Tản mạn về ‘cỏ’ trong thơ Việt

 

(Toquoc)- Thật lạ, kể từ khi những bài kệ của các thiền sư Lí -Trần, sau những triết lí Phật giáo sâu sắc, biên độ của những thi ảnh minh họa trong thơ ngày càng được mở rộng. Ban đầu mới chỉ có hoa mai của mầm hóa sinh (Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết/ Đêm qua, sân trước một nhành mai- Mãn Giác thiền sư), cây gậy trúc, chiếc nón lá sen…rồi trở thành những biểu tượng mang nghĩa đạt đến  độ điển phạm, được đóng khung trong thế giới lí tính. Nhưng với nhà văn tài năng, các biểu tượng ấy vẫn đạt độ xanh tươi sinh động vốn có:

Trong rừng có bóng trúc râm

Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn

(Côn Sơn ca- Nguyễn Trãi)

Hay:

Thu ăn măng trúc đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao

(Nhàn- Nguyễn Bình Khiêm)

Cửa trúc vỗ tay cười khúc khích

Hiên mai tréo cẳng hát nghêu ngao

(Nhân tình thế thái - Nguyễn Bình Khiêm)

Sự vượt thoát ra khỏi hệ thống quy phạm này tuy là một bước tiến của văn học trung đại những vẫn chỉ là những sáng tạo đơn lẻ, chưa có được một nội lực mạnh mẽ để li tâm khỏi hệ thống quan niệm nghệ thuật cũ. Bởi thế, chẳng thể ngờ, với văn học hiện đại, đã xuất hiện một cuộc lật đổ các biểu tượng cũ, tôn vinh các biểu tượng mộc mạc đến tầm thường mà sâu sắc, nhân văn. Một trong số ấy phải nhắc đến "cỏ". Cỏ đã thành thước đo của những giá trị sống trương tồn.

Vốn là một tương sinh, tương khắc với đời sống nông nghiệp ngàn đời của người Việt, cỏ đã từ hoang dã mà thành dân dã. Xưa kia, nhà Nho nhìn cỏ ở vị thế thấp hèn của bậc tiểu nhân (Hoa thường hay héo cỏ thường tươi- Nguyễn Trãi). Hoặc giả, chỉ là thứ sinh vật phàm tục, thi ảnh thuần túy chứ chưa thể là một hóa thân, thế thân, đủ tầm vóc để diễn đạt một bản ngã. Vì lẽ đó mà ta chỉ thấy có: Cỏ non xanh rợn chân trời (Nguyễn Du).

Nhưng với thơ hiện đại, nhất là kể từ sau khi giai đoạn văn học quần chúng hóa (1945-1975), những gì gần với đời sống nông thôn, gắn với đời sống lao động của những bần, cố nông đã được đề cao hơn. Cái nhìn của chính trị, xã hội mới đã mở đường cho  quan niệm văn chương mới. Ta bắt gặp những cái tứ "cỏ" của văn chương từ những nhan đề tác phẩm như: Cỏ non (Hồ Phương); Lều cỏ Lê Nin (Tố Hữu). Cho đến những tuyên ngôn rõ ràng khi cỏ là đồng bào, là hồn vía dân tộc:  Biết chi đau đớn cỏ cây đồng bào (Ba mươi năm đời ta có Đảng- Tố Hữu); Cây cỏ trong chiêm bao xanh sắc biếc quê nhà (Người đi tìm hình của nước- Chế Lan Viên)…Để rồi bước sang giai đoạn văn học đổi mới, có ấy đã thành một bản thể của con người công dân khi mang trong mình hình hài, cốt cách và những gian lao hệ lụy.

Nguyễn Duy đã dành cả một thi phẩm (Cỏ dại- Mẹ và Em, NXB Thanh Hóa 1987) để xác lập địa vị cỏ một cách tường minh nhất. Trước tiên là sự lật úp các tầng bậc giá trị bằng một lập luận: giá trị thực tế mới là vĩnh hằng, nhân sinh:

Chia mình cho mọi buồn đau

Tan mình trong mỗi sắc màu vui tươi

Những mong có ích cho người

Dẫu làm thân cỏ dập vùi…xá chi

 

Bò bê ơi gặm ta đi

Thịt da ta lại xanh rì bao la

Bàn chân ơi đạp lên ta

Mà sang cuối đất mà qua cùng trời

(Cỏ dại - Nguyễn Duy)

Khi quy tất cả những thói quen cỏ, thành kiến cỏ, quản điểm cỏ về quy thuận, khuất phục trước một lập luận "có ích cho người", nhà thơ hẳn đã suy ngẫm rất kĩ. Sự hi sinh ấy cũng chính là sự tận hiến của mỗi con người trong thời đại mới. Dẫu chẳng cần ồn ào, dẫu đã hạ thấp mình xuống dưới cả cái tầm của lao động bằng sự mời gọi (bò bê ơi gặm ta đi) nhưng chính cái quy luật của chân giá trị lắng đọng qua thời gian đã đẩy cỏ lên tuyệt đỉnh bằng sự triết lí: Bao nhiêu là bóng siêu nhân/ Khuất trong bóng cỏ giữa trần gian thôi (Cỏ dại - Nguyễn Duy). Cũng kể từ đó, những xúc cảm trong thơ ông đều mượn cỏ mà thể hiện. Khi là sự xót xa, tuổi thơ ham chơi khi nhìn lại, người bà thân yêu của mình cũng chỉ còn là nấm cỏ. Nhưng nấm có ấy không đồng nhất với nấm "cỏ khâu xanh rì" vô thường của Nguyễn Du: Khi tôi biết thương bà thì đã muộn/ Bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi (Đò Lèn). Lại có khi là sự hóa thân của cỏ làm nên vẻ cổ kính, thâm trầm, tao nhã bằng một biến thể sắc rêu trên mái cổ: Em sâu sắc như kinh thành cổ kính/ Gốc si già da mốc ngói rêu xanh (Một góc chiều Hà Nội- Nguyễn Duy)

Nếu Nguyễn Duy gẩy những khúc lục bát về cỏ thì với Phạm Công Trứ, cỏ lại là thần tượng muôn thủa để ứng chiếu với em-  thần tượng một thời (Em thần tượng của một thời thi ca- Lời thể cỏ may). Với anh, là thứ cỏ may (cỏ đĩ, cỏ bờ), cũng hao hao giống đời mình. Dưới trăng vàng nó là thứ tô tem cao quý nhất của một thế giới bình dân, dung dị. Bởi thế mà cái lời thể lứa đôi cũng xác tín bằng cỏ, thiêng liêng vì có cỏ chứng giám để rồi khi tan vỡ thì: Trăng vàng đêm ấy bờ đê/ Có người ngồi gơc lời thề cỏ may. Gỡ đấy, nhưng ai đọc cũng thừa hiểu sao gỡ nổi những bông may như ngàn vạn mũi tên của thần tình yêu vô hình găm vào trái tim (cỏ may xiên một mũi kim). Nhưng đâu chỉ cỏ vậy, anh cũng còn có cả một kí ức cỏ sôi nổi, vô tư lắm chứ:

Cùng nhau men lối bờ đê

Giữa bao la cỏ em mê cỏ nào

Thủa ấy tóc để chỏm đào

Cầm tay cỏ dắt anh vào xưa xa

 

Hồn nhiên nhất đám cỏ gà

Chọi nhau túi bụi để mà cười vui

Mập to đích thực cỏ voi

Cỏ mật thì ngọt, nhọ nồi lại đen

Cỏ may xiên một mũi kim

Chân vịt mỏng mảnh, chân chim loè xoè

Cỏ lăn cỏ lác cỏ le

Khỏe như cỏ gấu lại e cỏ gừng…

(Cỏ - Phạm Công Trứ)

Cỏ dân dã, xuề xòa với ông là vậy, nhưng khi trở thành thước đo giá trị sống của đời người thì nó chợt thăng hoa bởi sự thiêng liêng: Chắp tay vái cỏ dọc đường/ Hẳn là mấy bác tha hương về làng. Đưa tất cả trở về với giá trị gốc, ông cũng coi lúa kia cũng là cỏ: Lúa là một giống cỏ hoang/ Ông cha thuần dưỡng mùa màng trĩu bông. Và sau cùng, chàng trai ấy nhắc khéo người con gái - hiện thân của tâm lí thời đại: Quê mình hoa cỏ đầy đồng/ Ngoài thành phố cỏ phải trồng đó em. Chỉ bằng một chữ "trồng" tưởng chỉ là bỡn cợt (ở đời ai đi trồng cỏ) lại thành một phục bút dâng cỏ lên mà xoắn ngôi của những tráng lệ giả tạo của phố phường.

Nhiều người đọc thơ lâu nay vốn ác cảm với "cỏ độc" của Đồng Đức Bốn trong  tập thơ cuối Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc. Nhưng đọc kĩ thấy cỏ ấy đâu phải là thứ độc dược mà là thứ cỏ cơ cực, lam lũ, đắng đót mà thật kiên gan như chính con người anh. Đó là khi thương tình cũ quả quyết nghĩ đến "em bỏ chồng về ở với tôi không" thì cỏ dại ấy tựa như thân phận người phụ nữ chấp chới bên bờ vực đắng cay:

Mùi cỏ dại vẫn ven bờ nước đắng

Tình của em như một tờ giấy trắng

Mãi bây giờ tôi mới viết thành thơ

(Em bỏ chồng về ở với tôi không - Đồng Đức Bốn)

Thứ cỏ ấy dẫu không là biểu tượng trung tâm trong thơ anh nhưng là thứ tín niệm để xác lập ranh giới giữa quê và phố. Tiêu chuẩn "cỏ", sức sống "cỏ" đã thành thước đo vô hình mà chuẩn chỉ: Nhà cao dẫu đến lưng trời/ Nếu không có cỏ cũng với sắc hồng. Sự liên tưởng ấy chẳng những đã không làm mòn đi biểu tượng mà còn làm sáng thêm một dáng cỏ trong thơ.

Cũng với mạch suy cảm về cỏ, nhưng có một Bùi Hoàng Tám- nhà thơ cũng thật thuần hậu quê mùa- lại lành đến minh triết và sâu sắc. Chừng hai thập kỉ trước, chẳng bị góc cạnh bởi ảnh hưởng chủ nghĩa nào, chẳng xô lệch bon chen vào đâu, cỏ của anh cứ thế "bò" ra trang viết:

Anh chỉ là ngọn cỏ

Gần đất nên xa trời

Đan vào nhau để sống

Kết vào nhau để tươi

Anh chỉ là ngọn cỏ

Như lẽ đời giản đơn

Nhưng em ơi vắng cỏ

Lấy gì xanh núi non

(Cỏ - Bùi Hoàng Tám)

Cỏ ấy cứ nhẩn nha thừa nhận những thứ khiêm nhường hiển nhiên nhưng sức bật lại mạnh mẽ đến chừng nào. Sống để mà "tươi"là thứ cỏ ngang tàng, cao ngạo biết giấu giọng trong sự nhu mì, nhẫn nhịn. Một biểu tượng khi đã được cân nhắc, nghĩ cho chín đến độ tinh chất thì sẽ bật lên thành câu hỏi cật vấn thị hiếu thời đại náu trong một chữ "em": Nhưng em ơi vắng cỏ/ Lấy gì xanh núi non. Phải là người trải đời với cỏ, bụi bặm, bật bã như cỏ mới nói được như vậy. Khi Cỏ đã nhập vào thành chữ của nhà thơ thì khó mà đánh mất vị thế của mình trong trường biểu tượng.

Cỏ, đã và sẽ là một số phận rất riêng trong thi ca Việt Nam. Vốn mang tâm lí sáng tạo ưa vận dụng những thi liệu, biểu tượng dân gian, các nhà thơ Việt thưởng sử dụng cỏ để ngầm chỉ một sự bình dị, trực chỉ sự vĩnh hằng, bất tận. Nhưng đâu chỉ dừng ở điều ấy, theo thời gian, theo sự trưởng thành của các thi nhân, cỏ đang lớn lên và trở thành một biểu tượng thân thuộc trong lòng người đọc hôm nay.

Phương Mai

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác