Thêm tư liệu về “Bức thư cụ Đề Thám gửi cha nuôi”

(Toquoc)- Nhà nghiên cứu Nguyễn Hoà trong bài "Lại thêm những "giả thiết" ở xóm Tân Lập", (Bài 4, trang Văn hoá - Xã hội, báo Văn hoá, số 1558, ra ngày 16.7.2008, chuyên đề "Xung quanh những thông tin về mộ phần của anh hùng dân tộc Hoàng Hoa Thám"), ở phần "Phát hiện bức thư cụ Đề Thám gửi cha nuôi?" viết:

Thêm tư liệu về “Bức thư cụ Đề Thám gửi cha nuôi” - ảnh 1
(ảnh Internet)
..."Cũng trong lần trở lại này, chúng tôi được ông Nguyễn Văn Sử, gọi Lý Loan bằng cụ, cho biết từ nhỏ trong gia đình ông có lưu truyền miệng một bức thư của cụ Đề Thám gửi cho Bá Phức, cha nuôi Đề Thám. Bức thư dài bốn mươi câu nói lên khí tiết của Đề Thám với cha nuôi của mình. Cho đến nay tư liệu này vẫn chưa được giới nghiên cứu biết đến, và chúng tôi cũng không thể khẳng định được tính chân thực của nó. Tuy nhiên, để góp phần làm rõ hơn về tư liệu trong việc người dân cho rằng ở xóm Tân Lập có mộ cụ Đề Thám, chúng tôi xin chép ra đây bức thư này (do ông Nguyễn Văn Sử đọc): …"Nỗi phong ba con vùng vẫy với nghê kình, Hám mồi béo cha nộp mình cho ngư phủ. Chốn rừng xanh tung hoành con mãnh hổ, Bả vinh hoa cha làm con ngây ngất cả tâm hồn. Nhưng không chuyển được lòng son, dạ sắt. Mây Hồng Lĩnh còn mịt mù xanh ngắt, Sông Nhị Hà con chứa chất mối căm hờn. Đời của con là của cả giang sơn, Dẫu gió kép mưa đơn đâu sá cảnh. Ôi lúc cha già vui vầy nơi nhị vị, Là lúc con đương rầu rĩ khóc non sông. Đêm canh trường cha nằm mùng gấm đệm bông, Nơi rừng thẳm con nằm chông nếm mật. Khi cha say sưa hít thở mùi hương trầm thơm ngát, Là lúc con nghẹt thở cổ khô khan, Tai con vẳng nghe tiếng hồn khóc oan nơi thảm cảnh. Khi ngực cha đầy những mề đay kim khánh, Thì bên con lấp lánh bóng gươm kiều. Khi cha say sưa với thiếu nữ yêu kiều, Là lúc con tận tuỵ với tình yêu Tổ quốc. Nghĩa là cha mang tài năng trí óc, Ra mưu vinh thân làm mục đích cuối cùng. Thì con nguyện đem xương trắng máu hồng, Đền nợ nước non sông nơi chí nguyện. Con với cha là hai trận tuyến, Cha tiến một đường, con tiến một đường. Thôi từ nay hai chữ Cương Thường, Con, xin hạ xuống để thờ sang đất nước. Cuộc đoàn viên xin cha đừng mong ước, Cuộc hội đàm xin hẹn cha bằng đại bác với thần công. Bức thư này là bức cuối cùng. Tái bút tình thư để chờ ngày kết án kẻ gian phi. Thanh kiếm này con tuốt sẵn để chờ khi".

Chúng tôi rất cảm kích trước nhiệt tâm của người cung cấp tư liệu truyền miệng liên quan đến vị lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Yên Thế cùng cách ứng xử thận trọng mà trân trọng của nhà nghiên cứu Nguyễn Hoà.

Tuy nhiên, đọc "Bức thư cụ Đề Thám gửi cha nuôi" (ông Nguyễn Văn Sử cung cấp) ở trên, tự nhiên chúng tôi nhớ đến bài thơ "Đôi ngả" của tác giả Nguyễn Văn Từ, sáng tác tại nhà tù Sơn La năm 1943. Bài thơ này được lưu truyền ở Nam Định trước ngày Cách mạng tháng Tám 1945 bùng nổ và đã được tuyển in vào tập "Văn học yêu nước cách mạng (1925 1945)", Hội Văn học Nghệ thuật Hà Nam Ninh xuất bản năm 1986. Sau đó, "Đôi ngả" lại được chọn in trong "Tuyển tập Thơ Nam Định thế kỷ XX" (Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin - Công ty Văn hoá Trí tuệ Việt, 2005).

Sở dĩ có sự "nhớ đến" như trên vì chúng tôi thấy, về đại thể, "Bức thư cụ Đề Thám gửi cha nuôi" và bài thơ "Đôi ngả" của tác giả Nguyễn Văn Từ có những điểm tương đồng. Xin được chép ra đây bài thơ "Đôi ngả" để quí bạn đọc cùng các nhà nghiên cứu có tư liệu tham khảo, đối chiếu:

 

Đôi ngả

Nguyễn Văn Từ


Đọc những lời trong thư cha dụ dỗ,

Dòng lệ con hoen ố mảnh nhung y.

Nhớ ngày nào ôm chí lớn ra đi,

Trong quá khứ cha ghi nhiều kiêu hãnh.

Kìa mũi kiếm máu kẻ thù còn dính,

Bỗng anh hùng tim lạnh bởi hư vinh.

Ngoài phong ba vùng vẫy sóng nghê kình,

Tham mồi béo nộp mình cho ngư phủ.

Trong rừng xanh tung hoành oai mãnh hổ,

Hám mồi ngon ủ rũ chốn chuồng con.

Bả vinh hoa làm chết cả tâm hồn,

Nhưng nào chuyển kẻ lòng son dạ sắt.

Mây Nùng Lĩnh còn mịt mờ u uất,

Sóng Nhị Hà còn chứa chất căm hờn.

Thì đời con là của cả giang sơn,

Dù thịt nát, xương tan đâu dám kể.

Rồi những lúc cha vui vầy vị kỷ,

Là khi con rầu rĩ khóc non sông...                                              

Đêm canh trường cha nệm gấm chăn bông,

Nơi rừng thẳm con nằm chông nếm mật.

Cha hít thở hương trầm bay bát ngát,

Pha lẫn mùi máu thịt của lê dân.

Thì mũi con ngạt thở, cổ khô khan,

Tai vẳng tiếng hồn oan trong thảm cảnh.

Cha ngực đầy "mề đay","kim khánh",(*)

Con bên sườn lóng lánh kiếm "tiêm cừu".(**)

Cha say mê bên thiếu nữ yêu kiều,

Con tận tuỵ với tình yêu... Tổ quốc.

Nghĩa là cha đem tài năng trí óc,

Mưu vinh thân làm mục đích cuối cùng.

Thì con đem xương trắng máu hồng,

Để cứu vớt non sông làm chí nguyện.

Cha với con, là hai trận tuyến,

Cha một đường... con tiến một đường.

Thôi, từ nay hai chữ " cương thường",

Con mở rộng để dâng thờ đất nước.

Buổi đoàn viên cha đừng mơ ước,

Cuộc hội đàm là đại bác, thần công

Bức thư đây là bức cuối cùng,

Mà cha chỉ là cha trong dĩ vãng.

Thôi, hạ bút cho thâm tình gián đoạn,

Để nghe lời kết án kẻ gian phi.

Thanh kiếm thần ta tuốt sẵn chờ mi...

Nhà tù Sơn La, thu 1943

(Trong tập Bút phong trần)

Xin nói đôi lời về tác giả Nguyễn Văn Từ và hoàn cảnh ra đời bài thơ "Đôi ngả". Tác giả tên thật là Vũ Viết Mân, quê ở thôn Thọ Vực, xã Xuân Phong, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Ông giác ngộ cách mạng và trở thành đảng viên Cộng sản trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ (1936-1939). Năm 1940, ông bị giặc bắt giam ở nhà tù Sơn La, sau đó đày ra Côn Đảo. Năm 1945, từ Côn Đảo trở về gia nhập quân đội, Nguyễn Văn Từ chiến đấu ở chiến trường Nam Bộ. Trước khi về hưu, ông là Giám đốc Viện Bảo tàng Quân đội. Trong quá trình hoạt động cách mạng, Nguyễn Văn Từ có sáng tác một số thơ ca đã được sử dụng ở các báo bí mật trong tù, sau này được in trong một số bộ sưu tập thơ ca cách mạng. Về hoàn cảnh ra đời bài thơ Đôi ngả... “theo tác giả thì bấy giờ đang bị giam ở nhà tù Sơn La, được tin con ông cậu ở nhà phản bội cách mạng. Tác giả mượn chuyện Đề Thám trả lời thư cha nuôi là Bá Phức dụ hàng Pháp, để nói lên quan niệm của mình: Cha con nghĩa nặng tình sâu, nhưng nếu phản bội Tổ quốc thì cũng xem là kẻ thù huống nữa là em" (Văn học Yêu nước Cách mạng (1925-1945), Hội Văn học Nghệ thuật Hà Nam Ninh, 1986, trang 123,128).

Góp thêm tư liệu về một bài thơ ra đời trong nhà tù Sơn La năm 1943 "mượn chuyện Đề Thám trả lời thư cha nuôi...", chúng tôi không vội vàng cho rằng hai "bức thư" cùng một nội dung, một hình thức diễn đạt bằng thơ trên đây chỉ là một tác phẩm: một nguyên bản và một "phiên bản".

Lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Yên Thế chống thực dân Pháp, anh hùng dân tộc Hoàng Hoa Thám là người chỉ huy dũng cảm, mưu lược,có tinh thần yêu nước không thể lay chuyển và ý chí chiến đấu đến cùng. Phẩm cách, khí tiết ngời sáng ấy đã thành đề tài lịch sử, khơi dậy cảm hứng mãnh liệt cho các sáng tác văn, thơ nhiều thập kỷ qua. Bài thơ "Đôi ngả" viết trong nhà tù Sơn La của tác giả Nguyễn Văn Từ là một ví dụ.

Tuy nhiên, "Bức thư cụ Đề Thám gửi cha nuôi"- tư liệu do ông Nguyễn Văn Sử đọc, nhà nghiên cứu Nguyễn Hoà chép, công bố trên báo Văn Hoá - cũng có thể do cụ Đề Thám viết khi lâm sự... bày tỏ thái độ dứt khoát trước kẻ thù với cha nuôi là Bá Phức ngày ấy, đến nay còn được lưu truyền miệng trong gia đình ông Nguyễn Văn Sử ở Tân Lập, Bắc Giang? Thiết nghĩ, "văn bản" này cần được nghiên cứu, thẩm định thêm...

Lãnh tụ Hoàng Hoa Thám mất ngày 10.3.1913 sau gần 30 năm lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Yên Thế, Bắc Giang (1884-1913). Viết đến đây,chúng tôi chợt nhớ hai câu của cụ Trương Hán Siêu trong "Bạch Đằng Giang phú" thời Trần (dịch): "Những người bất nghĩa tiêu vong/ Nghìn xưa chỉ có anh hùng lưu danh".

Cầu mong anh hồn người xưa phù hộ cho những người hôm nay thành kính, nhiệt tâm trong công việc khảo sát thực địa, tìm lại mộ phần anh hùng dân tộc, sưu tầm thêm những tư liệu quí về cuộc khởi nghĩa Yên Thế, sau gần một thế kỷ qua. Trên lộ trình này, xúc tiến việc tôn tạo một khu di tích lịch sử - văn hoá xứng tầm, tôn vinh những người yêu nước trên căn cứ địa Yên Thế, Bắc Giang đã hy sinh vì Tổ quốc.

Thành phố Nam Định
PHẠM TRỌNG THANH

----------

Mề-đay (médaille): huy chương, bội tinh của "Nhà nước Bảo hộ" Pháp;

(*) Kim khánh: huân chương của triều đình nhà Nguyễn, hình chiếc khánh và bằng vàng.

(**) Tiêm cừu: Giết quân thù

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác