói riêng qua các thời kỳ lịch sử; đánh giá lại vị trí của phụ nữ trong lịch sử văn học; phân tích, lý giải sự chuyển dịch trong quan niệm của các nhà văn nữ về văn học, về vấn đề phái tính và các vấn đề văn hóa - xã hội có liên quan được thể hiện trong sáng tác nữ…

Người đọc đang chờ đợi những khảo sát kĩ lưỡng về các hiện tượng văn học nữ mới và các khuynh hướng văn xuôi nữ đáng chú ý hiện nay; chờ đợi những nghiên cứu có sức thuyết phục hơn về lối viết nữ, những hình thức văn bản in đậm dấu ấn nữ giới, sự giải cấu trúc những biểu tượng định kiến về nữ giới trong văn học; đánh giá khách quan hiện tình phê bình và dịch thuật văn xuôi nữ trong bối cảnh văn học Việt Nam đương đại, trên cơ sở đó, đề xuất những phương pháp nhằm đánh giá văn học nữ thỏa đáng…

*

Tình trạng phụ nữ mất tiếng nói không chỉ trong sáng tác mà cả trong nghiên cứu văn học (phụ nữ không nên học nhiều). Ngay trong các bộ từ điển, số lượng tác giả nam giới cũng áp đảo nữ giới. Nếu hiểu từ điển, dạng Từ điển thuật ngữ văn học, Từ điển văn học… như một siêu diễn ngôn có khả năng điều khiển suy nghĩ của người dùng nó, tạo ra những chuẩn kiến thức, các khuân mẫu để suy tư thì phần lớn chúng vẫn do nam giới biên soạn. Như thế, quyền định nghĩa các vấn đề văn học, quyền giải thích hiện tượng văn học (tác phẩm, tác giả…), hay có thể nói đến một thứ “thế giới quan văn học” có sức mạnh định giá, định hướng, định đoạt cục diện, cơ bản vẫn thuộc về nam giới[1].

Lịch sử văn học là lịch sử của những tiếng nói và sự giải thích các tiếng nói. Lịch sử văn học được viết đến nay, về cơ bản, vẫn là lịch sử của nam tính. Các tác giả biên soạn văn học sử, những người kiểm kê di sản văn học, thực hiện các bộ hợp tuyển thơ văn nhằm giới thiệu và ghi công lao đối với văn học, hầu hết là nam giới: lịch sử được tạo ra theo nhãn quan và mô hình lý thuyết của nam giới; lịch sử được “sinh ra”, khai triển và giám sát theo tiếng nói và sự giải thích các tiếng nói của nam giới[2].

Nhìn vào các bộ văn học sử, chúng ta thấy, gần như chỉ hiện rõ là lịch sử văn học của nam giới - những người nắm giữ ngôn ngữ kiến tạo và diễn giải thế giới, những kẻ đại diện cho các giá trị văn học tiêu biểu. Ở đó, nữ giới nếu xuất hiện, phần lớn là đối tượng được miêu tả, trần thuật, chứ không phải là một chủ thể diễn giải tiến trình văn học của cộng đồng: họ không có tiếng nói riêng, không được “nói về chúng ta”, nói về chính bản thân, và nhất là chưa được những kẻ thống trị nhường lời để nói về diễn tiến văn học của chính giới nữ; diện mạo, thân phận, chức năng… của họ như thế nào vẫn phụ thuộc vào diễn ngôn của nam giới, vào lập trường chính thống. Chúng ta vẫn đọc rất nhiều tuyển tập văn học nữ do nam giới tổ chức, biên soạn[3]. Nếu xem các bộ văn học sử là một thế giới thì cái nhìn tổ chức nội dung và hình thức của nó là cái nhìn nam tính, nam quyền. Có thể kể đến cái nhìn của Dương Quảng Hàm (Việt Nam văn học sử yếu,1941), Nguyễn Sĩ Đạo (Đại Việt văn học lịch sử, 1941), Nguyễn Đổng Chi (Việt Nam cổ văn học sử,1942), Ngô Tất Tố (Việt Nam văn học, tập 1: Văn học đời Lý; tập 2: Văn học đời Trần, 1942), Nghiêm Toản (Việt Nam văn học sử: Trích yếu, tập 1,2, 1949), Vũ Đình Liên, Đỗ Đức Hiểu, Lê Trí Viễn, Huỳnh Lý, Trương Chính (Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam,tập 1,2, 1957), Văn Tân, Nguyễn Hồng Phong, Nguyễn Đổng Chi, Vũ Ngọc Phan (Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Q 1- Q5,195 7,1958,1959,1960), Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Văn Hoàn, Trần Thanh Mại, Vũ Đình Liên, Triêu Dương, Nguyễn Trác, Huỳnh Lý (Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam: Giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX,1964), Phạm Thế Ngũ (Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập 1- 3, 1961,1963,1965), Thanh Lãng (Bảng lược đồ văn học Việt Nam, tập 1,2, 1967), Nguyễn Lộc (Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX, 2 tập, 1976, 1978; Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX, 1971), Đinh Gia Khánh, Hoàng Tuệ, Cao Huy Đỉnh, Nông Quốc Chấn, Phan Đăng Nhật, Nguyễn Văn Hoàn, Nguyễn Khánh Toàn (Lịch sử văn học Việt Nam, tập 1, 1980), … Văn học sử Việt Nam chủ yếu được trần thuật, định giá, phân kỳ bởi các tác giả nam, mà điều này không thể nói không có quan hệ với ý thức hệ chính thống. Muốn thay đổi cục diện văn học, thay đổi diễn ngôn văn học sử, các nhà nghiên cứu nữ phải trực tiếp tham gia vào công việc này, phải tự mình giành lấy quyền định giá, quyền kiến tạo cấu trúc lịch sử văn học; họ cần được nói bằng chính ngôn ngữ của nữ giới. Diễn giải, đánh giá văn học nữ cũng nên thận trọng với cái nhìn phân tâm học, bởi trên thực tế, có không ít nhà nữ quyền (Kate Millett, Germaine Greer, Shulamith Firestone, Betty Friedan, Luce Irigaray, Julia Kristeva, Eva Figes…) chống lại lý thuyết phân tâm học[4] (đặc biệt là quan điểm của Sigmund Freud) quá đề cao đàn ông, nhìn nữ giới theo tiêu chuẩn, hình mẫu của nam giới/ nam tính. Trong Giới nữ Simone de Beauvoir chỉ ra rằng Freud “không quan tâm nhiều đến số phận phụ nữ, rõ ràng là ông sao chép bức tranh mô tả phụ nữ theo bản mô tả số phận đàn ông mà ông chỉ thay đổi một vài nét. Ông công nhận bản năng giới tinh của đàn bà cũng tiến hóa như của đàn ông; nhưng không nghiên cứu bản năng ấy trong tự thân của nó. Ông viết: “dục năng (libido) mang bản chất nam tính một cách thường xuyên và đều đặn, dù nó xuất hiện ở đàn ông hay đàn bà. Ông không đặt vấn đề dục năng của phụ nữ trong tính độc đáo riêng của nó…”, “chúng tôi không phủ nhận toàn bộ những đóng góp của phân tâm học và một vài khái luận tỏ ra bổ ích, nhưng bác bỏ phương pháp phân tâm học. Các nhà phân tâm học không bao giờ trực diện nghiên cứu dục năng của phụ nữ, mà chỉ xuất phát từ dục năng nam giới”, “chúng tôi đặt vấn đề số phận phụ nữ một cách hoàn toàn khác: chúng tôi đặt phụ nữ trong một thế giới giá trị và định cho hành vi của họ một khuôn khổ tự do”, “thật kỳ lạ là các nhà phân tâm học đã định nghĩa đàn ông với tư cách con người và đàn bà với tư cách con cái: mỗi khi người phụ nữ hành động với tư cách con người, người ta bảo họ bắt chước con đực. Nhà phân tâm học miêu tả với chúng ta, cô bé mong muốn đồng nhất hóa với bố hoặc mẹ, lưỡng lự giữa hai khuynh hướng nam tính và khuynh hướng nữ tính; còn chúng tôi thì quan niệm cô bé lưỡng lự giữa một bên là vai trò khách thể, vai trò người Khác do người ta đề xuất và một bên là sự đòi hỏi quyền tự do của cô ta[5].

Bàn thảo về văn học nữ (quyền) không phải là thời thượng (hoặc đã bị bỏ qua) mà là cái nhìn, hiểu biết hiện thời của chúng ta về giới nữ và văn học. Phần đông chúng ta dường như vẫn giấu mãi những bí mật về phụ nữ, chưa công nhận họ nói những sự thực về “bọn con trai”, chưa sòng phẳng chấp nhận những chủ đề của phụ nữ (những chủ đề cấm kỵ như tình dục…), thậm chí ngăn cản họ viết[6]. Nhà văn Assia Djebar, tác giả đầu tiên của khu vực Magreb (Bắc Phi) năm 2005 được bầu vào Viện Hàn lâm văn học Pháp, chia sẻ rằng: “Magreb là nơi không cho phép viết văn. Phụ nữ càng không được viết gì. Họ chỉ biết thêu thùa, xăm mình và dệt thảm. Viết là phơi mình trước nguy hiểm. Nếu bất chấp dư luận, người phụ nữ cứ viết để bày tỏ ý kiến thì người đó bị xếp ngang hàng với những vũ nữ tức những kẻ phóng đãng, kém phẩm hạnh”[7]. Nhà văn Taslima Nasreen (Ấn Độ) còn bị truy đuổi gắt gao chỉ vì dám đấu tranh đòi nam nữ bình quyền, dám phơi bày bộ mặt thật của những kẻ kẻ mượn danh thần thánh trói buộc và truy bức phụ nữ, dám lên án cái xã hội mà “đàn ông làm ra luân lí và luật lệ, đàn bà cúi đầu sống trải thân phận của một kẻ tôi đòi”, bà cay đắng nói với một phóng viên The Hindu rằng “tôi không biết điều gì đang đợi tôi, hoặc những kẻ quá khích sẽ giết tôi, hoặc Chính phủ Ấn Độ sẽ trục xuất tôi… tôi sẽ đi đâu bây giờ? Tôi không ở đây để chống lại đạo Hồi. Tôi chỉ viết vì quyền và tự do của phụ nữ…”[8]. Cùng mạch chuyện về sự kì thị, áp đặt, đe dọa trừng phạt ở đây cũng có thể nhắc đến ý kiến của Elif Shafak, nhà văn Thổ Nhỹ Kì. Bà kể “Khi bạn là một “nhà văn nữ với một gốc gác Hồi giáo” có một sự trông mong rằng bạn sẽ viết về căn cước của mình, về những phụ nữ ở những xã hội Hồi giáo. Một chức năng được gán cho tiểu thuyết từ thế giới phi Tây phương. Tác phẩm của bạn nên mang tính thông tin, tính đại diện. Một nhà văn Mĩ da trắng, đàn ông, trung lưu có thể thử nghiệm về hình thức và lựa chọn bất cứ chủ đề nào anh ta muốn, nhưng một nhà văn nữ từ Algerie hay Afghanistan nên sản sinh những truyện phù hợp trong một ô văn hoá nhất định.”[9]

Các nhà văn nữ hiện nay đang nỗ lực viết tiếp, thậm chí viết lại lịch sử văn học của chính giới nữ (và “của chúng ta”), đang thúc đẩy chúng ta nhận thức lại vấn đề quan hệ giữa văn học và phụ nữ; điều chỉnh, phá bỏ những cái nhìn lệch lạc, định kiến về nữ.

Chúng tôi cho rằng một khi văn học nữ quyền, nữ quyền luận và phê bình văn học nữ quyền ở Việt Nam được tiếp nhận rộng rãi, cởi mở hơn nữa, nó sẽ mở ra nhiều triển vọng sáng sủa trong việc hình thành một thứ mỹ học mới, một sự “giải các thiết chế phổ biến” trong đọc văn, sáng tác văn học…

Đó cũng chính là những thách thức lớn đối với các cách đọc văn học lâu nay.

Trần Thiện Khanh

 



[1] Dấu vết của tình trạng này không chỉ tìm thấy trong các luận án, luận văn, chuyên luận mà cả những tiểu luận, những bài báo ưa trích dẫn chuẩn kiến thức hoặc thích bám víu vào những “cơ sở lý luận”…. Dĩ nhiên, chính nam giới cũng bị những siêu diễn ngôn điều khiển, nhưng điều đó là một vấn đề khác.

[2] Theo Raman Selden” Trong những thiết chế hàn lâm, “lí thuyết” thì thường mang tính nam giới, thậm chí kiêu hùng; nó là đội tiên phong trí thức, cứng cỏi trong những nghiên cứu văn học. Những phẩm chất nam tính của sự nghiêm khắc, mục đích thúc đẩy và tham vọng quá độ tìm thấy ngôi nhà của chúng trong “lí thuyết” hơn là trong nghệ thuật mềm yếu thông thường về cách thông diễn phê phán. Những nhà nữ quyền thường phơi bày ra tính khách quan giả trá của khoa học nam giới. Những lí thuyết của Freud bị chỉ trích bởi sự phân biệt giới tính rành rành của nó, chẳng hạn, vì giả định của chúng rằng tính dục nữ giới hình thành bởi sự ganh tị “dương vật”. Nhiều phê bình nữ quyền mong ước tránh được “những sự cố định và xác quyết” của lí thuyết và phát triển một diễn ngôn nữ giới không thể bị ràng buộc về khái niệm như là thuộc về một truyền thống lí thuyết được thừa nhận (và bởi vậy có lẽ do nam giới tạo ra). Tuy nhiên, những nhà nữ quyền đã bị thu hút bởi những lí thuyết hậu cấu trúc kiểu Lacan và Derrida, có lẽ bởi vì chúng thật sự từ chối xác nhận một quyền lực hay chân lí “nam tính”. Những lí thuyết phân tâm học về những thúc đẩy bản năng đã hữu ích một cách đặc biệt với những nhà phê bình nữ quyền từng cố gắng để phát biểu sự đề kháng lật đổ và dường như vô dạng của vài nhà văn và phê bình nữ đối với những giá trị văn học do giống đực thống trị…” (“Phê bình nữ quyền”, Tạp chí Sông Hương số 277, 3- 2012, Hồ Thị Dương Liễu dịch, Nguyễn Tiến Văn hiệu đính)

[3] Ở Việt Nam, nhiều tác giả nữ được độc giả, truyền thống biết đến do sự chú ý giới thiệu của các tác giả nam khác, nhờ vào những lời đánh giá có cánh của nhà phê bình nam; đây đó chúng ta vẫn nghe thấy bên lề các giải thưởng (có vẻ không phân biệt giới tính) câu chuyện về sự ưu ái đặc biệc tác giả nữ của các nam giám khảo: vận động thêm một lá phiếu, đấy là một cơ chế định đoạt diện mạo, vị thế tác giả, tác phẩm này so với tác giả, tác phẩm khác. Danh sách Hội đồng chung khảo nhiều giả thưởng thường là hay phần lớn là tác giả nam, các tác giả của một ban chấp hành thực quyền nào đó. Chúng ta cũng chưa có một giải thưởng văn học dành riêng cho nữ có sức ảnh hưởng mạnh mẽ và tồn tại được thời gian dài. Có thể, độc giả còn nhắc nhiều đến sự kiện năm 2007, Công ty Phát triển Truyền thông EVA (Evacom) công bố thành lập Quỹ hỗ trợ xuất bản Thơ EVA Việt và Giải thưởng mang tên “Lá Trầu” dành cho các nhà thơ nữ đương đại, song số phận của giải thưởng này lạ là một câu chuyện buồn (một năm sau Quỹ Lời vàng Eva tuyên bố tạm ngưng). Hoặc nhắc đến chuyện một công ty kinh doanh sách nọ, dựng lên giải thưởng, mời một số tác giả nữ có thành tựu tham gia hội đồng thẩm định giải thưởng nhưng lại muốn thao túng, điều khiển giám khảo

[4] Simone de Beauvoir cho rằng quan điểm của các nhà phân tâm học (cả nam lẫn nữ) là quan điểm đàn ông. Các khái niệm về tính dục, quyền uy… của phân tâm học là sản phẩm của nền văn hóa nam trị. Những khái niệm đó thể hiện tư tưởng lấy nam giới làm trung tâm, coi thường đàn bà trong truyền thống triết học phương Tây mà khởi nguồn gốc từ Aristotle (“Đàn bà là đàn bà bởi một sự thiếu thốn nhất định về những phẩm chất”)

[5] Giới nữ (tập 1, Nguyễn Trọng Định, Đoàn Ngọc Thanh dịch), Nxb. Phụ nữ, Hà Nội, 1996, tr. 51,tr. 59,tr. 64

[6] Ở đây có thể liên tưởng tới việc ngừng tổ chức hội thảo “Phụ nữ và chiến tranh: một hướng tiếp cận xuyên quốc gia”, một diễn đàn dự định sẽ “điểm lại những công trình đã được thực hiện về đề tài phụ nữ và chiến tranh, từ những nghiên cứu sử học, các bảo tàng chuyên đề về phụ nữ đến các tác phẩm văn học nghệ thuật.” “nhằm tạo cơ hội cho các giảng viên và các nhà nghiên cứu về giới, về lịch sử và về các ngành khoa học xã hội ở Việt Nam và quốc tế cùng thảo luận về phương pháp nghiên cứu phụ nữ và chiến tranh từ các nguồn tư liệu lịch sử, nhân chứng và từ các tác phẩm văn học, âm nhạc, điện ảnh”, “hướng đến xây dựng một mạng lưới nghiên cứu xuyên quốc gia về lãnh vực phụ nữ và chiến tranh bao gồm cả thời hậu chiến”

[7] Trọng Hùng dịch. “Nhà văn nữ Angiêri được bầu vào Viện hàn lâm Pháp”, Văn nghệ số 32, ngày 6 - 8 - 2005;

[8] Dạ Lan Hương. “TaslimaNasreen, nhà văn bị truy đuổi gắt gao”, Văn nghệ trẻ số 48, ngày 2-12- 2007

[9] William Skidelsky. “Elif Shafak: “Muốn đàn bà viết, đàn ông đọc!” (Hồ Liễu dịch). http://sgtt.vn/Van-hoa/163127/Elif-Shafak-%E2%80%9CMuon-dan-ba-viet-dan-ong-doc%E2%80%9D.html

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác