Suy nghiệm từ cuộc sống trút vào thơ

 

(Toquoc)- Bồng bềnh tóc, rầm rậm râu, hay pha trò xen những tràng cười hào sảng như mạch nguồn sẵn lòng chia sẻ cùng các bạn viết trẻ. Đó là anh - nhà thơ Phan Hoàng. Sự dấn thân vào con đường thơ ca không phải ai cũng có thể khẳng định mình trong mỗi nét thiêng con chữ. Mà “phải biết náu mình để cho cái đẹp thi ca lên tiếng”. Ngày đông mong cạn nắng, thèm chút se lạnh của nhớ nhung, của bâng khuâng trong thời khắc sắp sang màu tương ngộ mới; những tờ lịch cuối cùng cũng sắp rụng theo ngày cho những trang đời mới mở toang, tôi lần giở lại tập thơ xuất bản gần đây nhất “Chất vấn thói quen” của nhà thơ Phan Hoàng do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành vào tháng 01 năm 2012, khổ 14,5 x 21cm. Tập thơ vỏn vẹn 36 bài được tác giả chia thành 3 phần khá tương đồng, bổ trợ cho nội lực của dòng xoáy cái tôi được cất lên những khám phá đầy ma lực và ấn tượng: Văn bản dở dang, Cái chết đen & vũ khúc trắng, Bóng tối đang nuốt chúng ta.

Còn nhớ những ngày đầu năm khi hoa đào còn vương chút bụi mưa trên đất ngàn năm văn hiến, thì “Chất vấn thói quen” đã xông đất thủ đô Hà Nội. Những bài viết về tập thơ khá nhiều. Loáng một cái 1000 bản in lần đầu đã vào tay bạn đọc.

 

Và tôi lần bước đi vào nỗi đau sinh tồn ngôi nhà mang gien giao chỉ

Cuộc sống có quá nhiều thói quen đã lập trình cho chúng ta một nhịp điệu cũ sờn bong vảy nến. Ý thức cái tôi, ruồng bỏ những sáo mòn trong nếp nghĩ đã nhiều đêm, nhiều đêm như vậy thi sĩ đã chất vấn chính mình. Mỗi phút lắng lòng lại nghe trỗi lên bao suy nghiệm về tình đời, tình người và những trận bão kí tự ùa ngập ngụa trong bóng đêm cùng cái tôi độc thoại đi tìm tri kỉ - thơ. Có thể nó sẽ không là lời thơ ru mùa thu lá vàng phai, không là câu hát tình phụ, cũng chẳng ê a uốn mình trong điệu vần chập chờn mây xám mà nó là những thổn thức với nhịp gấp vội của hơi thở đương đại. Mỗi phút sống, mỗi sat-na hỉ - nộ - ái - ố trong cõi nhân sinh này thấm vào lòng tác giả để tác phẩm cất cánh thay lời muốn nói. Những câu thơ ngắn dài tựa như những đợt sóng tràn cuộn và nẩy lên khát vọng đẹp ấm tình người. Cả tập thơ là giọng điệu đầy tính triết cảm mà thân tình, cái tôi quẫy đạp, cái tôi bay lên, cái tôi lặng nghe và mặc giông bão đời, chàng thi sĩ vẫn đằm bước với thơ bằng niềm tin yêu vọt trào thèm làm ngọn gió tự do. Một mảng của ngẫm ngợi ấy trong “Văn bản dở dang”:

“tôi phát hiện tôi

khác xa dần

xa dần

cánh đồng thâm canh cảm xúc con trâu cái cày

khói lam mây xám ăn quẩn chái bếp thiếu gạo của mẹ

dàn đồng ca hát nhép tân cổ giao duyên mùi mẫn cởi áo trao nhau

Cơn hồng thủy khoái cảm âm thầm nổi lên

kỹ năng dục vọng trang phục mỹ từ mục ruỗng bị đánh đắm

từng đợt sóng tín hiệu bụi vàng ký ức dâng tràn”.

Hoặc như:

“Đời người chỉ một gang tay

sao tự trói mình xích xiềng lê dài giá trị bia đá?”

Chính cái “chân lý khởi nguyên từ nghịch lý bất ngờ” (Hoa của đá) đã tạo nên một giọng thơ lạ, khác, đục rơi tiếng hát trong sương mù.

Từ ngôi nhà thân thuộc này mặt trời - mẹ - đã gánh những ước mơ chắp cánh cho con bay theo ngọn gió li hương khôn níu lại. Và mẹ ơi! “Chiều ăn phố sực mùi khoai lang nướng / Gió hú nhớ đồng thơm dậy giấc cố hương” cứ mãi theo con về mỗi giọt khuya “uống bóng” để nghe:

“bao vương triều vụt trôi

hồn chữ nằm tê tái

bao nấm mộ lụi tàn

cỏ nghĩa nhân cứu rỗi?”

thì hoang mang chi trong giấc mộng chữ nghĩa thị trường, thì mặc cả chi với phù du danh vọng. Người thơ lần về cội rễ văn hóa dân tộc theo lời ru của những ngày mẹ quảy gióng chạy giặc gói giấc mơ con bay cùng ngọn gió nam cồ rực lửa. Rồi nhà thơ đã nghe:

“từ nguồn sữa bầu ơi thương lấy bí cùng ru hời của mẹ

cổ tích ăn khế trả vàng run run hơi thở của bà

thần thoại nhổ tre ngà đánh giặc những khuya biển thức của cha ông

mỗi ngày mặt trời một sáng hơn

từ tiếng vọng oai hùng chiến thuyền nài gạo canh giữ đảo xa

nỗi đau sinh tồn ngôi nhà mang gien giao chỉ”

Khát vọng bùng lên ôm choàng con chữ cho miên miết những triền yêu thương khởi mầm không riêng nhận mà nó “cho n… tôi”.

 

Chất vấn thói quen như một lập trình xới ngược

Có thể đã rất nhiều lần người con của dòng sông Đà Rằng lại hỏi, lại đáp và vô ngôn trong lập trình xây - xóa - dựng - gẫm - lại tiếp tục xây - xóa - dựng - gẫm cùng phố, quê, trời, đất:

“Nhiều khi mắc cười tôi chất vấn tôi

tại sao con người cứ tự đánh lừa mình bằng những thói quen

không học nổi con sông biết thích nghi đổi dòng băng băng về phía trước?”

 (Chất vấn thói quen)

Trong một lần trả lời phỏng vấn của nhà báo, nhà thơ Bình Nguyên Trang, nhà thơ Phan Hoàng đã thổ lộ: “Ở giữa tuổi 40 như tôi thì không còn trẻ nữa, dù trái tim vẫn cháy bỏng yêu thương. Nếu như độ ở tuổi 20 thì sự quan tâm của mỗi người thiên về tình yêu lứa đôi, còn ở tuổi 40 lại hướng về sự trải nghiệm của đời sống, ý thức trách nhiệm hơn về sự tồn tại của mình giữa nhân quần. Tôi vẫn làm thơ tình. Nhưng sự bộn bề của cuộc sống đang có sức thu hút tôi hơn. Thật không thể làm ngơ trước những giá trị bị đảo lộn đáng sợ: lãnh hải bị đe doạ, tham nhũng cửa quyền hoành hành, nông dân mất ruộng, những cánh rừng bị đốn trọc, di sản cha ông biến mất, sự lãnh cảm trước cái ác,... và trong mỗi gia đình thì còn đáng báo động: con giết cha, vợ đốt chồng, mẹ bán con,…”. Nhưng nhức nỗi buồn trên từng vuông đời, phận người để lại nghe:

“Nước mắt bao giờ cũng độc hành lặng lẽ

hào quang đâu ngăn nổi con mọt hư danh gặm nhấm tâm hồn?”

Và anh tụng ca rất sòng phẳng, công tâm:

“Bạn là ngôi sao của những gié lúa vàng mùa thu hoạch

tôi là ngôi sao của những con chữ định mệnh sẻ chia”

để từ đó anh kịp trút nỗi niềm cảm phục chân tài ông già Nam Bộ tài hoa, lãng tử - Sơn Nam, để kịp theo người xưa “góp nhặt bụi vàng”. Một nhà ngôn ngữ học Cao Xuân Hạo lấp lánh trong thơ anh kiến dựng một tâm hồn đáng kính nể:

“Cao Xuân Hạo

một Con Người viết hoa

một phượng hoàng ngôn ngữ

một ngôi sao

băng

kịp vạch phía chân trời”

Trong phút ấy, chợt như thi sĩ muốn bức khỏi cái sinh sinh diệt diệt để bay lên, tiếp tục ngọn gió truyền tín dược, mong cầu có thêm hàng hàng triệu triệu Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông cho đến Đỗ Tất Lợi. Đó là những con người hết đời cống hiến y dược cho tái sinh cánh hoa trong vườn kịp vượt qua đông giá huy hoàng rực ánh xuân sang. Những cánh chim ấy bay trong độc hành. Lặng lẽ. Đẹp vọng! Rồi ngời lên nhịp đập của “hồn nhiên Mỵ Châu”, “thông minh Ỷ Lan”, “bi kịch Huyền Trân”, “quyền năng Đặng Thị Huệ” tất cả đức tính ấy đều có trong những mẹ, chị và em hay “nàng” của chúng ta. Phụ nữ thăng hoa trong cảm hứng bất tận kính ngưỡng chạy cùng dòng thơ Phan Hoàng. Sự trở lại của mẹ là phút gieo cho con niềm tin ướp mật!

Cảm hứng từ cái chết đen và vũ khúc trắng của trung niên thi sĩ ấy đã xác quyết rõ rệt, phân ranh rạch ròi giữa đen và trắng, giữa thiện và ác, giữa đói nghèo và no ấm, giữa giết chóc bạo tàn và hạnh phúc bình yên. Xé rát bỏng ngày từ tiếng cười trên sông Sài Gòn ấy “tôi lạc vào cõi lòng trắc ẩn người xưa?”. Ừ, quay lại, cùng về lại căn cứ Cần Giờ để nghe tiếng vo ve rền vọng của muỗi bám đeo không tha; mõm sẵn sàng há ngoác rộng của hàng đàn cá sấu chờ con mồi rơi xuống đầm một phút sẩy chân; rồi ngơ ngác nhận ra:

“Chúng ta khác gì những con khỉ?

chúng ta khác gì những con sấu?

chúng ta khác gì những con muỗi?”

bởi những bon chen đố kị tầm thường trang hoàng phục sức dáng ngoài. Có nghe chăng ngoài kia gió đang gầm tiếng bão nổi? Có nghe chăng mẹ biển đang bầm tê mắt sóng? Có nghe chăng những bàn chân trần đã bao đời cha truyền con nối ôm biển suốt chiều dài lịch sử của chim Lạc băng qua, băng qua trời lẫm liệt, uy nghi… còn vang, còn vang… Chùm thơ 3 bài “Cần Giờ bất lực”, “Cần Giờ ngơ ngác”, “Cần Giờ lặng im” thao thiết sau những cụng li men say rượu nồng của những chàng trai trẻ mang nhiều hoài bão đã từng thử một lần rời phố tập kết về rừng. Bỏ đi, bỏ đi, bỏ đi để được tất thảy… Còn trì níu trong tôi, trong anh câu thơ: “Lịch sử tầng tầng mỏ quặng số phận / văn học lọc cọc đóng nọc thủ công”.

Trắng và đen phân định rõ rồi sao mãi im nghe và còn ngơ ngác hỡi bạn tôi ơi!

 Suy nghiệm từ cuộc sống trút vào thơ  - ảnh 1

Uy mãnh cùng ngọn gió tự do

Những hồi chuông đã cao trào gióng nhịp. Những cảnh báo đã lăm le, nó ngập đầy kí tự của thông tin truyền thông bay đi ràn rạt hằng phút giây. Sự sống của con người bị đe dọa. Sự bạo hành của chính mỗi con người như đang đồng lõa cho nhịp điệu hủy diệt. Cái thiện bị át gió ác. Cái thiện chờ xua cơn vây hãm. Cái thiện mòn vai theo nhịp thở nghẽn mạch.

Những mảng xanh màu của đất quê làng xóm dần rúm ró cho màu phố bật lên sáng lòa điện cho cơn thiêu thân tham vọng cá nhân trá hình trong hồi suy thoái.

“Người nông dân

 lần lữa

 rời cánh đồng”

“Người nông dân

 lững đững

 ngoảnh lại cánh đồng”

“Người nông dân

 lầm lũi

 để lại cánh đồng”

và họ dường như nghe vọng từ phía “sau lưng đất đai sấm chớp / màu cỏ sân gôn thay màu lúa tình tự ngàn đời”.

Thật vậy, thơ Phan Hoàng không phải để đọc du dương, tán tụng nhau mà là sự sẻ chia, trỗi dậy khúc trở về cho sãi cánh chuẩn bị vụt bay trên tiếng kêu “thảng thốt” bởi những băng hoại của đạo đức thời @: Về một đoạn phim buồn, Bao giờ con lớn?

Một tập thơ ngồn ngộn dấu chấm hỏi.

Và cuối cùng thì thi sĩ kia đã rất ham tột cùng, thèm được “làm ngọn gió tự do”:

“được làm ngọn gió không đồng phục,

 không điện thoại

 không internet

bay về mái tranh vách đất của mẹ

bay về phía vô danh

bay về phía vô thanh

bay về phía vô manh

bay về phía vô tặc”

Nguyện ước làm “ngọn gió ngang tàng” để “bay về nguyên thủy ước mơ không mầm móng hận thù tận thế”.

Gấp tập thơ mỏng lại có ngọn gió khuya chao nghiêng một nét mày ngóng trăng đầu tháng, cánh bồ câu mỏng vờn chao sóng biển… tôi lại thử tập như anh một lần chất vấn tôi trong những thói quen đầy vết rạn…

 

Vỹ thanh

Nhà thơ Phan Hoàng tên thật là Phan Tấn Hùng, tuổi Đinh Mùi, sinh ngày 10.10.1967 tại bán đảo Đông Tác, cuối dòng sông Đà Rằng (hạ nguồn sông Ba) thuộc thành phố Tuy Hoà, lớn lên trên cánh đồng lúa Tuy Hòa, dưới ngọn Đá Bia của tỉnh Phú Yên. Tốt nghiệp chuyên ngành ngôn ngữ Khoa Ngữ văn Trường đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, nay là Khoa Văn học - ngôn ngữ Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh. Anh hiện là Uỷ viên Ban Chấp hành - Trưởng ban Nhà văn trẻ kiêm phụ trách báo chí - truyền thông Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh khoá 6 (2010-2015); Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam.

Anh từng làm phóng viên - biên tập viên tạp chí Kiến Thức Ngày Nay; nguyên Chủ biên tờ Đương Thời (trước đây là Người Đương Thời) và hiện đang Chủ biên trang điện tử của Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh (nhavantphcm.com.vn), phụ trách trang thơ báo Tuổi Trẻ Online.

Nhà thơ đạt nhiều giải thưởng, anh đã xuất bản 3 tập thơ: Tượng tình (thơ 1995); Hộp đen báo bão (thơ 2002); Chất vấn thói quen (thơ 2012); và các bộ sách Phỏng vấn Tướng lĩnh Việt Nam (3 tập 1997-2000, tái bản 4 lần); Phỏng vấn Người Sài Gòn (2 tập - 1998); Phỏng vấn Người Hà Nội (2 tập 1999-2000, tái bản 2 lần); Dạ, thưa thầy! (2 tập 2000-2002, tái bản 2 lần).

Trần Huy Minh Phương

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác