Thú chơi thơ

(Toquoc)- Chơi thơ là sinh hoạt lý thú của làng thơ, làm cho người nghe sảng khoái và yêu thêm sự bí ẩn và kỳ diệu của thơ.

Thú chơi thơ - ảnh 1Chơi thơ rất phổ biến ở Trung Quốc và Việt Nam từ xưa đến nay. Chơi thơ (trong sáng tác) là trò chơi trí tuệ và là thú vui tao nhã lúc trà dư tửu hậu. Muốn chơi thơ người chơi phải rành luật thơ, lại phải thâm thúy, nhạy cảm mới ứng đối được. Chơi thơ là chơi chữ với lối hồi văn liên hoàn, họa vần, họa chữ, nói lái, độc vận, điệp từ, hay chơi cấu trúc thơ. Sách “Chơi chữ Hán Nôm” (NXB Thuận Hóa, 2002) của Hải Trung giới thiệu hàng chục cách chơi cấu trúc thơ của Trung Quốc, Việt Nam xưa như dạng “thuận nghịch đọc”, hay “Thuận Hán, nghịch Nôm”, cấu trúc vòng tròn, xoắn ốc, hình Hà Đồ, thơ hình núi.v.v.. Ví dụ bài thơ “Vũ Trung Sơn Thủy” của vua Thiệu Trị chỉ 56 chữ Hán, mà có thể đọc đến 64 bài bát thất ngôn bát cú, 64 bài thất ngôn tứ tuyệt. Nhưng chơi thơ như vua Thiệu Trị là cực khó, đa số các cụ đồ hay chữ thường chơi thơ thuận nghịch độc. Hàn Mạc Tử từ nhỏ đã có bài thơ “Cửa sổ đêm khuya”, có thể đọc ngược xuôi theo 6 cách: Hoa cười nguyệt rọi cửa lồng gương / Lạ cản buồn thêm nỗi vấn vương / Tha thiết liễu in hồ gợn sóng / Hững hờ mai thỏang gió đưa hương / Xa người nhớ cảnh tình lai láng / Vắng bạn thơ ngâm rượu bẽ bàng / Qua lại yến ngàn dâu ủ lá / Hòa đàn sẵn có dế bên tường”. Đọc ngược: “Tường bên dế có sẵn đàn hòa / Lá ủ dâu ngàn yến lại qua... Bỏ hai chữ đầu mỗi câu sẽ có bài thơ ngũ ngôn, rồi lại đọc xuôi, đọc ngược (Nguyệt rọi cửa lòng gương / Buồn thêm nỗi vấn vương...). Rồi bỏ hai chữ cuối mỗi câu lại có bài thơ mới, đọc xuôi đọc ngược... Bài thơ “Trách bạn phụ tình” của Thảo Am lại chơi chữ theo lối nói lái:

Mau sai lời nguyện ước mai sau

Niết bỏ nhau thà nỏ biết nhau

Nẵng đổi mưa thay nhiều nỗi đắng

Chán chưa tình lệ chứa chan sầu

(Nói lái miền Trung: Mau sai - mai sau, Nắng đổi- nỗi đắng, chán chưa - chứa chan...). Chơi nói lái rất diệu nghệ, nhưng thơ vẫn tỏ được cái xót xa, tâm cảm. Cụ Nguyễn Khoa Vy còn có bài thơ “Si tình mà trách mình” độc vận, điệp phụ âm Đ chữ đầu rất độc đáo: Độc địa đừng đưa đỗi đớn đau / Đây đà đoán đặng đủ đuôi đầu / Đa đoan đã đắng đời điên đảo / Đeo đuổi đành đi đến đến đâu”.

Bé Bê Lim, tức Hoàng Dạ Thi, con gái út của hai thi sĩ Hoàng Phủ Ngọc Tường- Lâm Thị Mỹ Dạ, làm thơ từ lúc chưa biết chữ. Sau mấy chùm thơ của em được in trên báo, các nhà báo, nhà thơ liên tục đến nhà hỏi chuyện để viết bài khen. Em sợ quá, làu bàu với mẹ: “Ta làm thơ để chơi, có chi mà cứ phỏng vấn, phỏng vấn!”. Đúng là có thứ thơ để chơi thật. Các nhà thơ Việt Nam sau này đa số nghiêm túc, là “nhà thơ nhà nước”, làm thơ để giáo dục, nên ít chơi thơ. Nhưng cũng có không ít người chơi thơ rất thâm hậu. Năm 1992, nhà thơ Xuân Sách gửi ra Huế tặng tôi tập thơ “Chân dung nhà văn” do NXB Văn học ấn hành. Tôi đọc mà cười ra nước mắt với lối chơi thơ hóm hỉnh, sâu sắc và rất hiện đại. Bằng cách ghép tên những tác phẩm của mỗi nhà văn, Xuân Sách đã ký họa nên 100 bức chân dung nhà văn bằng những bài thơ ngắn. Ví dụ: Chim chơ rao cất cánh ngang trời / Tình như chớp trắng cháy liên hồi / Đám mây cánh vạc tan thành nước / Mà đất ba-zan vẫn khát hoài. Đọc thơ, bạn có thể nghĩ ngay ra đó là chân dung nhà thơ nào ! Cũng có thứ thơ làm để chơi thật. Có lần nhà văn Trần Dần kể với tôi về người bạn thơ ở Hà Nội, ông gọi là “thi sĩ Chúc Bờ sông” vì ông ấy ở bên bờ Sông Hồng. Thi si Chúc có nhiều bài thơ cực ngắn, viết trên tờ giấy khổ A4, xong rồi cất vào hòm, bạn bè tới vui chén rượu thì lấy ra “ngắm”. Ví dụ có bài có cái tựa đề là Vợ chồng. Còn cả bài thơ chỉ có một chữ: Xong!. Trần Dần bình: Vợ chồng - Cái mớ bòng bong ấy gọi là xong!. Nhưng Phùng Quán lại chê là lời bình quá dài dòng! Đó là một cách chơi thơ rất tài tử. Thơ Bút Tre (của tác thật và tác giả) cũng là một thứ thơ chơi thâm hậu. Với cách ngắt vần lục bát trái khoáy, nhà thơ đã biến mọi thứ nghiêm túc thành trò cười: “Con ruồi là giống hiểm nguy / Một chân của nó rất vi trùng nhiều”...

Đa số thơ chơi là thơ xướng họa. Nhà thơ Lý Hoài Xuân kể, hồi chung tỉnh Bình Trị Thiên, một hôm trong một cuộc họp có cả vợ chồng Hoàng Phủ Ngọc Tường, Lâm Thị Mỹ Dạ cùng dự. Nhà thơ Văn Lợi liền ứng tác viết vào mảnh giấy bài thơ bốn câu, rồi chuyền cho Mỹ Dạ: “Lâm vào cảnh sắc ngàn xưa / Thị vàng rơi xuống ngẩn ngơ lòng người / Mỹ nhân săc nước hương trời / Dạ nào chẳng muốn trao lời tri âm.”. Bốn câu thơ những chữ đầu mỗi câu kết thành tên Lâm Thị Mỹ Dạ. Mỹ Dạ chưa kịp đọc xong, Hoàng Phủ ngồi cạnh, liếc đọc rồi làm ngay bài thơ họa chuyển cho Văn Lợi, cũng bốn chữ đầu thành tên Lâm Thị Mỹ Dạ: Lâm ly kẻ mặt trau mày / Thị thành son phấn làm bay hương đồng / Mỹ miều má thắm môi hồng / Dạ còn trong sáng như dòng sông quê”. Văn Lợi liền ứng tác tiếp bài thơ khác. Lần này bốn chữ đầu bốn câu thành tên Hoàng Phủ Ngọc Tường: Hoàng hôn về lối xóm / Phủ bóng người gái quê / Ngọc ngà nơi thôn dã / Tường tận càng đam mê. Hoàng Phủ đọc xong, nhẹ nhàng đưa cho Lâm Thị Mỹ Dạ. Mỹ Dạ đỏ mặt, rồi ứng tác ngay bài họa:

Thú chơi thơ - ảnh 2
(ảnh Internet)
Hoàng cung xưa vẫn còn đây

Phủ rêu năm tháng xanh dày thời gian

Ngọc kia lũ đã cuốn tràn

Tường giăng kin mít bóng hoàng hôn buông

Cũng có lối chơi thơ chơi chữ không phải để trêu đùa mà để gửi gắm, tỏ tình. Nguyễn Bính có bài thơ “Không hẹn ngày về”. Ngưòi ta bảo rằng, bài thơ này viết tặng nữ sĩ Anh Thơ. Không biết có đúng không, nhưng trong bài thơ 14 câu, nếu ghép chữ đầu của mỗi câu lại ta sẽ đọc được một bức thư tình rất ngắn: “Anh chỉ muốn hôn môi Anh Thơ. Đàn ông ai chẳng có tính ấy”: Anh đi không hẹn ngày về / Chỉ đào ai buộc, tóc thề ai chôn / Muốn gì, em nuốn gì hơn / Hôn hoàng nay lại hoàng hôn mai ngày / Môi khô vóc liễu thêm gầy, / Anh xa, ai kẻ đôi mày cho ai ? / Thơ không làm trọn một bài / Đàn không gẩy trọn một vài khúc ngâm / Ông tơ lầm lẫn nên nhầm / Ai cho sum họp, ai làm chia phôi / Chẳng thà đứng hết duyên đôi/ Có yêu nhau lắm để rồi xa nhau / Tính năm tính tháng thêm rầu, / Ấy hai con én ngang lầu bay bay. Tỏ tình như thế thật táo bạo. May là bài thơ tình, nếu không thì gay lắm! Theo Giai thoại Việt Nam của Vũ Ngọc Khánh thì “Cô gái được tặng thơ hiểu ra và bất giác ôm hôn lại. Dấu son in trên má Nguyễn Bính. Nguyễn Bính mấy ngày không rửa mặt, từ Bắc Giang về Hà Nội, để giữ dấu son trên má”.

Tết vừa rồi, mở e.mail, tôi nhận được một bài thơ rất lạ nửa tiếng Việt pha nửa tiếng Pháp. Tôi đang ngồi uống rượu Tết với người bạn, ai cũng mù tiếng Pháp, bèn phôn cho người gửi e.mail là Thầy Gạc, một ngời rất giỏi tử vi ở Huế đến giải nghĩa. Bài thơ kể tâm sự một thiếu phụ chợ Đông Ba xưa có chồng là quân đội Pháp. Khi quân Pháp thua về nước, hai người hai phương trời cách biệt. Bài thơ song thất lục bát dài tới 28 câu, có những câu rất tình cảm: De puis (từ khi) thiếp bén duyên chàng / Plaisir (thỏa thuê) tính lại nồng nàn mấy khi / Mission (nhiệm vụ) chàng đã fini (chấm dứt) / Trách Le Ciel (ông trời) khéo bày chi lo lắng .../ Bonheur (hạnh phúc) ai nỡ bẽ bàng thế ni / Lạnh lùng với chiếc chemise (áo sơ mi) / L'autome (mùa thu) trằn trọc au lit (giường khuya) một mình...Tôi thấy cách chơi thơ theo kiểu ” giao lưu Việt- Pháp” như thế là ngộ lắm!

Thời hiện đại, nhiều nhà thơ cũng dùng lối “chơi chữ” để gửi gắm tên tuổi mình, tên tuổi “đối tác” trong các câu thơ. Bí ẩn này ít có người biết, nhưng “người trong cuộc” thì bồi hồi lắm. Ví dụ: Lá cọ vô tình quệt vào tay tôi (thơ Hoàng Vũ Thuật, chữ tình là chữ gửi); hay “Mười sáu bậc âm thanh kỳ diệu / Đưa ta bay lên đến tận cung Hằng” (Phương Xích lô, chữ Hằng là tên vợ nhà thơ đã chia tay); hay câu thơ “Phượng ơi em đến như không ...” hay “Mây ùn lên nỗi niềm / Vương từ câu lý ấy...” của Hải Kỳ (chữ Phượng, chữ Lý là những chữ gửi).v.v.. Lối chơi thơ này không khó và chưa tài tử lắm, nhưng cũng giúp ta nhận ra được sự tài hoa và “trích ngang tình yêu” của mỗi nhà thơ.

Ngô Minh

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác