Thơ tứ tuyệt trong văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX

(Toquoc)- Công trình nghiên cứu Thơ tứ tuyệt Việt Nam từ thế kỷ X-XIX của TS. Nguyễn Kim Châu (cán bộ giảng dạy môn Ngữ văn, khoa Khoa học xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Cần Thơ) gồm ba chương, đi từ xác định khái niệm và tìm hiểu cơ sở căn rễ văn hóa của quá trình hình thành, phát triển đến khảo sát chuyên sâu cả hai bình diện nội dung và các đặc điểm nghệ thuật.

Khác với hướng tìm hiểu tách bạch giữa thơ tứ tuyệt chữ Hán và chữ Nôm, công trình này trước hết lại nhằm tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa các đặc điểm chung của toàn bộ dòng thơ tứ tuyệt từ quan niệm nghệ thuật đến tiến trình phát triển. Với thực tế diện mạo thơ tứ tuyệt mười thế kỷ, tác giả không phân chia theo các giai đoạn văn học sử thông thường mà chủ ý khảo sát theo thế kỷ, theo trình tự phát triển của chính đặc điểm nội tại của dòng thơ tứ tuyệt (thế kỷ X đến XII, thế kỷ XIII đến XIV, thế kỷ XV, thế kỷ XVI đến XIX). Ở hai chặng đường đầu, thơ tứ tuyệt mới chỉ được viết bằng chữ Hán, nội dung chuyển dần từ cảm quan Phật giáo tới chính trị, triết học và đời sống thế tục. Từ thế kỷ XV đến XIX, thơ tứ tuyệt có cả hai bộ phận chữ Hán và chữ Nôm. Phối hợp điểm nhìn lịch đại và đồng đại, tác giả đã chú ý đúng mức đến việc khảo sát, phân tích trên cả hai phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật, áp dụng với cả hai bộ phận thơ chữ Hán và Nôm.

Khác biệt với thơ tứ tuyệt chữ Hán, bộ phận thơ tứ tuyệt chữ Nôm đã tạo nên bảng màu rực rỡ, mới mẻ cả về nội dung và hình thức nghệ thuật. Thơ Nôm tứ tuyệt của Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương… đi sâu diễn tả thế giới cảm xúc trữ tình, bao quát từ thơ xướng họa, đề vịnh đến các chủ đề tình yêu con người, thiên nhiên, cuộc sống và cả tiếng thơ trào phúng, châm biếm, đả kích. Trên phương diện nghệ thuật, việc thống kê và phân tích số liệu, chí ít tác giả đã chỉ ra ba đặc điểm về cú pháp (khả năng kiến tạo các kiến trúc đối xứng bằng phép lặp lại, sự vắng mặt của các yếu tố ngôn ngữ chỉ chủ thể và việc vận dụng hư từ có số lượng áp đảo so với thơ chữ Hán). Bên cạnh đó, tác giả đặc biệt chú ý đến lối thơ thất ngôn xen lục ngôn, tức thể thơ tứ tuyệt bát cú nhưng lại có xen câu thơ sáu chữ. Trên cơ sở phân tích cấu trúc câu thơ tứ tuyệt xen lục ngôn theo nhịp 2/2/2 hoặc 3/3 (thay vì theo nhịp 2/2/3 của thơ Đường truyền thống), vấn đề tỉ lệ thanh bằng/ trắc và hiện tượng câu thơ sáu chữ có thể rơi vào dòng đầu hoặc dòng cuối của bài thơ, tác giả xác định lối thơ này “đã phá vỡ qui tắc hài thanh của thơ Đường luật” và “phá vỡ tiết tấu của bài thơ”… Từ quan sát cụ thể, chi tiết: “Không thể phủ nhận rằng dù tăng cường số âm trắc trong câu 6 đến mức tối đa thì, về tổng thể, số âm bằng trong bài thơ tứ tuyệt thất ngôn xen lục ngôn vẫn chiếm ưu thế. Tuy nhiên, sự xuất hiện với tỷ lệ khá cao các âm tiết trắc đã giúp cho những câu thơ sáu chữ của Nguyễn Trãi có thể vượt thoát khỏi tính đơn điệu trùng lặp, đều đặn của các câu thơ bảy chữ, tạo được sự chú ý nơi người đọc nhờ vào âm điệu có phần vang, mở, sống động trên cái nền “gam thứ” trầm đều của bài thơ Đường luật…” (tr.258), tác giả đi đến hệ luận:

“Câu thơ sáu chữ trong thơ Nôm tứ tuyệt của Nguyễn Trãi đã xa rời tính cổ điển, qui phạm của thơ Đường luật để trở thành tiếng nói, cách nói đậm đà truyền thống dân tộc trong thơ ca bác học. Nó đã mang lại sinh khí mới cho bài thơ Đường luật vốn thiên về sự tĩnh tại, trầm lắng, cân bằng…

Sự phá vỡ tính cân đối, hài hòa về niêm luật, tiết tấu vốn hết sức chuẩn mực của thơ Đường luật khiến cho câu thơ sáu chữ vấp phải một thử thách quan trọng do đặc trưng thể loại quy định đó là các câu thơ trong bài thơ tứ tuyệt luôn có tính độc lập tương đối về liên kết hình thức trong khi vẫn liên kết chặt chẽ về nội dung. Đối với bài thơ bát cú thất ngôn xen lục ngôn, sự xuất hiện của câu sáu chữ thường sẽ tìm thấy mối quan hệ chặt chẽ, phụ thuộc, đối xứng với câu thơ tiếp theo trong cặp đối liên (cặp câu thực và luận). Thực tế cho thấy tỷ lệ sử dụng các câu sáu chữ trong phần thực và luận của bài bát cú rất cao và điều này có nghĩa là các nhà thơ Việt Nam buộc phải chấp nhận phép đối của thơ Đường luật khi sử dụng câu sáu chữ. Vì thế, các cặp câu sáu chữ trong bài bát cú thất ngôn xen lục ngôn vẫn gợi được sự cân đối hài hòa về thanh điệu, tiết tấu và liên kết chặt chẽ với các câu thơ khác trong bài.

Trong khi đó, đối với bài thơ tứ tuyệt thất ngôn xen lục ngôn, việc sử dụng phép đối liên không phải là điều bắt buộc. Cho nên, trong khi quan hệ chặt chẽ về ý nghĩa, mỗi câu thơ tứ tuyệt vẫn có tính độc lập tương đối của nó. Điều này càng khiến cho sự xuất hiện của câu sáu chữ thêm đơn lẻ, nó không thể gắn bó chặt chẽ về mặt hình thức với các câu bảy chữ khác trong bài. Có lẽ vì vậy mà sau nhà thơ tiên phong đầy nhiệt tình và dũng cảm Nguyễn Trãi, các nhà thơ thời Hồng Đức ở cuối thế kỷ XV và Nguyễn Bỉnh Khiêm ở thế kỷ XVI đều không sử dụng câu sáu chữ trong bài tứ tuyệt mà chỉ sử dụng trong bài bát cú thất ngôn xen lục ngôn…

Dù sinh mệnh nghệ thuật có phần ngắn ngủi nhưng những câu thơ 6 chữ trong thơ Nôm Nguyễn Trãi nói chung và các bài tứ tuyệt thất ngôn xen lục ngôn nói riêng thực sự đã là những hiện tượng nghệ thuật độc đáo và đáng trân trọng” (tr.263-265)…

Qua ba chương sách, tác giả đi đến kết luận và nhấn mạnh đặc điểm nội dung và hình thức thể thơ tứ tuyệt như một đặc sản của thơ Việt: “Nhờ việc tận dụng hiệu quả của từ ngữ giản dị nhưng hàm súc, của phép lặp từ, lặp cấu trúc trong đối liên và tiểu đối, của thủ pháp tỉnh lược mạnh các yếu tố chỉ chủ thể, các động từ, hư từ,… câu thơ tứ tuyệt có thể đạt được yêu cầu nén chặt thông tin để mỗi chữ đều có sức nặng, sức ám ảnh, đều thực sự tuyệt vời. Mặt khác, tứ tuyệt rất ngắn, các thông tin dễ lướt qua nhanh chóng trong quá trình tri giác nghệ thuật ở người tiếp nhận. Vì vậy, trong khi sử dụng câu chữ, ngoài việc nén chặt thông tin để đáp ứng nhu cầu “ý tại ngôn ngoại”, tác giả còn cần phải tính đến hiệu quả khắc sâu một số yếu tố ngôn ngữ đóng vai trò trung tâm trong việc kiến tạo tứ thơ hay có khả năng nhấn mạnh âm điệu, cảm xúc chủ đạo của bài thơ. Với nhu cầu này, phép lặp là một giải pháp tích cực. Tuy nhiên, người xưa lấy cái hơn về ý chứ không lấy cái hơn về lời. Sự giản dị của lời thơ, sự chân thành của tình cảm mới chính là một trong những nguyên nhân quan trọng giúp các bài thơ tứ tuyệt có được sức sống lâu bền trong tâm hồn người đọc” (tr.271-272).

Với việc vượt qua sự mô tả các quá trình phát triển thể loại thuần túy văn học sử và hướng đến khảo sát các vấn đề nội dung và nghệ thuật từ điểm nhìn thi pháp hình thức, cấu trúc ở cấp độ thể thơ và câu thơ, có thể nói công trình nghiên cứu Thơ tứ tuyệt trong văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX của TS. Nguyễn Kim Châu đã góp phần đi sâu lý giải, khẳng định thành tựu một thể thơ độc đáo trong nền thơ dân tộc.

La Sơn

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác