Tâm sự nghề văn: Cái thật và cái hơn thật

(Toquoc)- Một quyển tiểu thuyết hay, dứt khoát nó không phải là quyển tiểu thuyết “rất thật” mà là cao hơn cái thật gấp nhiều lần. Càng cao hơn sự thật bao nhiêu thì cái giá trị của nó càng lớn hơn bấy nhiêu.

Có một lần trong bản thảo một cuốn tiểu thuyết về hợp tác xã thời trước đổi mới tôi có viết, đại ý: Một buổi sáng mùa hè. Vào quãng chín giờ trời đã nắng gắt, mặt trời đỏ rực đổ lửa xuống mặt đường làng cát bỏng. Chủ nhiệm Thộn đạp chiếc phượng hoàng phóng vun vút, trông anh ta vẫn là cái dáng cán bộ chủ chốt đi họp: Bộ quân phục bạc mầu, mũ cối, dép cao su đế cao, chiếc xà cột bằng vải xanh đeo trễ ngang hông. Chỉ khác có một điểm là đằng sau cái yên anh lại kẹp vào đấy cái bao gai! Cái bao gai gấp tư kẹp sau xe ấy chẳng ăn nhập gì với cái xe phượng hoàng mới và cái dáng cán bộ của anh. Nhưng chính nó mới nói thật về con người anh ta. Anh đạp xe vun vút đến quãng đường bờ sông, nơi có đội cá của hợp tác xã đang đánh cá. Chẳng hiểu thế nào mà anh đội trưởng đội cá dù đang mải kéo lưới vẫn nhìn thấy chủ nhiệm từ xa đang phóng xe đạp đến. Khi chiếc xe của chủ nhiệm đến gần thì đôi mắt anh đội trưởng đội cá chỉ chăm chăm nhìn vào cái bao tải kẹp sau xe. Gần đến nơi, chủ nhiệm Thộn cho xe từ từ chậm lại. Cũng là lúc đội trưởng đội cá đã buông tay kéo lưới và nhoài được lên bờ, chạy vội đến trước mặt chủ nhiệm giơ tay đỡ cái ghi đông cho xe dừng lại hẳn. Vị chủ nhiệm vẫn ngồi yên trên xe, một chân để vào pê-đan, còn chân kia chạm đất. Không nói gì, chủ nhiệm chỉ khẽ lừ mắt về phía sau xe, nơi có cái bao tải kẹp vào. Đội trưởng hiểu ý ngay, anh ta đưa tay rút cái bao tải rồi cầm đến thúng cá mới đánh để vệ đường, chọn bốn con cá chép to nhất, mỗi con đến vài cân bỏ vào bao rồi cuộn lại, vội vàng đưa lên buộc vào sau xe chủ nhiệm. Chiếc xe chủ nhiệm phóng đi. Nó đi về hướng nhà ông. Vợ ông đã đứng sẵn ở ngõ. Xe dừng lại độ một phút đủ để bà vợ khôn ngoan bê cái bao tải sau xe chồng đưa vào bếp…

Để viết được đoạn kịch câm này tôi đã có thời gian hàng chục năm làm anh xã viên hợp tác xã, thuộc làu tâm lý tính cách chủ tịch và đội trưởng đội cá. Bản thảo được chuyển đến một nhà xuất bản. Tôi hồi hộp và đinh ninh thế nào mình cũng được biên tập khen cái đoạn này. Ai ngờ ba tháng sau, nhà biên tập gặp tôi nói:

- Cậu hỏng quá! Ai đời cậu tả người ta đi lấy cá mà lại đem bao tải là thế nào? Rổ đâu? Rá đâu? Lạt tre lạt nứa đâu không xâu vào mà treo ghi đông xe? Cái bao gai là để đựng thóc đựng gạo cậu có hiểu không? Và cũng phải có ngôn ngữ chứ? Đây tôi chữa lại đoạn này cho cậu đây… Tôi đọc đoạn chữa cho cậu nghe nhé…

Nghe xong đoạn chữa của nhà biên tập nọ, tôi thốt lên:

- Thôi thế thì anh giết em rồi!

- Tại sao?- Nhà biên tập hỏi vặn- Tôi mất cả ngày để chữa cho cậu đoạn này cho nó hợp lý mà tôi lại giết cậu à?

Tôi mếu máo:

- Vâng thưa anh, đúng là anh chữa thế này thì anh giết em rồi! Vâng. Cái bao gai là để đựng thóc đựng gạo, và nếu nó cứ đựng thóc đựng gạo thì có chuyện gì phải nói đâu. Còn như cái bao tải lại dùng để gói cá vào trong thì tự nó đã cho người đọc vỡ ra một điều gì đấy… Ngài chủ nhiệm đi xe sòng sọc đến chỗ đội cá đang đánh cá, ngài muốn lấy cá to và ngon đưa về nhà mà cứ ngồi yên trên xe, chỉ lừ mắt về cái phía bao tải, ấy là hình ảnh của vị quan tham quen cửa quyền. Đội trưởng đội cá vừa kéo lưới vừa để mắt lên đường nhìn cấp trên đến, nhất là chỉ nhìn cái bao tải buộc sau xe mà hiểu ra mọi điều, ấy là sự nịnh bợ, móc ngoặc giữa cấp trên và cấp dưới đã quá quen. Còn bà vợ ông chủ nhiệm, cũng như nhiều bà vợ quan thời nay thì khôn lắm. Bà vờ ra ngõ đứng chơi, lại cũng là thực thi một công vụ để làm giàu. Màn kịch câm mới làm nổi những điều ấy. Nếu thêm vào một câu của bất cứ nhân vật nào trong ba nhân vật ấy thì đoạn văn sẽ bị phá vỡ…

Nhà biên tập trố mắt nhìn tôi không nói gì. Nhưng khi đưa in thì ông gạt phéng!

Trong đoạn văn này có cái thật và cái cao hơn cái thật.

Cái thật làm nền. Nhưng cái cao hơn cái thật mới là cái “thần” của tiểu thuyết.

Trong vòng hơn ba chục năm gắn bó với hợp tác xã, tôi đã làm từ xã viên đến đội trưởng đội phó và cuối cùng là phó ban chăn nuôi. Tôi biết rất rõ là chăn nuôi tập thể thời ấy năm nào cũng lỗ khủng khiếp, nhưng khi tổng kết thì bao giờ cũng đại thắng đại lợi.

Rồi một lần liên hoan tổng kết chăn nuôi có mời nhiều vị cấp trên về dự, hợp tác xã ngả một chú bê làm món tái. Trống dong cờ mở và bản thành tích chăn nuôi kêu như chuông vàng. Đến lúc vào mâm và nâng cốc, ông chủ nhiệm hợp tác xã ngồi cạnh ông cán bộ cấp tỉnh cứ xun xoe hỏi đi hỏi lại:

- Anh xem chăn nuôi của chúng tôi có gì là nhất?

Cũng vừa lúc ấy ông cán bộ tỉnh gắp món tái bê chấm vào bát nước mắm gừng, vừa nhai vừa trả lời:

- Món tái bò tốt nhất…

Tôi cũng ngồi cạnh để hầu ông, vì tôi là phó ban chăn nuôi. Nghe cấp trên chỉ khen tái bê tái bò là tốt nhất, tôi và ông chủ nhiệm đều tái mặt, oán ông cán bộ tỉnh muốn chơi xỏ hợp tác xã chúng tôi. Mười năm sau tôi mới nhớ lại và biết rằng ông cán bộ tỉnh hôm ấy đã nói thật lòng. Đời ông cứ liên miên được mời đi chén, rồi cứ gật đầu khen lia lịa những điều mà cấp dưới bịa đặt. Thì lần này ông quyết khen thật một lần. Muốn vậy thì chỉ có món tái bê là tốt nhất!

Chi tiết nhỏ này đã chứa đựng cả cái thật và cái cao hơn cái thật. Ngẩng mặt nhìn lên các bậc đàn anh lớp trước thì thấy rằng các cụ đều là những bậc cao tay khi đưa vào tác phẩm những chất liệu vừa thực vừa cao hơn hiện thực rất nhiều, đến mức tưởng như vô lý mà người đọc vẫn chấp nhận thoải mái. Tiểu thuyết Số đỏ đã đưa Vũ Trọng Phụng đứng vào bậc văn tài lớn. Nhưng Số đỏ cũng là điển hình của sự vô lý mà thành có lý một cách tuyệt vời nhất. Bằng thủ pháp vừa trào lộng vừa khuếch đại, nhà văn đã dựng lên một loạt nhân vật vượt xa mặt bằng hiện thực đến hàng trăm bậc, để đứng cao vời vợi trong lâu đài Văn chương và trong sự say mê của người đọc, trở thành bất tử. Chí Phèo của Nam Cao cũng vậy. Nếu gã này chỉ ngang tầm mặt bằng hiện thực của một thời thì gã đã chết từ lâu. Chí Phèo của Nam Cao là tổng hợp cái chất Chí Phèo của mọi thời, cả những nét mà tạo hoá chưa kịp ban ra, cho nên thời nào cũng soi thấy bóng mình qua nhân vật của nhà văn. Kiều của Nguyễn Du cũng vậy. Đó là cô Kiều của chế độ phong kiến, nhưng cũng có những nét của thời nông nô, nguyên thuỷ. Và cũng chính là cô Kiều của thời tư bản và sau tư bản. Những cô gái của thời kinh tế thị trường hôm nay cũng soi bóng mình trong bóng dáng Kiều, vì vậy mà vẫn đọc Kiều và lại cả “bói Kiều” nữa! Đó là thiên tài của nhà văn, biết rõ cả tiền vận, hậu vận, đứng trên cái nền của hiện thực mà thấu hiểu quá khứ, soi rọi cả tương lai, đắp cho nhân vật của mình một dáng hình, một tâm linh vĩnh cửu!

 

Tâm sự nghề văn: Cái thật và cái hơn thật  - ảnh 1
(ảnh Internet)
Tiểu thuyết của chúng ta những năm gần đây yếu kém không thu hút được người đọc, không làm cho người đọc say mê bởi trong các tiểu thuyết ấy chưa có cái thật, lại càng chưa có cái cao hơn hẳn cái thật. Thử ngẫm mà xem: người đọc phải bỏ ra từ 30 đến 50 nghìn đồng để mua một cuốn tiểu thuyết, với người nông dân thì phải gánh ra chợ một gánh thóc nặng bán rồi vào hiệu sách mua một quyển tiểu thuyết. Mà đối với nông dân thì một gánh thóc và quỹ thời gian năm ngày để đọc xong một cuốn tiểu thuyết dày 500 trang, người đọc thu lại được cái gì? Và vì cái gì mà người ta phải tiêu đi một gánh thóc và quỹ thời gian năm ngày? Cần phải giải ngay bài toán này. Nếu bây giờ xuất hiện những tiểu thuyết tương tự như Số đỏ, Tắt đèn, Bước đường cùng… thì người đọc dù phải đổi một gánh thóc và quỹ thời gian 5 ngày hoặc thậm chí nhiều hơn thế, điều họ cầm chắc là có lãi lớn. Bởi giá trị văn chương đích thực không tính bằng cân, bằng gánh, nó vượt lên mọi trọng lượng, khối lượng, mọi thước đo kiểu toán học đều vô nghĩa lý. Giá trị này ngoại hạng. Mất đi một gánh thóc và năm ngày, nhưng ngày thứ sáu cho đến sáu chục năm sau, người bạn đọc ấy sẽ biết sống đẹp hơn theo đúng nghĩa Con Người. Ấy là cái lãi người đọc thu về. Cũng là thiên chức của tiểu thuyết.

Người đọc có lãi lớn như thế nhà văn sao còn lo ế sách? Sách nói chung và tiểu thuyết nói riêng suy cho cùng cũng là một thứ hàng hoá giữa thời kinh tế thị trường. Nếu có ế là bởi nó là hàng giả, hàng kém phẩm chất. Tôi cam đoan là thời nay đang lan tràn một loạt những thơ giả, truyện ngắn giả, tiểu thuyết giả; Những ấn phẩm này càng cầu kỳ tốn kém và nhiều khi còn có lời bạt, lời giới thiệu của các nhà văn, nhà phê bình có tên tuổi. Cầm quyển sách dầy dặn, in đẹp với lời bình của những cây đa cây đề ca ngợi hết lời, người đọc tưởng mình vớ được vàng mười, tưởng ông Ban Dắc, ông Vích-to Huy Gô, ông Nam Cao, ông Nguyễn Công Hoan, ông Vũ Trọng Phụng… đã tái sinh trần thế. Cầm quyển sách in sang trọng ấy áp vào ngực để con tim thổn thức với nàng văn. Rồi về nhà khoe với vợ con, với bạn bè và xóm giềng thứ của quý. Rồi xếp việc cơ quan, xếp việc đồng ruộng, mua bao thuốc lá ngon vừa hút vừa đọc để thưởng thức được cái hay tuyệt tác như lời giới thiệu ở đầu sách và các tờ báo. Ai ngờ đọc trang đầu đã thấy ớn. Rồi càng đọc càng thấy như mình đang uống một bát nước ốc có pha thêm nước lã ao bèo. Đọc xong quyển sách được đề là tiểu thuyết ấy thì người mình cũng nhũn nhão ra, máu trong người cũng loãng ra thành thứ nhờ nhờ. Bởi năm trăm trang sách ấy không có lấy một dòng để có thể gọi là nhà văn! Tác giả của nó không có bột mà gột lên năm bẩy bát hồ. Dung lượng của một truyện ngắn độ mười trang thì kéo dài thành tiểu thuyết ba trăm trang. Dung lượng của một truyện vừa độ năm chục trang thì kéo thành tiểu thuyết bộ ba tới nghìn trang. Dây cao su thời hiện đại cũng phải chào thua.

Nó tồi bởi người viết đã thiếu tài lại thiếu vốn sống, rồi lại viết ẩu, viết cho nhanh để khoe rằng mình đây có nhiều đầu sách. Tài năng- Vốn sống- Và lao động tới mức đổ mồ hôi sôi nước mắt- ấy là ba yếu tố quyết định để có Văn chương đích thực. Ba yếu tố ấy phải hội tụ bằng được ở một nhà văn thì mới làm nảy ra tiểu thuyết có giá trị.

Điều trước tiên phải nói là: Ai là người thực sự có tài văn chương hãy nên theo đuổi nghiệp văn, có tài về tiểu thuyết thì hãy nên cầm bút viết tiểu thuyết. Bất tài nhưng hiếu danh cố dùng tiền, dùng mánh khoé để đẩy cái sản phẩm bất thành nhân dạng của mình ra chào đời, ấy là sự tai hại vô cùng trong những năm gần đây. Chim bay bướm lượn và ốc nhồi cũng lăn củ. “Nhà văn”, “Nhà thơ” mọc nhanh như nấm. Nếu đây là hiện tượng nở rộ nhân tài thì thật đáng mừng. Hỡi ôi điều đáng buồn lại không phải như thế. Văn chương cổ kim đông tây xưa nay đều có cái ngưỡng cửa, phải vượt qua cái ngưỡng ấy mới thành văn. Còn giờ đây thì không có cái ngưỡng nào cả, cứ có tiền là có sách được in, miễn là nó không sai phạm gì về chính trị, còn nó có là văn chương là thơ phú… hay chưa thì cóc cần! Thế là đâm loạn. Ngày trước loạn giặc, bây giờ loạn văn loạn thơ. Một quyển văn thực sự là văn lại in giấy xấu, bài sơ sài lẫn trong một trăm quyển phản văn nhưng bìa đẹp, giấy trắng thì ai còn nhận ra quyển văn thật kia? Khi cái giả nhiều gấp trăm lần cái thật, thì cái thật rất dễ chết chìm. Nhân tài sẽ bị hàng loạt vô tài chen lấn, xô đẩy cho ngã dúi dụi. Porits Pô-lê-vôi nói với Nguyễn Đình Thi: “Anh hãy khuyên những kẻ bất tài về văn chương đừng theo nghiệp văn”. Đúng, người vô tài về văn mà làm nhà văn thì thật tai hại vô cùng.

Điều thứ hai tôi muốn nói là trong tiểu thuyết nói riêng và văn chương nói chung phải có cái cao hơn cái thật. Chính cái ấy làm nên giá trị, làm nên chất men say lôi cuốn người đọc. Nhưng muốn đạt tới cái cao hơn cả cái thật, thì nhà văn phải đứng vững trên nền cái thật. Tức là phải hiểu cuộc sống một cách tinh tường, không phải cái bề ngoài mà là cái nội tâm, cái phần giấu kín. Điều ấy thì đối với người cầm bút, ai cũng biết. Nhưng giờ đây liệu còn mấy nhà văn như Nguyễn Khải, Đào Vũ, Ngô Ngọc Bội bốn chục năm về trước đi đến dân để “ba cùng”? Có còn ai muốn từ bỏ khách sạn đầy đủ tiện nghi để về nông thôn nằm giường tre, quạt mo cau, ăn cơm mắm tép? Tôi cam đoan là không ai chịu nổi ba ngày. Thế mà người ta vẫn viết về nông dân đấy. Vẫn có phim và tiểu thuyết về nông dân. Bà con nông dân ngồi xem phim và đọc tiểu thuyết thường phì cười nói với nhau: A, nông dân giả, các vị ạ! Trời ơi, xà phòng giả, phân u rê giả, thuốc chuột giả, giờ lại Nông dân giả.

Điều thứ ba là dù có tài, có vốn hiểu biết sâu về đời sống thì vẫn chưa thành tác phẩm. Cần phải có một cuộc đổ mồ hôi sôi nước mắt trong vòng từ hai đến ba năm mới cho ra đời được một quyển tiểu thuyết. Và phải có can đảm để chấp nhận: hai triệu đồng tiền nhuận bút cho ba năm lao động khổ sai! Nếu nhà văn nào hội tụ được các điều ấy: Tài năng- Vốn sống- Lao động cần mẫn và chịu ăn đói mặc rách vì tiền nhuận bút quá ít để viết tiểu thuyết thì người nông dân sẽ mỉm cười gánh thóc ra chợ bán để đổi lấy một quyển tiểu thuyết cầm về, bỏ ra quỹ thời gian một tuần để đọc mà không phải đắn đo gì cả.

Một quyển tiểu thuyết hay, dứt khoát nó không phải là quyển tiểu thuyết “rất thật” mà là cao hơn cái thật gấp nhiều lần. Càng cao hơn sự thật bao nhiêu thì cái giá trị của nó càng lớn hơn bấy nhiêu. Nếu cái thân nỏ, cái dây nỏ của An Dương Vương là cái thật, thì cái nẫy thần nằm trong cái nỏ ấy là cái cao hơn cái thật. Không có cái nẫy thần ấy thì toàn bộ cái nỏ kia chỉ là một đồ vật tầm thường chẳng có gì đáng nói. Vì có được cái nẫy thần mà thành chuyện, thành một thiên tình sử đầy bi tráng. Những quyển tiểu thuyết bị chê là nhạt, là tầm thường, bởi vì nó chẳng đưa ra được cái gì cao hơn sự thật mà đời sống vốn có.

Ở quê tôi có một chàng được phong Phó Cuội. Đời nay đã có phó chủ nhiệm, phó chủ tịch, phó bí thư, nay lại thêm Phó Cuội nữa, nghĩa là chỉ kém có anh Chánh Cuội một nấc mà thôi. Anh ta trở thành Phó Cuội bởi một câu chuyện anh ta luôn luôn kể cho mọi người nghe:

“Vào một đêm tớ đang nằm với vợ, cô vợ sờ sà và kêu lên:

- Anh mất hai hòn… ấy rồi à?

- Ừ, anh mất!- Tớ trả lời

- Mất ở đâu thì bảo em tìm, kẻo em còn trẻ thế này…

- Anh không biết.

- Thế hôm nay các anh đi bừa cho hợp tác xã có giải lao không?

- Có.

- Có lâu không?

- Lâu.

- Từ mấy giờ đến mấy giờ?

- Bọn này dong trâu đến ruộng, bừa qua quýt có mấy đường là tháo vây chão đưa trâu lên trại buộc vào gốc tre rồi nằm giải lao từ chín giờ tới mười một giờ lại tháo vây chão ra, dong trâu về nghỉ…

Nghe vậy cô vợ bỗng reo lên:

- A, thế thì các anh nghỉ… chảy ra ngoài quần rồi… nào, ngồi chỗ nào bảo em để em sang nhặt về…

- Thì đã bảo ở bờ vùng quan thượng mà, chỗ có đám cúc tần ấy… Anh chồng trả lời.

Cô vợ ngổm dậy vội vàng búi tóc rồi tức tốc chạy đến bờ vùng quan thượng chỗ có bụi cúc tần. Một lúc sau cô trở về, miệng mỉm cười, tay cầm hai… hòn của chồng đem lắp vừa khít vào chỗ cũ, vừa làm vừa căn dặn: “Từ nay nhớ là đừng có giải lao lâu đến thế, để mất cái này là em cắt đứt…”

Phó Cuội làng tôi chưa phải là văn, nhưng gã có tài bịa chuyện, chi tiết giải lao nhiều đến nỗi rơi cả… ra ngoài là linh hồn của câu chuyện, không có cú bịa ngoạn mục ấy thì câu chuyện viết thế nào cũng hỏng .

Viết tiểu thuyết là nhà văn trổ tài bịa, càng cao tay truyện càng hấp dẫn. Vấn đề là ở chỗ bịa phải đạt đến tầm thật hơn cả thật, làm cho người đọc biết rõ là bịa mà vẫn mỉm cười chấp nhận. Tài năng và tầm thường khác nhau là ở chỗ ấy…

 

TRẦN QUỐC TIẾN

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác