Thanh Tịnh và độc tấu thơ ngày trước

(Toquoc)- Độc tấu ngày trước và trình diễn thơ hiện nay có nhiều điểm thân thuộc. Sự thân thuộc này có cơ sở trong bản thân thể loại thơ và các hình thức sinh hoạt thơ truyền thống. Thiết nghĩ không nên xem trình diễn thơ của ta mấy năm gần chỉ đơn thuần là một thứ hàng nhập khẩu.

Thơ độc tấu ở ta xuất hiện từ những năm 40 của thế kỉ trước. Ý tưởng làm độc tấu có sớm nhất ở Thanh Tịnh. “Bắn cả hai” là bài độc tấu đầu tiên của ông. 

Thanh Tịnh và độc tấu thơ ngày trước - ảnh 1Thanh Tịnh làm độc tấu trước hết để phục vụ kháng chiến và phong trào văn nghệ quần chúng. Độc tấu ở Thanh Tịnh phát triển qua ba chặng. Ban đầu Thanh Tịnh đọc nguyên văn các văn bản có sẵn (1). Sau đó ông tạo ra những câu ngắn kiểu ca dao để người nghe dễ hiểu, cảm thấy có hứng thú khi nghe, và cuối cùng - trên cơ sở những chuyện, những người, những việc có thực - ông sáng tạo thành những câu chuyện bằng văn vần, hoặc bằng lối thơ tự do và gọi chúng là độc tấu. Ví dụ:

- … Đợi cho đoàn đồng bào ta đi qua khỏi và một chút nữa hơi lâu

Thì… rầ…ầ…ầm! Một quả bom nổ tung làm long trời chuyển đất

Bọn giặc đi sau giật bắn người cứ run lên bần bật

Xả liên thanh bắn chỉ thiên, chỉ địa, nghĩa là chẳng chỉ vào đâu

Chúng bắn chưa hoàn hồn thì Rầm! rầm! Thêm hai quả địa lôi lại thi đua nổ tiếp…

(Trận địa lôi cây số 7 đường Hà Tuyên, 1947)

-… Lão du kích quê ở đâu không rõ

Lên ở đây hồi mái tóc còn xanh

Dân quanh vùng thường gọi: Ké Thạch Sanh

Chỉ vì cụ nương hốc đá làm hang ở

Bạn nương rẫy bốn mùa quen tay vỡ

Không vợ con và không cả bà con…

(Lão dân quân Đông Bắc, 1949)

Độc tấu gắn chặt với môi trường văn hoá quần chúng, với “công tác cổ động thông tin”. Tác giả độc tấu thường chắt chiu những đề tài thiết thực và gần gũi đối với quần chúng cách mạng. Độc tấu diễn xướng trong dân gian, lấy sự tích anh hùng và cách kể của kí sự làm điểm tựa. Độc tấu nguyên khởi chủ yếu kể sử, một thứ sử do chính quần chúng nhân dân tạo nên, nó mang âm hưởng của giọng nói lớn, tiếng nói lớn. Thanh Tịnh hăm hở làm “người hát rong của kháng chiến”, ông “kể chuyện kháng chiến cho người kháng chiến nghe”.

Độc tấu được cách mạng hoá về nội dung và quần chúng hoá về hình thức biểu diễn cho nên nó không chỉ sớm được phổ cập, phổ biến khắp các xã huyện, tỉnh thành. Một mặt độc tấu có tác dụng làm cho quần chúng “phấn khởi vui cười” mặt khác nó còn làm nhiệm vụ khắc hoạ chân dung, giải thích đường lối và tuyên truyền chủ trương cách mạng. Độc tấu tác động mạnh vào nhận thức của nhiều người không biết chữ và những người đi tản cư mà không hiểu rõ mục đích của cuộc đi đó. Nó có tính thời sự, tính chiến đấu và tính phổ thông…

Chẳng thế mà vào những năm 60, 70 của thế kỉ XX, ở phần lớn các hội diễn nghệ thuật quần chúng đều có tiết mục độc tấu. Đội ngũ tham gia độc tấu ngày càng đông. Tính chuyên nghiệp của độc tấu cũng dần được bộc lộ. Đã có nhiều trường văn hoá nghệ thuật đưa độc tấu vào chương trình giảng dạy. Các sở văn hoá, ty văn hoá còn tổ chức các lớp, các trại ngắn ngày bồi dưỡng sáng tác và biểu diễn độc tấu. Sách báo đăng in các sáng tác độc đấu, hoặc viết về các kinh nghiệm biểu diễn độc tấu rất nhiều. Một số tiết mục độc tấu, tác phẩm độc tấu của diễn viên quần chúng được trao huy chương vàng, huy chương bạc. Hội văn nghệ kháng chiến trao tặng thưởng cho tác phẩm độc tấu của Thanh Tịnh. Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng khẳng định: độc tấu trở thành một hiện tượng của nền văn nghệ kháng chiến buổi đầu. Mà có lẽ cũng chính vì lí do đó nên Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ nhất đã nhất trí đưa vấn đề độc tấu ra thảo luận.

Độc tấu còn có nhiều tên gọi khác như: tấu nói, tấu thơ, tấu văn vần, hay chỉ ngắn gọn là tấu.

Độc tấu khác với ngâm thơ, vì ở độc tấu người biểu diễn không ngâm mà “nói là chính”. Độc tấu cũng không phải là vè, hay xẩm, “vì vè, và xẩm đều phải kể theo làn điệu có sẵn, lại có tiếng sênh, tiếng nhị kèm theo và đều phải ngồi mà kể”. Độc tấu khác với diễn kịch, vì chủ thể độc tấu chủ ý diễn lại một câu chuyện nào đó bằng cách tự thuật hoặc thế ngôn chứ họ không kể lại nó bằng cách phân vai cho các chủ thể khác nhau. Thanh Tịnh cho hay, ông dùng từ độc tấu để chỉ các “tiết mục do một người diễn, thuật lại nội dung gì đó về kháng chiến và cách mạng, cho nhiều người cùng nghe”. Cần phần biệt biểu diễn độc tấu kiểu của Thanh Tịnh khác với hình thức độc tấu trong âm nhạc.

Một bài độc tấu có thể có yếu tố gây cười, nhưng không phải là diễn hề, vì độc tấu kể với thính giả một câu chuyện có đầu có cuối, và có tác dụng giáo dục chính trị sâu sắc. Độc tấu huy động mọi phương tiện biểu hiện, mọi cách thức trình diễn, từ lời kể, lời bình, lời ngâm, thậm chí cả giọng hát đến hành động, điệu bộ, cử chỉ của người diễn. Độc tấu chấp nhận “lời kể mộc”, không đòi hỏi có phục trang, nhạc cụ đi kèm. So với một số loại hình biểu diễn khác nó có ưu thế trong việc phát huy cao độ năng lực ứng tác của người trình diễn. Độc tấu đòi hỏi cao khả năng sử dụng ngôn từ, khả năng nói, diễn của người biểu diễn. Nó cũng yêu cầu người diễn phải thường xuyên tìm tòi làm mới, trau dồi cách kể giàu hình ảnh mà thật cô đọng, có duyên, có điểm nhấn, tránh lối kể lan man, thiếu định hướng tư tưởng và thiếu ngữ điệu.

Giữa người độc tấu và người nghe độc tấu có sự tương tác trực tiếp. Qua lời nói, giọng nói và qua các động tác, cử chỉ, người tấu tác động trực tiếp vào nhận thức, tình cảm của người xem. Khán giả cần nghe thấy, “trông thấy” được sự việc, sự vật, họ chờ đợi cảm được, thấy được tức thì những “cái đang diễn ra trên sân khấu”. Người tấu có khi trình diễn theo yêu cầu, thị hiếu của người xem, khiến cho người xem phải biểu hiện xúc cảm tức thời. Người nghe độc tấu có thể đế vào lời kể của người diễn tấu, khiến cho không khí tấu có nhiều bè giọng. Độc tấu có nhiều sắc điệu thẩm mĩ, bi hài, trang nghiêm. Ở giai đoạn đầu độc tấu chủ yếu nghiêng về ngợi ca, về sau tăng dần yếu tố hài hước và các câu chuyện cảnh tỉnh.

*

Để độc tấu thơ, dĩ nhiên trước tiên phải có thơ. Nhưng không phải bài thơ nào, lời thơ nào viết ra cũng có thể độc tấu được. Thơ sáng tác để độc tấu, để trình diễn thì phần lời của nó phải giàu hình ảnh, dễ hiểu, có vần điệu, nhạc điệu, lại phải được cấu trúc thế nào đó để có thể tác động được trực tiếp vào sự hình dung và cảm nhận của người nghe. “Một bài độc tấu chỉ hoàn chỉnh khi nào đã được trình diễn” (2). Giá trị của một bài độc tấu được bộc lộ đầy đủ sau khi đã được trình diễn. Thơ độc tấu do sáng tác để biểu diễn nên người sáng tác độc tấu cũng phải đồng thời nhập vai người diễn trong công đoạn sáng tác ở cả khi tự sự lẫn trữ tình. Sự thành công của một bài độc tấu phụ thuộc vào cả phần lời lẫn phần biểu diễn.

Thơ độc tấu là thứ thơ “của sân khấu, của quảng trường, của quảng đại quần chúng, của những nơi tập họp đông người”, “độc tấu có mặt trong các buổi sinh hoạt câu lạc bộ hợp tác xã, công, nông lầm trường xí nghiệp, các đơn vị bộ đội. Độc tấu có mặt trong các giờ giải lao, giữa các cuộc họp, trên đồng ruộng, công trường, xưởng máy. Độc tấu có mặt trong các ụ pháo, giữa các bệ phóng tên lửa trong những năm đánh Mỹ. Độc tấu còn có mặt trong các cuộc vận động đẩy mạnh sản xuất hoàn thành kế hoạch Nhà nước, xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá mới, bài trừ mê tín dị đoan, đấu tranh chống những hiện tượng tiêu cực trong xã hội…(3)

Thơ độc tấu có tính chất tổng hợp. Tính chất tổng hợp đó thể hiện ở tất cả các khâu từ sáng tác đến biểu diễn. Độc tấu tận dụng ưu thế của nhiều loại hình nghệ thuật, nhiều hình thức phát ngôn. Nó được sáng tác để biểu diễn, để nói to lên do đó trong tổ chức âm thanh của nó có cả điệu nói, điệu ngâm và điệu ca. Người diễn ở độc tấu vừa tham gia vào chính câu chuyện được kể vừa sáng tạo ra các lời thoại của các nhân vật khác để làm nổi rõ tính cách của chúng. Ở độc tấu nguyên khởi, người sáng tác chỉ tạo ra một người kể, một người diễn; các giọng nói khác, giọng kể khác  luôn được tái hiện gián tiếp qua lời nói, lời kể của chủ thể độc tấu. Dần dần, ở độc tấu có nhiều chủ thể kể, chẳng hạn trong bài độc tấu Truyền thuyết về hàng cây dương và những chồi cỏ mới của Trần Dũng có sóng biển kể, dân làng kể, cồn cát kể, hàng dương kể, gió Quảng Bình kể.

Thơ độc tấu khai thác được hiệu quả âm thanh của nhiều cách tổ chức phát ngôn, một số bài độc tấu sử dụng thể lục bát (Dân no thì lính cũng no...), thể bốn chữ (Hai em bé và lá cờ khởi nghĩa, Tìm anh…), còn phần lớn sử dụng phối hợp, hỗn hợp các thể, các dạng của lời nói. Nhiều bài độc tấu được mở đầu bằng các câu trò chuyện (ví dụ: Thưa các bạn; Thưa cô bác, bà con; Thưa các đồng chí…) và kết thúc bằng một đoạn thơ có giọng ngâm, giọng ca phù hợp với nó. Người sáng tác độc tấu cũng hay trích thơ của các nhà thơ nổi tiếng hoặc các lời ca dao, tục ngữ… gần gũi với quần chúng nhân dân để tạo thành các lời đưa đẩy, hoặc mượn nó làm cách triển khai ý, làm nổi bật ý nghĩa: Lửa thử vàng, gian nan thử sức; Bãi cát dài lại bãi cát dài/ Đi một bước như lùi một bước….

Thơ độc tấu thường có dung lượng dài, có bài trên trăm câu thơ. Ở các bài thơ dài hơi, các phát ngôn đối thoại được sử dụng phổ biến, và đan cài vào dạng thức phát ngôn này luôn có các lời miêu tả động tác, cử chỉ, nhịp giọng. Nếu sự kéo dài của diễn ngôn thơ độc tấu chủ yếu do nhu cầu kể và tính chất có cốt truyện quy định thì sự ngắn gọn của nó lại do yêu cầu trữ tình và tính độc thoại của lời phát ngôn tạo nên.

Độc tấu ngày trước và trình diễn thơ hiện nay có nhiều điểm thân thuộc. Sự thân thuộc này có cơ sở trong bản thân thể loại thơ và các hình thức sinh hoạt thơ truyền thống. Thiết nghĩ không nên xem trình diễn thơ của ta mấy năm gần chỉ đơn thuần là một thứ hàng nhập khẩu.

Hà Thanh Vân


-----------------------

(1) Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ Tịch…

(2) Tham khảo Độc tấu thơ - sáng tác và biểu diễn. Nxb Văn hoá, 1978, tr 65

(3) Tham khảo Độc tấu thơ - sáng tác và biểu diễn. Nxb Văn hoá, 1978, tr 66

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác