“Thương lượng với thời gian” từ góc nhìn thi pháp

Dù đã ra đời cách đây bảy năm (2005) nhưng “Thương lượng với thời gian” vẫn là tập thơ “mới nhất” của nhà thơ Hữu Thỉnh. Xung quanh tập thơ này có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng đây là một tập thơ đáng đọc, vì chính ở đây, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra một Hữu Thỉnh đang tự đổi mới mình về khía cạnh thi pháp.

“Thương lượng với thời gian” từ góc nhìn thi pháp - ảnh 1

Từ mạch nguồn truyền thống

Tập thơ “Thương lượng với thời gian” do Nhà xuất bản Hội Nhà văn xuất bản năm 2005, dày khoảng 100 trang, với 56 bài thơ chia làm ba phần. Ngoài thơ ra, tập sách còn có “Lời chú của tác giả” với những thông tin rất đáng chú ý: “Tập sách nhỏ này tập hợp những bài thơ tôi làm rải rác trong vòng hơn mười năm qua... Trong quá trình xuất bản, tác giả đã xem lại và sửa chữa theo góc nhìn của nhận thức mới... Trong các trường hợp sửa chữa, xin được lấy văn bản trong tập sách này là chính thức...”(1)

Có thể nói đây là một trường hợp hy hữu, mà tập thơ cần phải có “Lời chú giải của tác giả”. Chắc chắn sự cẩn trọng của tác giả là không thừa và ít nhiều cũng hé lộ cho chúng ta thấy nhà thơ Hữu Thỉnh rất tôn trọng độc giả và cũng là người có trách nhiệm với chính mình. Ngay cả việc chia tập thơ ra làm ba phần đã thể hiện khá rõ ý đồ của tác giả. Bởi lẽ trong phần hai và ba là những bài thơ về đồng chí, đồng đội, người thân... và những bài thơ tình vốn là những đề tài thuộc sở trường của nhà thơ Hữu Thỉnh đã được khẳng định từ cách đây hàng chục năm.

Ở những tập thơ trước, giọng thơ của ông thuộc hai mảng đề tài trên dường như không trộn lẫn được với ai. Có thể nói không cần biết tên tác giả, những người quen thẩm thơ, đặc biệt là đối với các nhà thơ mà tên tuổi của họ đã được khẳng định từ thời chống Mỹ như: Phạm Ngọc Cảnh, Hữu Thỉnh, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Đức Mậu, Anh Ngọc, Vương Trọng... sẽ không mấy khó khăn để nhận ra chất giọng thơ của từng người.

Điều ấy thể hiện khá rõ trong các bài thơ ở hai phần của “Thượng lượng với thời gian”. Mảng thơ tình ở phần ba, với cách nói thủ thỉ, nhưng khá đằm, theo cách mà dân gian gọi là “nói đây chết cây Hà Nội” là chất giọng thơ của Hữu Thỉnh, có từ những tập đầu tiên:

“Hai nhà lưng dựa vào nhau

Cành xoan bên ấy ngả đầu sang đây 

Lá sả đấy gội đây say

Ru em bên ấy bên này thiu thiu 

Hôm qua bên ấy lẩy Kiều

Bên này căm mãi cái mưu Tú Bà 

Mải nghe chênh chếch trăng tà

Đầu hồi bên ấy ngả qua bên này 

Sáng ra nắng trĩu cành cây

Mái lá bên này choàng cả bên kia” 

(Hai nhà)

Cần lưu ý đây là bài thơ ông viết cách đây đúng tròn một nửa thế kỷ (1962). Còn đây là bài thơ tình ông viết sau đấy 20 năm (1982):

“Chẳng có ai dạy hoa

Nở cách nào thì thắm

Thế mà họ khuyên em

Đừng yêu anh, bất hạnh

Em bướng bỉnh như trời

Nối sào không chịu thấp

Anh lầm lì như đất

Ai nói gì cứ nâu”

(Hạnh phúc)

Sự bướng bỉnh, kiêu kỳ của em như cây sào được nối dài thêm, làm sao có thể thấp xuống được. Còn anh thì lầm lì gan cóc tía, như màu nâu của đất. Vậy cớ gì còn phải nghe ai khuyên. Chúng mình tự quyết định lấy tình yêu, hạnh phúc của đời mình thôi.

Ở phần hai của tập thơ, vẫn với giọng nói hồn hậu, cảm thông và chia sẻ với những khó khăn, sự hy sinh, mất mát của đồng chí, đồng bào mà ta đã gặp ở những tập thơ trước đây của ông:

“...Mái lá, tường cũng lá

Trời trong chum nước chiều

Mộ con xây trước cửa

Chim xà day dứt kêu

Hậu cứ, đơn sơ vậy

Quân đi và quân về

Bóng vườn ôm chiến trận

Biển đầy thương Bến Tre...”

(Bóng dừa)

Hay:

...Đất nghỉ chút thảnh thơi sau vụ gặt

Hả hê chưa, đồng thoáng, ếch đang kêu

Tôi cúi nâng Hoà Bình lên một tuổi

Lính xa quê sum họp với hoa bèo...”

(Mưa trên lộ 4)

Tuy nhiên ở phần hai có một bài mà nhà thơ Hữu Thỉnh viết tặng nhà thơ Chính Hữu, người đồng chí, đồng đội của ông cùng ở Nhà số Bốn trước đây khá xúc động và hay, vì nó được thể hiện bằng một cách nói mới, như là sự báo hiệu một điều gì đó hướng đến sự đổi mới thi pháp của ông:

“Anh là khách quen của những buổi chiều

Bạn thân cùng im lặng

Anh chỉ mong tạo ra nhiều khoảng trống

Khoảng trống dịu dàng quà tặng của mùa thu

...

Thế kỷ sóng to

Anh lặn qua tận đáy

Lấy khoan dung làm chiếc phao bơi

Khiến cay đắng cũng nhuốm màu tha thứ

...

Cây vẫn đây mà năm đã qua

Xuân lại đến giúp Anh làm gậy chống”

(Gửi người bộ hành lặng lẽ)

Giản dị, hồn hậu và có khi pha chút hào sảng, nhưng vẫn đầy ắp sự hàm ơn đồng chí mình đã đem đến cho nhà thơ một bài học quý giá về lối sống và lẽ sống ở đời. Đấy cũng là những đặc trưng thi pháp khá rõ của Hữu Thỉnh trong mảng thơ “phản ánh” ở phần hai của tập thơ này.

 

Đến việc đổi mới thi pháp

Đọc kỹ những bài thơ ở phần một, chúng ta sẽ không quá khó để nhận ra một Hữu Thỉnh khác về cách cảm, cách nghĩ cùng với ngôn ngữ và hình thức thể hiện. Phần một là mảng thơ biểu hiện tâm sự cá nhân trước thời cuộc, mà người ta quen gọi là thơ “thế sự”. Đáng lưu ý là mảng đề tài này xuất hiện nhiều hơn ở “Thượng lượng với thời gian”, so với các tập thơ trước của ông. Để diễn tả những cung bậc khác nhau của tâm sự cá nhân, nhà thơ nhận thấy không thể dùng hình thức biểu cảm quen thuộc trước đây nữa, cũng như không thể nương nhờ vào hệ hình thẩm mỹ truyền thống để diễn tả những ý tưởng, quan niệm mới của chủ thể sáng tạo trong lĩnh vực thi ca. Ở đây dường như không còn đất cho cách nói giản dị, đôn hậu và hào sảng, cũng không thể thủ thỉ, nhỏ nhẹ như khi tâm sự với tình nhân được. Sự ý thức về thời gian và thời cuộc là rường cột không cho phép nhà thơ kề cà, mải mê réo rắt như lúc xuân thì, mà cần phải có cách thể hiện riêng.

Sang thế kỷ mới, ấy cũng là lúc người ta cần phải có cách nhìn mới trước cuộc sống và cả trong thi ca với bao đổi thay nhiều khi trái chiều, cùng sự trớ trêu khiến người ta không thể nào hình dung trước được:

“Sang thế kỷ với con tàu quá rộng

Hoa hồng sang, gai nhọn cũng sang

Tay vun cây và bão dập mùa màng

Sông ôm sóng cả bên bồi bên lở

Thương cảm, phản thùng, khoan dung, thớ lợ

Vé trên tay thanh thản bước lên tàu

Kẻ chậm chân có thể là mây nõn

Mải ngu ngơ với chim mới ra rang

Kẻ chậm chân có thể là anh nữa

Trái tim cồng kềnh thơ phú đa mang...”

(Sang thế kỷ)

Đất trời đổi thay, lòng người thay đổi, âu cũng là lẽ thường. Chỉ có điều, người nghệ sĩ thường nhạy cảm hơn trước những cơn ba đào của lịch sử. Sang thế kỷ mới là:

“...Va quệt và xây xát

Nhân tình lầm lũi đi”

(Thấy)

Ngay cả ở chốn thâm nghiêm, ít biến đổi nhất thì trước những biến động của lịch sử, thời cuộc cũng chẳng thể nào ngồi yên mãi được. Ở vào cái thời mà:

“Thu hết mọi tiếng chuông thành một sắc áo vàng

Cõi thiện xa xăm câu kinh vượt dốc

Bao nhiêu kỳ quan che không kín những gì lầm lạc

Mây vừa đi vừa ngoái lại trông người...”

(Ngẫu cảm)

Sự chân thành, trung thực là một phẩm chất không thể thiếu đối với người nghệ sĩ, nên anh ta không thể ngay lập tức vứt bỏ nó đi, nhưng lại cũng không thể nào giữ nguyên cách nghĩ cùng với sự phản ánh nó vào trong tác phẩm thơ trong  khi thời thế đã đổi khác. Cái khó không phải ở sự thay đổi mà là thay đổi như thế nào:

“Tôi như cây biết giấu lá vào đâu

Giữa gió bụi cõi người

Nếu giấu lá thì còn đâu bóng mát

Bóng mát mà che không nổi chính tôi...”

(Bóng mát)

Dẫu biết rằng nhà thơ luôn cố níu lấy những điều tốt đẹp ấy dành cho con người, cho cuộc đời, nhưng cuộc sống luôn biến đổi không ngừng:

... Mặc ai xô dạt mỗi ngày

Múc đau lòng giếng vẫn đầy sao hôm...”

(Những người đi lại phía tôi)

Ở phần một của tập thơ ta thấy ngày càng thưa vắng hơn cách nói giản dị, thủ thỉ, mạch thơ không còn bồng bềnh, dào dạt và hào sảng như những gì vốn là thế mạnh và đã tạo nên một giọng thơ riêng của nhà thơ Hữu Thỉnh hàng chục năm nay. Trong phần này, giọng thơ vần vè, câu thơ nà nuột đã được thay bằng cách nói đầy suy tưởng, trăn trở, chiêm nghiệm, đôi khi chát chúa, nhói đau là những điều ta rất ít thấy ở những tập thơ trước của ông:

“...Tôi cố lách qua cặn lắng của đời mình

Dưới đáy cốc của hy vọng”

(Cặn lắng)

Cách nói gọi thẳng tên và bản chất sự vật, hiện tượng vốn là một cái gì đó còn khá xa lạ với thơ Việt truyền thống, nhưng thơ Việt hiện đại lại không cho phép mãi giam mình trong cái “cũi” chật chội của cách nói truyền thống. Dù muốn hay không nó buộc phải dung nạp thêm những cách nói mới trên nền của những cái truyền thống đã được kiểm chứng qua thời gian và không gian.

Thơ nỗ lực làm mới mình trước hết là ở “góc nhìn của nhận thức mới” rồi mới đến giọng điệu, ngôn từ của thơ, tức là ở khía cạnh thi pháp, trên cơ sở của nội dung đề tài, cái được phản ánh quy định. Qua “Thượng lượng với thời gian” nhà thơ Hữu Thỉnh đã cho ta thấy sự nỗ lực cá nhân theo cách riêng của mình trong dòng chảy thơ Việt hiện đại. Bài thơ “Thương lượng với thời gian” là sự thể hiện rõ nhất điều này:

Buổi sáng lo kiếm sống

Buổi chiều tìm công danh

Buổi tối đem trí khôn ra mài rũa

Tỉnh thức

Những hàng cây bật khóc”.

Đổi mới thi pháp thơ là biểu hiện cuối cùng của sự đổi mới về quan điểm thẩm mỹ. Với các nhà thơ thuộc thế hệ chống Mỹ, cái anh hùng, cái cao cả thường đồng nghĩa với cái đẹp. Vì thế cả một thế hệ nhà thơ giai đoạn này ra sức ngợi ca cái anh hùng, cái cao cả được nảy sinh từ hào khí của cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mỹ của dân tộc ta. Dường như đối với thế hệ các nhà thơ giai đoạn này, cái buồn, cái xấu, những tâm sự cá nhân... “bị đuổi” ra khỏi quan niệm thẩm mỹ của họ, vì thế các nhà thơ rất ít quan tâm và phản ánh nó như là một phần của cái đẹp hoặc chí ít cũng phản ánh nó trên quan điểm, tinh thần của cái đẹp.

Có nhìn nhận như thế mới thấy được sự nỗ lực của một người đã từng xuất bản gần chục tập thơ và trường ca; đã từng nổi tiếng từ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; đã từng làm thơ hơn bốn mươi năm... mà vẫn còn ý thức được cần phải đổi mới thi pháp với tư cách là hình thức cuối cùng của quan điểm thẩm mỹ và như là một cứu cánh của thơ Việt hiện đại, nhà thơ Hữu Thỉnh quả cũng là một nhà thơ “thức thời” thật. 

Đỗ Ngọc Yên

----------------

(1) http://thunguyetvn.com

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác