Thiên nhiên và đất nước trong thơ của Bác Hồ

 

(Toquoc)- Không chỉ trong các tác phẩm văn chương nghệ thuật và những trước tác Người để lại, mà trong toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thiên nhiên và mùa xuân đất nước luôn gắn bó mật thiết, rất gần gũi, thân quen và là đối tượng khơi nguồn cảm hứng, góp phần tạo nên sự phong phú đa dạng trong tư tưởng và tình cảm của Người.

 

Thiên nhiên và mùa xuân trong thơ Bác

Tách mình ra khỏi tự nhiên nguyên khởi là một nỗ lực và là bước ngoặt vĩ đại nhất trong lịch sử phát triển của loài người, kể từ khi con người biết chế tác ra công cụ lao động và sử dụng ngôn ngữ như một phương tiện giao tiếp rất hữu hiệu. Điều này đã được F. Engel nói rất rõ trong tác phẩm nổi tiếng: Biện chứng của tự nhiên. Thế nhưng, chủ động hoà đồng trở lại với tự nhiên như một phẩm chất mang tính nhân văn sâu sắc lại chỉ có ở một số người với tư cách là nhà sáng lập ra các học thuyết tư tưởng, các nghệ sỹ lớn mà tác phẩm của họ có ảnh hưởng sâu rộng đến tiến trình phát triển của nhân loại. Trong tư tưởng và tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh dường như có cả hai phẩm chất đó: Nhà tư tưởng và nhà nghệ sỹ.

Có thể nói thiên nhiên và mùa xuân đất nước dưới mắt Bác Hồ rất sống động, phong phú và đa dạng. Nó không chỉ là đối tượng để khai thác, miêu tả, là tác nhân nâng đà cho xúc cảm thẩm mỹ bay cao và vươn xa đối với quá trình sáng tạo thi ca, hơn thế nữa, nó còn tạo nên những giá trị thẩm mỹ tự nhiên cho tác phẩm nghệ thuật, tạo nên cốt cách của một thi sỹ- nhà hiền triết phương Đông Hồ Chí Minh rất độc đáo. Chính vì thế, thiên nhiên và mùa xuân đất nước trong tình cảm của Bác không còn là Cái Tự nhiên tự nó mà đã trở thành Cái Tự nhiên cho ta (ý của Hegel).

Ngay từ những ngày ở trong lao tù của Tưởng Giới Thạch, thiên nhiên đã ùa vào tình cảm của Bác hay là chính Người đã tìm đến với thiên nhiên. Có lẽ là cả hai:

Trong tù không rượu cũng không hoa

Cảnh đẹp đêm nay, khó hững hờ

Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ

Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.

(Ngắm trăng)

Hay là:

Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không.

Cô em xóm núi xay ngô tối

Xay hết, lò than đã rực hồng.

(Chiều tối)

Hoặc:

Núi ấp ôm mây, mây ấp núi

Lòng sông gương sáng, bụi không mờ

Bồi hồi dạo bước Tây phong lĩnh

Trông lại trời Nam, nhớ bạn xưa

(Mới ra tù tập leo núi)

Trở về nước sau một thời gian bôn ba ở hải ngoại, hình bóng quê hương, đất nước thân yêu như càng trở nên thiêng liêng hơn bao giờ hết đối với Bác. Người đã ôm hôn nắm đất quê hương khi mới đặt chân lên mảnh đất Cao Bằng, nơi địa dầu của Tổ quốc. Và trong thời gian lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc, mặc dù bận trăm công nghìn việc, nhưng xúc cảm về thiên nhiên và mùa xuân đất nước vẫn không hề vơi cạn trong tâm tưởng của Người:

Rằm xuân lồng lộng trăng soi

Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân

Giữa dòng bàn bạc việc quân

Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền

(Rằm tháng giêng)

Không chỉ rung động trước vẻ đẹp của mùa Xuân. Mùa Xuân còn như là một nguyên cớ, tạo nguồn cảm hứng để Người bày tỏ cái nhìn lạc quan, biện chứng về xu thế vận động, phát triển của lịch sử, của dân tộc. Bài thơ Tự khuyên mình là một minh chứng sinh động cho điều ấy:

Ví không có cảnh đông tàn,

Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân;

Nghĩ mình trong bước gian truân,

Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng.

Năm 1945, Chính phủ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chuyển lên chiến khu Việt Bắc đã họp lần đầu trong một cái miếu trên đường đi giữa hai huyện miền núi. Sau cuộc họp có một bữa cơm thân mật với thịt lợn rừng vừa săn được và ngô nướng, rượu ngọt, chè tươi. Giữa chốn rừng xa lạ đầy gian khổ, thiếu thốn, để động viên tinh thần lạc quan của mọi người, Bác đã làm tặng bài thơ Cảnh rừng Việt Bắc:

Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay

Vượn hót chim kêu suốt cả ngày

Khách đến thì mời ngô nếp nướng

Săn về thường chén thịt rừng quay

Non xanh nước biếc tha hồ

Rượu ngọt, chè tươi mặc sức say

Kháng chiến thành công ta trở lại

Trăng xưa, hạc cũ với xuân này.

Trong những ngày kháng chiến gian khổ, người lính phải đối mặt với kẻ thù, nên cũng là người Bác dành nhiều tình cảm và sự quân tâm hơn đối với họ. Trong bài Nghĩ về chiến sĩ, Người viết:

Áo rét gửi mau cho chiến sĩ

Trời loe, nắng ấm báo Xuân sang.

Còn đối với bà con nông dân, người trực tiếp làm ra lúa gạo, nuôi sống con người, nên Bác luôn suy tư trăn trở về mùa vụ được, mất, chắc chắn sẽ làm ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân:

Nghe nói Xuân nay trời đại hạn

Mười phần thu hoạch chỉ vài phân.

Với Bác, sự lạc quan trong cuộc sống là điều hết sức cần thiết và góp phần làm cho người ta có thể vượt qua những khó khăn gian khổ nhất thời. Chính vì thế kỷ niệm sinh nhật lần thứ 60, Bác viết:

Sáu mươi tuổi hãy còn xuân chán

So với ông Bành vẫn thiếu niên.

 Thiên nhiên và đất nước trong thơ của Bác Hồ  - ảnh 1
Bác Hồ làm thơ những ngày đầu đấu tranh cách mạng ở chiến khu Việt Bắc (Ảnh tư liệu TTXVN)

Những vần thơ xuân chúc Tết của Bác

Mùa Xuân năm 1946 là mùa Xuân đầu tiên của nền Dân chủ Cộng hòa vô cùng non trẻ của đất nước và Tết này cũng thực sự là Tết độc lập, tự do:

Tết này mới thực Tết dân ta

Mấy chữ chào mừng báo Quốc gia

Độc lập đầy vơi ba chén rượu

Tự do vàng đỏ một rừng hoa

Mọi nhà vui đón Xuân Dân chủ

Cả nước hoan nghênh Phúc Cộng hòa

            (Thơ chúc Tết năm 1946)

Và từ đấy gần như Tết cổ truyền năm nào Bác cũng có thơ Xuân mừng đất nước, mừng đồng bào. Qua đấy Người nhắn nhủ toàn dân hãy cố gắng thi đua vì mùa Xuân muôn đời của đất nước

Kháng chiến lại thêm một năm mới

Thi đua yêu nước thêm tiến tới

Động viên lực lượng và tinh thần

Kháng chiến càng thêm mau thắng lợi.

            (Xuân 1949)

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, cục diện trên chiến trường càng về sau càng trở nên cam go và quyết liệt hơn. Với cương vị là người đứng đầu nhà nước, Bác bận trăm công nghìn việc, nhưng Bác vẫn không quên làm thơ như một món quà xuân vừa để chúc Tết đồng bào chiến sĩ cả nước, vừa để kêu gọi toàn dân tham gia kháng chiến. Cũng vì thế mà những vần thơ Xuân của Bác thời kỳ này luôn gắn liền với nhiệm vụ chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc. Sự thành công của sự nghiệp cách mạng, đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi bờ cõi Việt Nam ta luôn là những suy tư thường trực, là mục tiêu cao cả mà Bác luôn hướng tới. Theo Bác, mùa xuân đích thực, mùa xuân vĩnh hằng ấy là khi đất nước ta có độc lập, nhân dân được sống tự do trong hòa bình, ấm no hạnh phúc. Cũng vì thế những vần thơ Xuân của Bác luôn ấm áp tình người, chan chứ tình thương bao la của một Người Cha, người Bác, người Anh, được gửi đến toàn thể đồng bào, đồng chí.

Xuân này kháng chiến đã năm xuân,

Nhiều xuân kháng chiến càng gần thành công.

Toàn dân ta quyết một lòng,

Thi đua chuẩn bị tổng phản công kịp thời.

(Thơ chúc tết 1951)

Trong năm 1951, cục diện trên chiến trường giữa quân đội ta và quân Pháp xâm lược đã có nhiều thay đổi, có lợi cho ra, nhất là sau Chiến dịch Hoà Bình từ ngày 10/12/1951 đến ngày 25/2/1952, là chiến dịch tiến công của Quân đội ta tại khu vực thị xã Hoà Bình - Sông Đà - Đường số 6 (cách Hà Nội khoảng 40- 60 km về phía tây) nhằm tiêu hao sinh lực địch, đánh bại kế hoạch chiếm đóng Hoà Bình của Pháp, phá phòng tuyến Sông Đà và tạo điều kiện phát triển chiến tranh du kích ở đồng bằng Bắc Bộ. Trước tình hình ấy, thơ chúc Tết, mừng Xuân của Bác đã khẳng định:

Xuân này, Xuân năm Thìn

Kháng chiến vừa sáu năm

Trường kỳ và gian khổ

Chắc thắng trăm phần trăm.

Chiến sĩ thi giết giặc

Đồng bào thi tăng gia

Năm mới thi đua mới

Thắng lợi ắt về ta!

Mấy câu thành thật nôm na,

Vừa là kêu gọi, vừa là mừng Xuân.

(Thơ chúc Tết 1952)

*

Đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, ngay từ khi giặc Mỹ bắt đầu leo thang ra miền Bắc, Bác đã gửi vào bài thơ Xuân chúc Tết đồng bào một niền tin sắt đá không gì lay chuyển nổi:

Bắc Nam như cội với cành,

Anh em ruột thịt, đấu tranh một lòng.

Rồi đây thống nhất thành công,

Bắc Nam ta lại vui chung một nhà.

Mấy lời thân ái nôm na,

Vừa là kêu gọi, vừa là mừng Xuân.

(Chúc Tết Xuân Giáp Thìn 1964)

Dù còn phải mất 8 năm nữa, Cách mạng miền Nam mới giành được thắng hoàn toàn, nhưng ngay từ 1967 Bác đã tin tưởng:

Xuân về xin có một bài ca

Gửi chúc đồng bào cả nước ta

Chống Mỹ hai miền đều đánh giỏi

Tin mừng thắng trận nở như hoa.

(Thơ chúc Tết năm 1967)

Ngay trong chiến dịch Xuân Mậu Thân, 1968, Bác đã vui mừng thấy phong trào cách mạng miền Nam tiến lên như vũ bão:

Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua

Thắng trận tin vui khắp mọi nhà

Nam Bắc thi đua dánh giặc Mỹ

Tiến lên!

Toàn thắng ắt về ta.

(Thơ chúc Tết năm 1968)

Xuân 1969 là mùa Xuân cuối cùng nhân dân được đón nhận thơ chúc Tết của Người. Tuy nhiên những vần thơ Xuân của Bác đã trở thành lời tiên tri cho thắng lợi vĩ đại của cách mạng miền Nam. Rồi đây Mỹ sẽ cút, Ngụy sẽ nhào, đấy là lúc cả nước sẽ được vui mùa xuân khải hoàn, trọn vẹn:

Năm qua thắng lợi vẻ vang

Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to

Vì độc lập, vì tự do

Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào

Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào

Bắc Nam sum họp, Xuân nào vui hơn!

(Thơ chúc Tết 1969)

Đối với Bác viết thơ Xuân có hai mục đích rõ ràng mà thấm thía, vừa là kêu gọi mọi người hãy cố gắng chiến đấu, tăng gia, lao động sản xuất vì sự thắng lợi của cách mạng nước nhà, vừa gửi lời mừng Xuân tới toàn thể đồng bào, đồng chí nhân dịp Tết đến, Xuân về theo truyên thống của người Việt Nam. Bác không giấu diếm điều ấy, ít nhất cũng đã có hai lần cách nhau đúng một giáp, đều là năm con Rồng (1952 và 1964), Người đã nhắc đi lại mục đích viết thơ Xuân của mình, chỉ đổi chữ “câu” thành chữ “lời” và hai chữ “thành thật” thành “thân ái”, còn câu sau giữ nguyên, nên nội dung câu thơ không có gì thay đổi, chỉ có sắc thái tình cảm là khác:

Mấy câu thành thật nôm na,

Vừa là kêu gọi, vừa là mừng Xuân.

Và:

Mấy lời thân ái nôm na,

Vừa là kêu gọi, vừa là mừng Xuân.

 

Và trong tâm tưởng của Người

Tuy nhiên tình yêu thiên nhiên, mùa xuân đất nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ thể hiện ở trong các tác phẩm thơ ca, như là những sáng tạo nghệ thuật mang đậm dấu ấn cá nhân, mà nó còn được thể hiện trong toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Vì thế chúng ta có thể thấy những nơi Bác chọn làm chỗ ở và làm việc đều là những địa danh vừa đảm bảo sự bí mật thiết yếu về mặt an ninh, quốc phòng, vừa gần gũi với thiên nhiên, đất nước. Những địa danh đó chính là suối Lê Nin, núi Các Mác ở Pắc Bó, Cao Bằng, lán Nà Lừa ở Tân Trào, Tuyên Quang, khu Đá Chông ở Ba Vì, Hà Tây (cũ) và ngôi nhà sàn xung quanh có vườn cây, ao cá ở giữa thủ đô Hà Nội.

Tình yêu thiên nhiên, mùa xuân đất nước ở Bác đã vượt lên trên việc ngắm cảnh hay ngâm vịnh, mà quan trọng hơn là tình yêu ấy đã được thể hiện thành những việc làm rất cụ thể, thiết thực trong việc bảo vệ, giữ gìn tài sản vô giá của quốc gia, dân tộc.

Sau khi hoà bình được lập lại ở miền Bắc, trong dịp nói chuyện với Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An, ngày 8/12/1961, Bác đã nói: “Trồng cây gây rừng là rất quan trọng. Bây giờ dân chưa thấy đâu. Có khi các chú cũng chưa thấy”. Có lần Bác đã giải thích một cách giản dị về tầm quan trọng của việc trồng cây gây rừng: “Nếu rừng cạn kiệt thì không còn gỗ và mất nguồn nước thì ruộng nương mất mầu, gây ra lụt lội và hạn hán... Nếu cứ để tình trạng đồng bào phá một ít, nông trường phá một ít, công nhân phá một ít, thậm chí đoàn thăm dò địa chất cũng phá một ít thì rất tai hại... Phá rừng thì dễ, nhưng gây lại rừng phải mất hàng chục năm. Phá rừng nhiều như vậy sẽ ảnh hưởng đến khí hậu, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống”. Và Người xem việc phá rừng không có kế hoạch là hành vi “đem vàng đổ xuống biển”.

Nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng và đón Tết âm lịch Canh Tý, Bác Hồ chính thức phát động phong trào Tết trồng cây trong cả nước. Phong trào diễn ra trong vòng 1 tháng từ 6/1 đến 6/2/1960. Và hai câu thơ này được Bác viết từ dịp ấy:

Mùa xuân là Tết trồng cây

Làm cho đất nước càng ngày càng xuân.

Trước tình trạng phá rừng thiếu ý thức của một số người dân và một bộ phận cán bộ, Bác thấy cần phải phát động một phong trào Trồng cây gây rừng vào mùa xuân. Từ năm 1960 phong trào do Bác khởi xướng trên khắp đất nước cho đến hôm nay và chắc là mãi về sau vẫn được toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta duy trì, phát triển thành một phong trào rộng khắp trong mọi tầng lớp xã hội. Mỗi khi tết đến, xuân về, hẳn nhiều người trong chúng ta còn nhớ mãi hai câu thơ của Người về Tết trồng cây. Có lẽ cho đến nay, ít có một lãnh tụ, một nguyên thủ quốc gia nào như Chủ tịch Hồ Chí Minh có hành động độc đáo đến như vậy.

Trước khi đi xa, trong Di chúc, Bác có bày tỏ nguyện vọng của mình mong muốn rằng sau khi qua đời thi hài được hoả táng và an táng trên một ngọn đồi nào đó gần núi Tam Đảo hay Ba Vì. Người còn nhắc nhở Đảng và Nhà nước “nên có kế hoạch trồng cây trên và xung quanh đồi. Ai đến thăm cũng trồng thêm một cây làm kỷ niệm. Lâu ngày, cây nhiều thành rừng sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp”.

*

Như vậy có thể thấy cảnh vật thiên nhiên và hình bóng mùa xuân đất nước luôn có mặt trong đời sống tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính thiên nhiên đã khơi nguồn cho nhiều tác phẩm thơ ca nổi tiếng và góp phần nâng vị thế danh nhân văn hoá thế giới của Người lên một tầm cao mới. Nhưng điều cần thiết phải nhấn mạnh ở đây là từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây những kiệt tác văn chư­ơng về thiên nhiên và đất nước th­ường là sản phẩm vô giá của những nhà văn, nhà thơ lỗi lạc và đồng thời cũng là những ngư­ời có tư tư­ởng, tình cảm xuất chúng như­ Trương Kế, Thôi Hiệu, Đỗ Phủ, Lý Bạch, Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Tagor, Puskin...

Còn đối với Bác những tư tưởng, tình cảm về thiên nhiên và mùa xuân đất nước không chỉ dừng lại ở những điều chỉ giáo trong các văn bản hay tác phẩm nghệ thuật, mà hơn thế nó đã trở thành những hành động sống trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Sinh thời Bác đã từng cùng các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, bà con nông dân và các cháu thiếu nhi tham gia Tết trồng cây ở một số địa phương miền Bắc như Hà Nội, Hà Tây (cũ)... mỗi khi xuân về và hàng ngày Bác vẫn thường cho cá ăn và chăm sóc vườn cây quanh khu nhà ở Phủ Chủ tịch.

Những hành động ấy, ngoài ý nghĩa giáo dục, còn ẩn chứa bên trong Bác là một người yêu thiên nhiên và đất nước đến khôn cùng. Thiên nhiên và đất nước trong đời sống tinh thần của Bác không đơn giản chỉ là một thái độ ứng xử tích cực của con người đối với cuộc sống xung quanh, hơn thế sự quan tâm, bảo vệ và hoà đồng với thiên nhiên và đất nước đã trở thành một phần máu thịt, gắn quện với nhân sinh quan và thế giới quan của một chiến sỹ cộng sản lỗi lạc, thể hiện tầm độ nhận thức cực kỳ sâu sắc của Bác đối với thế giới tự nhiên và vai trò chủ động, tích cực của con người trong tiến trình biến “Cái Tự nhiên tự nó” thành “Cái Tự nhiên cho ta”. Đấy vừa là một tình cảm cao quí, vừa là một bài học lịch sử vô giá mà trước lúc đi xa Người muốn để lại cho muôn đời con cháu mai sau./.

Đỗ Ngọc Yên

 


Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác