Tản mạn về thơ lục bát

 

(Toquoc)- Phàm là người Việt Nam, ai ai cũng biết ít nhiều về thơ lục bát, một thể loại thơ truyền thống của người Việt, nó không chỉ có trong những lời ru hời của bà, của mẹ, trong những câu ca dao, câu vè đầy ắp những xúc cảm và trữ tình, nó còn hiện diện trong những tác phẩm văn học nổi tiếng của cha ông ví như Truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du, Lục Vân Tiên của cụ Nguyễn Đình Chiểu, thơ của Nguyễn Bính v.v…

Thơ lục bát gần với lời ăn tiếng nói của dân tộc, người bình dân, ít học cũng có thể buột miệng “lẩy Kiều” với những câu lục bát chỉn chu, ý vị và đầy hình ảnh hoặc đặt vè để ca ngợi hay chế giễu những sự vật hiện tượng trong xã hội. Do đó nhận xét về thơ lục bát, rất nhiều nhà nghiên cứu phê bình văn học, nhà thơ đều chúng một ý tưởng: “ Thơ lục bát dễ làm nhưng khó hay, bởi ranh giới giữa hồn cốt “thơ” và “vè” rất mong manh…”. Để giúp bạn đọc dễ hơn trong việc tiếp cận với thơ, vè, thơ lục bát, người viết xin mạn phép trích ra một số định nghĩa:

Từ xưa đến nay, từ Đông sang Tây có rất nhiều định nghĩa về Thơ, xin ngắn gọn một số định nghĩa của những nhà thơ phương Tây: “Thơ là sự thần thánh hóa thực tại” (Edith Sitwell), “Thơ là những gì đáng ghi nhớ trong cuộc sống” (William Hazlitt), “Thơ là ngôn ngữ chưng cất mạnh mẽ nhất của bản thân tác giả” (Rita Dove). Kahlil Gibran là tác giả của các câu thơ nổi tiếng “Wake at dawn with a winged heart and give thanks for another day of loving” (Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy/ Ta được thêm ngày nữa để yêu thương) hay “Ask not what your country can do for you, but ask what you can do for your country” (Ðừng hỏi đất nước có thể làm gì cho bạn, mà hãy hỏi bạn có thể làm gì cho đất nước). Với thơ, ông cũng có một định nghĩa rất ấn tượng: “Thơ là thỏa thuận giữa niềm vui, nỗi đau và băn khoăn, với một dấu gạch ngang của từ điển”. Còn ở nước ta, theo các nhà thơ hiện đại thì: “Thơ là thể loại văn học có độ hàm súc cao, là sự dồn nén cảm xúc đến mức“cô đúc” (Chế Lan Viên). “Thơ phản ánh hiện thực cuộc sống mà hiện thực ấy “đã được ủ thành men và bốc lên đắm say” (Lưu Trọng Lư) và “Si mê trong tâm hồn thi sĩ, là ánh chớp toé lên ở nơi giao nhau giữa tâm hồn và ngoại vật” (Nguyễn Đình Thi).

Sách nghiên cứu văn học thì cụ thể hơn: “Thơ là một hình thức nghệ thuật dùng từ, dùng chữ trong ngôn ngữ làm chất liệu, và sự chọn lọc từ cũng như tổ hợp của chúng được sắp xếp dưới một hình thức lôgíc nhất định tạo nên hình ảnh hay gợi cảm âm thanh có tính thẩm mỹ cho người đọc, người nghe”.

Còn vè thì sao? Có điều gì khác biệt? Sách “ Đại Nam quốc âm tự vị” viết về vè là: “Vè là một trong những thể loại văn học dân gian Việt Nam, là chuyện khen chê có ca vần và việc sáng tác vè là việc đặt chuyện khen chê có ca vần.” Định nghĩa này còn đơn giản, nhưng đã nêu được những đặc trưng cơ bản của vè. Theo “Văn hóa dân gian người Việt ở Nam bộ”: “Vè là một dạng báo nói do dân gian sáng tác và truyền tụng rất rộng rãi nhằm phản ánh kịp thời các sự kiện trong cuộc sống hằng ngày trong xóm, ấp, địa phương, dân tộc. Nó cũng là những tri thức dân gian về tự nhiên, về đạo lý được bắt vần để đưa về các khuôn dạng ổn định, dễ thuộc, dễ nhớ”. Có lẽ vì vậy, vè thường mang một sắc thái gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày, rất dễ làm, ít vận công về từ ngữ, giá trị thẩm mỹ và nghệ thuật. Viết đến đây, ít nhiều bạn đọc đã hình dung ra sự khác nhau giữa “Thơ” và “vè”, mà theo phân tích của nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm thì: “Xin nêu ví dụ phân biệt thơ và ca vè. Hai câu thơ quen thuộc và rất hay của nhà thơ Chế Lan Viên:

Mỗi gié lúa đều muốn thêm nhiều hạt

Gỗ trăm cây đều muốn hóa nên trầm

Gié lúa và cây gỗ là thứ vô tri, nó đâu biết mơ ước đến những điều cao siêu ấy, mà chính là cảm xúc, ý tưởng của nhà thơ về chúng mà thôi. Ở hai câu này nhà thơ dùng thủ pháp nghệ thuật nhân cách hóa.

Nếu làm ca vè chỉ cần viết:

Lúa vàng hạt mẩy đồng ta

Trầm hương gỗ quý, bao la trên rừng

Ca vè thường thể hiện trực tiếp sự vật, tả chân, phù hợp với đề tài người thật việc thật.

Nhà thơ Trương Nam Hương có hai câu thơ về uống rượu với bạn:

Nâng ly bạn dốc trời xanh cạn

Quơ đũa khà say gắp tiếng chim.

Nếu là ca vè chỉ cần viết như bữa rượu bình thường:

Nâng ly bạn dốc vài hơi cạn

Quơ đũa khà say gắp thịt bò (hoặc thịt gà...).

“Dốc vài hơi cạn” thì ai cũng uống như thế cả. Nhưng “dốc trời xanh cạn” thì chỉ có nhà thơ mới có kiểu uống như thế. “Gắp thịt gà” thì ai cũng gắp được, nhưng “gắp tiếng chim” thì chỉ có nhà thơ mi gắp được mà thôi. “Gắp thịt gà” thì ăn được, nhưng không thơ; “gắp tiếng chim” không ăn được, nhưng lại rất thơ. Trong thơ thường kết hợp thực và ảo. Nếu chỉ toàn thực cả rất dễ thành ca vè.(Trả lời phỏng vấn phân biệt thơ và vè).

Còn “Thơ lục bát”, cũng không ngoài những nhận xét trên về tính chất và đặc trưng của thơ ca, chỉ có điều, thơ lục bát gồm những cặp câu 6 chữ và 8 chữ, tuân thủ luật bằng trắc và vần. Luật bằng trắc gồm câu 6 chữ là: Bằng bằng (BB), trắc trắc (TT), bằng bằng (BB), câu 8 chữ gồm: BB, TT, BB, TB. Và để dễ làm người ta thêm qui ước: “Nhất tam ngũ bất luận. Nhị tứ lục phân minh”, có nghĩa là luật chỉ cần đúng ở các câu chẵn 2, 4, 6… Song hiện nay, không còn quá khắt khe, mà người làm thơ cũng có thể “phá cách”, miễn đảm bảo tính nghệ thuật của bài thơ. Về “vần” cần phải tuân thủ qui tắc. Chữ thứ 6 của câu lục vần với chữ thứ 6 của câu 8 tiếp theo, chữ thứ 8 của câu trên, vần với chữ thứ 6 của câu lục tiếp theo và cứ thế cho hết bài. Luật cũng qui định vần lưng, song ít người làm trừ ca dao hay vè theo thể lục bát.

Đấy là về mặt thi pháp, mặt lý thuyết, để đảm bảo một bài thơ lục bát “sạch nước cản” không phạm vần, luật… đối với những người mới làm thơ, bởi thơ lục bát rất dễ làm, ai cũng có thể làm còn hay, dỡ thì hạ hồi phân giải… Cũng vì thơ lục bát dễ làm, nên người người, nhà nhà có thể làm thơ lục bát, miễn bảo đảm nội dung, hình thức (vần, luật, âm điệu) và nhầm lẫn với vè như nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm đã phân tích ở trên. Song tâm lý người làm thơ ít ai… tỉnh táo để công nhận là mình đang làm… vè!

Mới đây một người làm thơ chuẩn bị in ấn, xuất bản tập thơ. Rất nhiều bài thơ lục bát trong tập không thể gọi… bằng thơ và cũng chưa “xứng tầm” là vè. Có thể trích ra đây bài thơ “Vào xuân”: “Xuân sang mưa nhẹ tay cầm/ Gọi tia nằng ấm lọc mầm nhủ xanh/ Đào khoe sắc nụ hồng ngần/ Én mai đan dệt ngập tràn ríu ran/ Nơi ta đứng dưới sao vàng/ Bác Hồ trìu mến nghiêm trang hội trường/ Chứng cho khai cuộc đời thường/ Bắt đầu từ rẫy con đường vươn xa/ Trùng khơi bão táp mưa sa/ Thân dù thịt nát vẫn hòa lòng trung/ Đã thề chẳng phút ngập ngừng/ Sẽ đi xuyên suốt tới cùng tóc râm.”. Chưa thể gọi đây là bài thơ, bởi tác giả chỉ mới nêu “quyết tâm” mà hoàn toàn không có cảm xúc “lên men”, khi chủ đề bài thơ là “Vào xuân”, nhưng tác giả cũng chưa “giải quyết” tương xứng chủ đề đặt ra? Chỉ có thể là sự ráp vần còn vụng về, khô cứng.

Rất nhiều “bài thơ” lục bát trong tập, chưa bảo đảm “vần”, câu từ giống với khẩu ngữ thô mộc như: “Vỗ tay muốn vỡ hội trường/ Anh Bí thư trẻ dễ thương không nè!” hay như “Biết rằng: Máu chảy về tim/ Giang khôn ướt nổi cánh chim giang hồ”. Bắt chước 2 câu rất “sến” trước đây là: “ Đành rằng máu chảy về tim/ Nhưng không ngăn được cánh chim giang hồ”, song tối nghĩa và… tệ hơn nhiều! Hoặc những câu thơ sáo mòn, quá cũ vào trong những bài thơ thời hiện đại: “Song đài biết có một mình ái loan/ Chưa không thể đợi đến xuân mà về/ Song loan châu phượng giữa quê thanh bình.” (Thơ cho em ngày giải phóng).

Chúng ta thật sự bái phục trước những câu thơ lục bát tài hoa như: “Dưới trăng quyên đã gọi hè/ Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông” hay như: “Người lên ngựa, kẻ chia bào
Rừng phong thu đã nhuộm màu quan san”
của cụ Nguyễn Du, hay rất hiện đại nhưng cũng thật trữ tình như thơ Đồng Đức Bốn: “Cái đêm hôm ấy gió mùa,/ Tơ nhện giăng đến cổng chùa thì tan.” Và: “Ngang trời tiếng vạc mảnh mai,/ Chém trăng đã đứt thành hai mảnh rồi…”.

Đáng buồn và đáng tiếc khi hiện nay, có quá nhiều người nhầm tưởng những bài… vè lục bát của mình là thơ lục bát, làm mất đi vẻ đẹp vốn có của hồn cốt thể thơ dân tộc, đồng thời nhầm tưởng luôn mình là… “nhà thơ”, cứ cho in những bài thơ lục bát kém chất lượng, khiến bạn đọc dần xa lánh với thơ, xem những bài lục bát… giống những câu nói đùa vui tếu táo trong những lúc trà dư tửu hậu…

Trần Hoàng Vy

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác