Thơ xuân Hàn Mặc Tử mới tìm lại trên báo Công luận

 

(Toquoc)- Thi sĩ Hàn Mặc Tử (1912-1940), còn có các bút danh Hàn Mạc Tử, Minh Duệ Thị, P.T, Phong Trần, L.T, Lệ Thanh, Lệ Thanh nữ sĩ, Lệ Giang, Sông Lệ, Mộng Cầm, Trật Sên, Cụt Hứng, Foong Tchan, Anh Hoa, Trọng Minh, Tịnh Nhơn, Cô Đài Trang, Cô Bạch Bình Giang…; từng cộng tác với các báo Tiếng dân, Phụ nữ tân văn, Thực nghiệp dân báo, Sài Gòn, Tân thời, Người mới, Ngày nay, Tin tức, Công luận, Trong khuê phòng, Đông Á tân văn, Impartial, Opinion, La Lutte

Trong quá trình sưu tập tài liệu cho công trình “Người đương thời Thơ mới bàn về Thơ mới” và “Di sản văn học Quốc ngữ đến 1975”, chúng tôi vừa tìm thêm được số lượng lớn tác phẩm của Hàn in trên báo Công luận (CL, Sài Gòn, 1916-1939) ngoài số đã từng công bố. Điều quan trọng hơn, chúng tôi đã phát hiện, sưu tập thêm được trên năm chục bài thơ của Hàn Mặc Tử sáng tác và in trên báo Công luận trong khoảng thời gian 1932-1939. Hình thức nghệ thuật những bài thơ này khá phong phú, phần lớn làm theo thể Đường luật, một số bài theo lối thơ tự do và các thể hồi văn, ngũ ngôn, lục ngôn, thất ngôn xen lục ngôn, thủ vĩ ngâm, song thanh, hát nói, từ khúc, lục bát, song thất lục bát… Về nội dung, phần nhiều các bài thơ hướng tới các giá trị nhân văn, xướng họa với chí sĩ Phan Bội Châu và bạn bè (Quách Tấn, Tùng Ngâm, Ngọc Hồ, Trần Bình Lộc, các bạn ở Phú Mỹ - Bình Định và cả những tứ thơ Gửi cho người không quen biết, Phút mơ màng, Tương tư, Canh khuya nhớ bạn)…; mở rộng lối thơ du ký, đề vịnh thắng cảnh non sông đất nước (xứ Huế, Phan Thiết, chùa Ông Núi - Bình Định), thú chơi tao nhã và vẻ đẹp bốn mùa (Cầm, Kỳ, Thi, Tửu; Xuân, Hạ, Thu, Đông; Phong, Hoa, Tuyết, Nguyệt)…; tiếp nối dòng thơ hiện thực, phản ánh tâm trạng thi nhân trước hiện tình xã hội (với các bài Đêm khuya ở nhà quê, Làm ruộng tự thuật, Than nghèo, Đau mới dậy, Đóng tuồng, Sống khổ và phấn đấu) v.v…

Vào giai đoạn sáng tác ban đầu (1933-1935), hầu như năm nào Hàn Mặc Tử cũng có những bài thơ viết về ngày tết và thơ xuân với nhiều cung bậc tình cảm khác nhau. Có khi nhà thơ trẻ tròn 20 tuổi đi vãn cảnh chùa mà tưởng như mình lạc bước cõi Thiên Thai và có được tứ thơ đề vịnh liên khúc Ngày xuân đi chơi đề thơ ở chùa gồm bốn đoạn:

I

Tức cảnh đề thi trước cửa chùa,

Mỹ nhân năm ngoái lạc vào chùa.

Quanh hồ cỏ mọc hoa sen vắng,

Phưởng phất mùi hương ngọn gió đưa.

           

II

Gió đưa tiếng kệ thoảng bên tai,

Đề vịnh tiêu dao trước Phật đài.

Nét chữ đan thanh còn rỡ rỡ,

Phong lưu gấp mấy bạn Thiên Thai.

 

III

Một năm tu đến một lần thôi,

Một bữa cơm chay cũng khó coi.

Một chén trà dâng chưa phải cách,

Một câu: mô Phật, một câu mời.

 

IV

Êm đềm mát mẻ khí ban mai,

Đến Phật nghe câu sướng lỗ tai,

Bảy bước thành thơ mau mắn lạ,

Ra về tưởng lạc lối Thiên Thai.

(Công luận, số 2587, ra ngày 26+27-2-1933)

Trung thành với lối thơ đề vịnh “phong, hoa, tuyết, nguyệt”, Hàn Mặc Tử có chùm thơ bốn bài thơ gắn với cảnh mùa xuân và đều in trên báo Công luận, số 2599, ra ngày 12+13-3-1933). Bài thơ có tựa đề Phong dẫn thi nhân vào giấc mộng, ngỡ mình cũng như vua Sở Tương Vương du ngoạn đến núi Vu Sơn và mơ được hưởng thú chăn gối với thần nữ:

Gió vàng lay động bức rèm thưa,

Nắng rọi sương tan mát mẻ chưa.

Tỉnh giấc Vu Sơn cười chúm chím,

Tóc mây tha thiết chạnh lòng ưa.

Bài Hoa dẫn thi nhân lạc lối Đào Nguyên tiên cảnh:

Hương thơm ngào ngạt nức hương lân,

Một đóa trà mi lắm vẻ xuân.

Lạc bước Đào Nguyên mường tượng mãi,

Đôi hoa dưới nguyệt cũng tinh thần.

Bài thơ Tuyết đậm đặc từ ngữ Hán và phong cách Đường thi:

Gốc biển chồi lan tuyết phủ đầy,

Chăn cừu quấn chặt mộng còn say.

Nhành mai rã rượi theo chiều gió,

Vách quế phòng tiêu lạnh dấu giày.

Bài thơ Nguyệt cũng vẫn là lối thơ ước lệ, nhuần nhuyễn trong những điển tích khuôn thước, ước lệ:

Cung Thiềm lững thững nguyệt đêm thanh,

Rọi đóa hoa khôi thật hữu tình.

Một khúc dịu dàng êm ái lạ,

Lam Kiều có khách đợi năm canh.

Trên thực tế, Hàn Mặc Tử còn có chùm bài Phong, Hoa, Tuyết, Nguyệt đặt dưới nhan đề chung Ngâm vịnh khác xa với bốn bài trên đây.

Hai năm sau, Hàn Mặc Tử có chùm ba bài thơ cùng viết về cảnh ngày tết. Bài Ăn tết phảng phất giọng thơ trào phúng gắn quyện với trữ tình kiểu Nguyễn Khuyến, Tú Xương:

Tết nhứt nhà ai khéo khéo bày,

Cỗ bàn sắm sửa áo quần may.

Cành bông ba bữa mang công nợ,

Tốt mặt mấy ngày phải mượn vay.

Cô nọ đủ lưng chờ bóc sách,

Cậu kia móc đít được ba tây.

Ai vui cười thiệt ta cười gượng,

Lãnh đạm thà mang tiếng chẳng hay.

(Công luận, số 6766, ra ngày 23-2-1935)

Riêng với câu thơ Cô nọ đủ lưng chờ bóc sách, Hàn Mặc Tử có thêm chú dẫn: “Cách chơi bài của người Bắc”.

Thơ xuân Hàn Mặc Tử mới tìm lại trên báo Công luận - ảnh 1

Đến bài Ngày tết xa nhà, dường như Hàn Mặc Tử nhập tâm vào cảnh ngộ người có vợ xa nhà, gia tăng sắc thái thơ tự trào và vận dụng lối thơ thủ vĩ ngâm, có câu thơ mở đầu và câu kết giống hệt nhau:

Riêng tớ xuân về dạ héo von

Xa nhà xa vợ với xa con.

Hoa đào trên áo gây hương nhớ,

Tiếng pháo bên tai giục nỗi buồn.

Thoi én như thêu tranh cách biệt,

Gió xuân càng lạnh kẻ cô đơn.

Người vui tấp nập mòi sung sướng,

Riêng tớ xuân về dạ héo von…

(Công luận, số 6766, ra ngày 23-2-1935)

Sau nữa là bài thơ Sớm mồng một Tết đi xe lửa ra Huế, thi nhân mở rộng dung lượng với xúc cảm một chuyến du xuân, bâng khuâng với cảnh vật trên đường đi ra xứ Huế:

Trời đất tinh sương ngó lập lòa!

Lên xe mà mắt mở chưa ra…

Thấy xanh hoa cỏ, xuân về mẻ!

Nghe động non sông, tết vậy hà!

Dãy núi nằm trơ tuồng lật đật,

Ngành cây chết đứng khéo bôn ba…

Một tòa cổ miếu trong lùm khói…

Còi rúc vang lên sắp tới ga.

(Công luận, số 6778, ra ngày 9-3-1935)

Đi xe lửa ra thăm Huế, Hàn Mặc Tử lại có bài Chơi thần kinh man mác những tình, những ý, những gợi nhớ xa xôi:

Nhớ nhung biết mấy cảnh Thần kinh,

Lặn lội ra thăm thỏa chút tình.

Không lạ không quen mà bỡ ngỡ,

Vì non vì nước mới linh đinh.

Qua cầu Thành Thái mây toan kéo,

Xuống chợ Đông Ba gió lặng thinh.

Một chuyến về chơi, xuân gặp gỡ,

Còn đi còn nhớ “chị em” mình.                                                                           

(Công luận, số 6778, ra ngày 9-3-1935)

Điều đặc biệt là ngay ở giai đoạn sáng tác ban đầu này, Hàn Mặc Tử đã có những sáng tác thể nghiệm theo hình thức mới, gần gũi với thơ tự do và chuyển tải nguồn cảm xúc mới trong những thể thức truyền thống. Bài thơ Phút mơ màng mang âm điệu của từ khúc nhưng đã có sự biến tấu theo một nhịp điệu mới, âm hưởng mới. Dễ thấy tình mùa xuân ở đây cũng là tình đôi lứa, tình của niềm hy vọng “xuân sang” và cũng là mầm bi kịch của chia ly:

Đêm hôm qua,

Giấc mộng sa đà;

Anh nằm trông thấy bông hoa tơi bời.

Sóng lòng vơi vơi,

Nỗi lòng chơi vơi;

Buồn tình anh nhớ đến người năm xưa.

Xuân đang vừa,

Duyên lứa đang vừa;

Ước ao ao ước em chờ “vu qui”.

Ôi, thời gian đi…

Lỡ mất giai kỳ;

Gặp anh buổi ấy em liền thương ngay.

Không rượu mà say,

Rứa mà say;

Đôi ta hớn hở với ngày xuân sang.

Tích tịch tình tang,

Tình tình tang…

Ai hay ly biệt đoạn tràng từ đây.

Mịt mù nước mây.

(Công luận, số 6790, ngày 23-3-1935)

Bài thơ Tương tư có thêm phụ đề “Gởi khách sông Lam” lại gồm hai bài/ hai đoạn/ hai khổ thơ, trong đó nửa đầu là bài lục bát với 12 câu bộc lộ xúc cảm âu sầu tự thán trước cảnh xuân:

Gió xuân đi khỏi bao giờ,

Tấc xuân với tấm lòng thơ não nùng.

Hỏi mình, mình có nhớ nhung,

Bao la non nước một vùng nước non.

Quen nhau từ thuở đào non,

Biết nhau từ thuở trăng tròn, ai ôi!

Hương thơm bay mất đi rồi,

Mỗi lần hoa nở gây mùi yêu đương.

Chiêm bao thấy mặt chán chường,

Tỉnh ra hoảng hốt, hỏi nường, nường đâu!

Sao trong giai tiết mà sầu,

Rưng rưng nước mắt ai hầu lau cho?

Còn lại phần sau hoàn toàn là bài thơ Đường luật bát cú với tiếng thơ than thân trách phận, thấp thoáng nỗi đau của mối tình đơn phương, đơn lẻ:

Mở miệng không ra, những nghẹn ngào,

Tương tư sầu ấy cực làm sao!

Nghe chim anh võ kêu buồn đáp,

Thấy bóng đông quân tới biếng chào.

Đứng sững ngoài hiên mà tưởng tượng…

Ngồi thừ trước án để chiêm bao.

Mặc cho hoa rụng bay tơi tả,

Lẩm bẩm: “Em ơi, khổ thế nào”!

(Công luận, số 6796, ra ngày 30-3-1935)

Theo cách đọc “liên văn bản” có thể thấy thơ Hàn thực sự tiêu biểu cho quá trình hiện đại hóa, tiếp nối giữa hiện tượng sử dụng lối thơ truyền thống với việc gia tăng vai trò nguồn cảm xúc mới; giữa việc khai thác hệ thống chủ đề, đề tài quen thuộc với khả năng bộc lộ tiếng nói của chủ thể trữ tình cá nhân kiểu mới… Những bài thơ gắn với mùa xuân, cảnh xuân, ngày xuân mới phát hiện của Hàn được ký với các bút danh Hàn Mặc Tử, Lệ Thanh góp phần cho phép hậu thế hình dung đầy đủ, sâu sắc, chuẩn mực, toàn diện hơn nữa chân dung con người, tư tưởng và sự nghiệp văn chương thi sĩ Hàn Mặc Tử, đặc biệt ở giai đoạn sáng tác ban đầu.

Nguyễn Hữu Sơn

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác