Thăm Nhà tưởng niệm Nhà thơ anh hùng Huỳnh Văn Nghệ

Những ngày này, HTV7 đang chiếu bộ phim Truyền hình nhiều tập Vó ngựa trời Nam, tái hiện một thời sôi động của Kháng chiến Nam Bộ qua hình tượng Võ tướng Huỳnh Văn Nghệ. Đến lượt cuộc đời nhà thơ chiến sĩ thành chất liệu cho những sáng tạo văn học nghệ thuật mới.

Thăm Nhà tưởng niệm Nhà thơ anh hùng Huỳnh Văn Nghệ - ảnh 1
Huỳnh Văn Nghệ và vợ
Mùa hè năm 1939, tại làng Tân Tích tổng Chánh Mỹ Hạ tỉnh Biên Hòa nay là xã Thượng Tân huyện Tân Uyên tỉnh Bình Dương có một bà mẹ nghèo làm nghề buôn bán cau trầu cùng mấy món hàng quê kiểng để nuôi con ăn học. Bao hi vọng đổi đời của bố là ông thầy dạy võ và bà mẹ nghèo gửi gắm vào cậu con trai, sau khi học trường Petrus Ký ở Sài Gòn, ra làm công chức Sở hỏa xa Đông Dương. Thế mà một ngày kia, bà nhận được bức thư là một lời Thú tội:

Mẹ hỡi! Con đành cam bất hiếu

Con còn biết làm sao cho mẹ hiểu

Để mẹ buồn và thất vọng vì con

Nỗi lòng con cũng chua xót đời con


Phải mẹ để mặc con ngu dốt

Con có thế tìm vui và hạnh phúc

Không hiểu đời và thế giới bao la

Giữa gia đình đầm ấm tháng năm qua


Mẹ lại nhịn trầu cau mua mực viết

Nhịn bánh quà để mua sách cho con

Những lúc ấy, mẹ ơi, có biết

Mẹ vô tình đã mua lấy đau buồn

Giờ con lại vụng khờ hơn thiên hạ
Chịu thua tình và thất bại với tiền
Phải mẹ biết con muốn làm thi sĩ
Thì mẹ ơi! Chi xiết nỗi ưu phiền.

Mẹ kể như một đứa con đã mất
Cây mẹ trồng sẽ không trái bao giờ
Công vun tưới bằng mồ hôi, nước mắt
Để không ngờ chỉ hái những hoa sâu.

Người con chí hiếu và cả bà mẹ tần tảo nuôi con hoàn toàn không thể ngờ nhờ có cách mạng mà có ngày tác giả lời Thú tội ấy lại sẽ trở thành niềm tự hào không chỉ của gia tộc mà của cả quê hương Tân Uyên khi ông tham gia cách mạng rồi kháng chiến, là vị chỉ huy quân sự lập bao chiến công lừng lẫy, được gọi là Thi tướng rừng Xanh, là một vị tướng huyền thoại của chiến khu Đ - Miền Đông Nam Bộ.

Và tháng 3-2010, 33 năm sau ngày mất, ông được Nhà nước phong danh hiệu Anh hùng.

Đó là Nhà thơ - chiến sĩ - Vị tướng Huỳnh Văn Nghệ.

*

Không đợi đến ngày được phong danh Anh hùng, từ mấy năm trước, gia tộc đã dựng nhà tưởng niệm Ông ở ngay mảnh vườn nhà. Đường từ Sài Gòn ra ngã tư cầu Bình Phước qua trạm thu phí Lái Thiêu 20km tới ngã tư Hòa Lâm thì rẽ phải. Đường lớn qua Ngã tư Bình Chuẩn, chợ Tân Phước Khánh, qua Khu Công nghiệp Nam Tân Uyên qui mô hiện đại tới Thị trấn Uyên Hưng rồi tới Ngã Ba Bưu điện khoảng 25km; từ Ngã Ba Bưu điện qua trụ sở UBND xã Tân Mỹ 5km là tới Nhà tưởng niệm.

Được đặt khiêm tốn trong vườn cũ, Nhà tưởng niệm vừa được nâng cấp có 2 tầng. Tầng trên là phần thờ tự bày biện theo truyền thống Việt Nam.

Tầng dưới được trưng bày ảnh và hiện vật của Nhà thơ Chiến sĩ. Qua hình ảnh, những tấm ảnh đã ố mờ theo thời gian, có thể biết phần nào về những chặng đường đời oanh liệt của ông: Tổ chức chiến khu từ 1944 ở quê nhà Tân Uyên, Tổ chức khởi nghĩa tháng 8-1945, Trực tiếp bắt sống những kẻ cầm đầu chính quyền cũ, những tên việt gian sừng sỏ. Nhờ lập nhiều chiến công xuất sắc, tháng 5-1946 Tư lệnh quân đội Nam Bộ là Trung tướng Nguyễn Bình phong Chi đội trưởng Chi đội 10. Rồi sau đó lần lượt làm Khu Bộ phó Khu bộ 7 Miền Đông Nam Bộ, rồi Khu trưởng Khu 7 kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Quân khu 7.

Đây là những năm hào hùng và oanh liệt nhất của người chiến sĩ với câu thơ lưng ngựa, kiếm thép cầm tay. Làm người thân quen của những vị lãnh đạo chính trị quân sự nổi tiếng đất Nam Bộ: Nguyễn Bình, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Nguyên, Lê Đức Thọ…

Ngoài một số vật dụng, đồ dùng ít ỏi còn lưu giữ được, Nhà tưởng niệm còn bày bút tích thi nhân qua các cuốn sổ tay, ghi chép. Nhờ thế có thể thấy bản gốc bài thơ ta quen với đầu đề: Nhớ Bắc, trong sổ ghi là: Tiễn bạn về Bắc, cuối bài ghi rõ: Ga Sài Gòn 1940.

Trong đó có câu thơ tác giả viết: Từ độ mang gươm đi giữ nước

Có lẽ cũng như số phận những bài thơ nổi tiếng một khi lưu truyền được dân gian hóa và tác phẩm luôn được sửa đổi theo văn cảnh và địa phương. Những câu chữ sửa đổi có thể không hay hơn nhưng phù hợp hơn với tâm trạng, tâm thế, hoàn cảnh người đọc.

Những dị bản của câu:

Từ độ mang gươm đi giữ nước (mở cõi)

Trời Nam (ngàn năm) thương nhớ đất Thăng Long

là một trường hợp như thế!

Một số câu thơ Huỳnh Văn Nghệ từ lâu đã được dùng làm khẩu hiệu trong các áp phích, tranh cổ động vì tính súc tích, sức hàm chứa có sức động viên và cổ vũ:

Nước Việt Nam, ôi Việt Nam yêu mến

Sống vì Người, ta thác cũng vì Người

Không bao giờ để lợi danh lưu luyến

Mong ngàn thu rạng rỡ với đời

Hay:

Trên lưng ngựa múa gươm vừa (và) ca hát

Thì lòng say chiến trận cũng là thơ

(Dị bản: Lòng ta say chiến trận đến thành thơ)

Đọc câu thơ này, có thể nghĩ, tác giả dùng bút pháp khoa trương, mượn hình tượng người tráng sĩ cổ. Nhưng nhìn bức ảnh phóng lớn tác giả vung gươm trên lưng ngựa thủa trai trẻ mới thấy đó là một câu thơ tả thực.

Có điều, phần tưởng niệm chưa nói hết những thăng trầm trên đường đời của vị Võ tướng - thi nhân và vì mang đồng thời hai tính cách ấy mà đường công danh nếu có khá nhiều giai thoại làm nên những huyền thoại đẹp thì cũng không ít những trắc trở vì kỷ luật quân đội luôn kỵ với sự phóng túng, hào hoa, mang mầu sắc hảo hán, lãng tử, hiệp sĩ tự do, vốn là bản tính của người đi mở cõi.

Rất mừng là từ 2006, giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật đã tặng cho ba tác phẩm của ông: Chiến khu xanh, Bên bờ sông xanh, Rừng thẳm sông dài.

Và Bình Dương quê hương đã lấy tên Huỳnh Văn Nghệ đặt cho Giải thưởng Văn học của Tỉnh.

Vậy, ông là nhà thơ - chiến sĩ đầu tiên được phong danh hiệu Anh hùng. Muộn còn hơn không. Cái kết đẹp cho một cuộc đời Đẹp, người đã đem thi ca làm nên vầng hào quang đặc biệt cho hành trình gian nan của người chiến sĩ trong cuộc chiến tranh giải phóng tổ quốc. Chính cuộc đời chiến đấu và thi ca của ông đã đính chính sự lo lắng năm nào:

Phải mẹ biết con muốn làm thi sĩ

Thì mẹ ơi, Chi xiết nỗi ưu phiền

Nhà thơ Thanh Tịnh, thi sĩ tiền chiến duy nhất suốt đời mặc áo lính, có ao ước làm sao chỉ gửi lại cho đời sau một câu thơ nhân tình. Nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ chắc chắn đã làm được hơn thế!

Tới thăm nhà Tưởng niệm xây trong khuôn viên đẹp, bình yên trên đất Tân Uyên, chợt nhớ bài thơ Mất Tân Uyên tác giả viết ở chiến khu Đ năm 1949:

Trận Tân Uyên cuối mùa Đông năm ấy

Lần đầu tiên giặc Pháp nếm chua cay

Lần đầu tiên đạo viễn chinh lừng lẫy

Phải lui về bỏ lại mấy trăm thây.

Rồi từ đó Tân Uyên thành chiến địa

Máu quân thù tiếp tục chảy không thôi

Dòng sông xanh đã nhuộm mầu máu tía

Thuyền bến xưa phiêu bạt bốn phương trời.

Đến thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, chiến khu Đ, Đất miền Đông lại qua những tháng năm bị tàn phá nặng nề. Nhưng cũng là những năm tháng người miền Đông lập nên những chiến công làm khiếp đảm kẻ thù.

Người miền Đông hôm nay đang biến miền đất chết bao năm tháng cũ thành một vùng công nghiệp năng động, giầu sức sống mà Bình Dương - Tân Uyên của Huỳnh Văn Nghệ là một địa chỉ nổi tiếng.

Nhà tưởng niệm nhà thơ - chiến sĩ Huỳnh Văn Nghệ không chỉ để nhớ về Ông, mà rộng hơn, qua cuộc đời và tác phẩm của một con người, ta biết cụ thể, sâu sắc, ấn tượng hơn về một Vùng quê thân yêu.

Những ngày này, HTV7 đang chiếu bộ phim Truyền hình nhiều tập Vó ngựa trời Nam, tái hiện một thời sôi động của Kháng chiến Nam Bộ qua hình tượng Võ tướng Huỳnh Văn Nghệ. Đến lượt cuộc đời nhà thơ chiến sĩ thành chất liệu cho những sáng tạo văn học nghệ thuật mới.

24/4/2010

Ngô Thảo

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác