Quan niệm của Lỗ Tấn về thơ

Lỗ Tấn không chỉ sáng tác tiểu thuyết, truyện ngắn, viết tạp văn v.v. mà ông còn sáng tác thi ca để gửi gắm tư tưởng tâm hồn mình. Đương nhiên, so với toàn bộ sáng tác Lỗ Tấn, thơ chỉ chiếm một phần nhỏ.

Bà Hứa Quảng Bình (vợ Lỗ Tấn) kể lại rằng: “Lỗ Tấn tiên sinh tuy rất giỏi văn ngôn và thơ cổ, nhưng không thích lắm, thảng hoặc có làm một vài bài là yêu cầu của bạn bè hoặc là để thể hiện tình cảm trong lúc nào đấy, làm xong thì vứt ngay, không chút tiếc rẻ. Tôi đã yêu cầu tiên sinh coi đó là những vật quý báu và giữ gìn cẩn thận” [1, 289]. Cho nên có thể nói, đóng góp của Lỗ Tấn cho thơ mới Trung Quốc chủ yếu là ở lĩnh vực giới thiệu, phê bình. Qua đây, chúng ta cũng hiểu thêm về quan niệm thơ ca của ông.

Trước hết, Lỗ Tấn đánh giá cao loại thơ hướng đến thực hiện sứ mệnh cải tạo xã hội, đề cập đến những vấn đề nóng bỏng của thực tại, chứ không phải là một thứ than mây, khóc gió, chạy trốn vào tháp ngà của cá nhân. Vì thế, mà Lỗ Tấn đã công kích cái truyền thống thi giáo mấy nghìn năm đã bị biến thành công cụ của bọn thống trị. “Nếu được biểu đạt ý chí thật sự thì còn phải giữ gìn cái gì nữa? Cho tự do trong sự ràng buộc của những phương sách như thế, xưa nay có chuyện ấy hay sao? Nhưng văn chương suốt đời sau đều luẩn quẩn trong cái tròng như thế cả” [1, 290 - 291]. Ngoài ra ông còn chỉ ra trong văn học Trung Quốc còn “đầy rẫy những tác phẩm cảm khái thế sự, tưởng niệm thánh hiền rất nhạt nhẽo. Thảng hoặc có đôi lúc to nhỏ chuyện yêu đương, thì lại bị bọn hủ nho chụm miệng lại lên tiếng thị phi. Huống chi là những lời nói phản lại thế tục” [1, 290 - 291]. Chính vì vậy, Lỗ Tấn đặc biệt tôn sùng những thi sĩ dám nói những điều người trước chưa hề nói mà không hề sợ sệt như Khuất Nguyên.

Đối với những sáng tác mới, Lỗ Tấn đánh giá cao tiếng nói chống phong kiến của nó: “Chúng ta không nên học theo lối của những người mới bước chân ra khỏi chiếc ổ riêng của mình là đã nói đạo đức của Trung Quốc nhất thiên hạ v.v. Chúng ta phải thét lên nỗi bi ai vì không có gì đáng yêu v.v. Chúng ta phải thét lên đến lúc phải trả món nợ cũ” [1, 292 - 293]. Do đó, với thơ ca tình yêu chống lại sự ràng buộc của lễ giáo phong kiến ca ngợi tình yêu tự do lành mạnh, thì Lỗ Tấn cổ vũ: “Theo chỗ người ngoại đạo như tôi xem ra thì thơ ca nguyên là để thốt ra nhiệt tình của mình, thổ lộ xong là thôi... Bởi vì chỉ muốn yêu đương, thì có liên quan gì đến các lão tiền bối, nó cũng như “gió thổi tai trâu” thôi (…) oanh hót, đom đóm lập lòe là vì sao? (…) đó chính là cái gọi không đạo đức, đều đang muốn làm duyên, mong muốn được ân ái. Ngay đến mọi loại hoa, thì đúng là cơ quan sinh dục của thực vật rồi” [1, 293 - 294]. Ý kiến này đã khẳng định bản chất của thơ ca, đấy là lối nói tự nhiên thành thực của tâm hồn con người. Cũng vì cổ vũ cho thơ ca chống phong kiến nên năm 1919 Lỗ Tấn nhận được một bài thơ của một thanh niên không quen biết với đầu đề là tình yêu. Bài thơ đau xót tố cáo tội ác của tập tục hôn nhân phong kiến đã giết chết tình yêu của tuổi trẻ, ông liền cho đăng bài thơ ấy trên tạp chí Tân thanh niên và có bình thêm mấy câu: ''Thơ hay dở, ý nông sâu chưa cần bàn đến. Nhưng tôi cho rằng đó là máu đã sôi lên, là tiếng nói của con người đã thực sự thức tỉnh” [1, 292].

Dựa vào bản chất đích thực của thơ ca là một thể loại nghệ thuật đầy sáng tạo, Lỗ Tấn đã phê bình kịp thời những nhận thức ấu trĩ, những biểu hiện non kém trong thơ ca cách mạng mà cụ thể là nặng về tuyên truyền mà coi nhẹ phẩm chất thẩm mỹ. Trước hết, đó là thứ thơ chỉ hô hào khẩu hiệu, mà không rung động, xúc cảm thực sự: trước kia là những loại thơ giả dối như “Hoa ôi! ôi tình ôi!” Còn bây giờ là những loại thơ giả dối chết chóc, xương máu: “ôi thôi, đau đầu lắm”. Tháng 7 năm 1925, khi chỉ trích thứ văn nghệ “dấu giếm và lừa dối”, Lỗ Tấn viết: “Hiện nay, không khí tựa hồ đã khác, không còn nghe tiếng ca vịnh gió trăng nữa, thay vào đó là tiếng tán tụng máu và sắt. Nhưng nếu tán tụng với một lòng dối trá, thì bất cứ A và Q hoặc Y và Z vẫn là giả dối, chỉ có thể làm cho những người gọi là nhà phê bình khinh bỉ gió trăng kia, sợ mà câm miệng, rồi thỏa mãn cho rằng Trung Quốc sắp sửa ngóc đầu dậy được mà thôi” [1, 297].

Mặt khác ông lưu ý điều ngược lại, tình cảm đang độ mãnh liệt mà làm thơ ngay cũng không thành thơ hay: “Tôi cho rằng tình cảm đang độ mãnh liệt, không thích hợp với việc làm thơ, bằng không mũi nhọn sẽ quá lộ, có thể giết chết cái đẹp của thơ. Bài thơ này mắc phải bệnh đó” [1, 296]. Nghĩa là phải để cho tình cảm lắng xuống, bắt gặp sự thể nghiệm phong phú thì lúc đó mới có thơ hay. Ở đây, Lỗ Tấn còn quan niệm về sự hài hòa giữa hình thức và nội dung, giữa tình cảm và lý trí trong thơ. Có thể khẳng định, những nhận xét này thể hiện sự sắc sảo, tinh tế của Lỗ Tấn; ông am tường quy luật sáng tạo thi ca.

Từ những lý giải sâu sắc đó, chúng ta thấy như một tất yếu hiển nhiên, Lỗ Tấn phê bình cách hiểu thời ông, cho rằng thơ ca của giai cấp vô sản cần phải dùng khẩu hiệu: “Có rất nhiều bài thơ, điền khẩu hiệu, biểu ngữ vào, tự cho là văn học vô sản. Nhưng như thế là ví thứ văn học đó, nội dung cũng như hình thức, đều không có chút hơi vô sản nào cả, không dùng khẩu hiệu và biểu ngữ thì không thể nào chứng tỏ nó mới trưởng thành được... Cứ xem ông Đêmian Bétnưi làm thơ mà được huy chương Cờ đỏ, trong thơ ông không hề dùng khẩu hiệu và biểu ngữ, thì đủ thấy thế” [1, 298]. Một mặt phản đối, nhưng không phải ông hoàn toàn phản đối trong thơ có thể dùng khẩu hiệu, “kỳ thực khẩu hiệu là khẩu hiệu, mà thơ là thơ, Nếu dùng khẩu hiệu mà thơ hay thì dùng cũng được, nếu dở thì dùng hoặc không dùng cũng không có liên quan gì” [1, 298]. Như thế cổ súy cho thơ ca cách mạng, thơ ca cổ vũ chính trị, nhưng trước sau Lỗ Tấn đều dựa vào quy luật nghệ thuật, bản chất của thơ ca. Đây là đóng góp rất đáng quý của ông. Chính vì thế, chúng ta không ngạc nhiên khi ông chủ trương phải đa dạng về phong cách thơ ca, Điều này được thể hiện rất rõ trong bức thư trả lời cho tòa soạn tạp chí Tân trào: “Thơ đăng trên Tân trào phần nhiều là tả cảnh và tự sự, thơ trữ tình ít, cho nên có phần đơn điệu. Sau này có thể cho đăng được nhiều bài thơ có phong cách khác nhau thì tốt hơn” [1, 291 - 292].

Về mặt hình thức ngôn từ, Lỗ Tấn chủ trương thơ ca phải có vần, có nhạc điệu. Trong một bức thư gửi cho Đậu Ân Phu, Lỗ Tấn đã phát biểu khá rõ về quan niệm thơ ca của mình. Ông viết: “Kịch bản tuy có hai loại, một để trên bàn sách và một để biểu diễn trên sân khấu, nhưng loại sau vẫn tốt hơn. Thơ ca cũng có hai loại, mắt xem và miệng hát, và loại sau vẫn tốt hơn” [2, 187]. Lỗ Tấn còn nhấn mạnh thêm: “Tôi cho rằng về nội dung tạm thời chưa nói tới vội, thơ mới cần phải có âm điệu, ghép những vần gần giống nhau, để cho mọi người dễ nhớ, đọc xuôi miệng và hát được” [2, 188]. Trong thư gửi cho Thái Phỉ Quân, Lỗ Tấn cũng có ý kiến tương tự như thế. Lỗ Tấn quan niệm thơ ca phải có vần điệu là nhằm phổ biến rộng rãi cho quần chúng. Theo Phương Lựu: “Ý kiến Lỗ Tấn cho rằng thơ mới phải có tiết tấu, dễ nhớ, có thể ngâm... rất có tác dụng chỉ đạo đối với phong trào đại chúng hóa thơ ca đương thời”. Điều này chứng tỏ vần điệu thơ ca mà Lỗ Tấn quan niệm không phải là niêm luật cũ. Có như thế thơ ca mới mang hơi thở của thời đại.

Tóm lại, quan niệm thơ ca của Lỗ Tấn thống nhất với tư tưởng văn học với sự nghiệp đấu tranh cách mạng của ông. Điều đáng nhấn mạnh là tuy đánh giá cao thơ ca cách mạng, vận động, cổ xúy cho nó, nhưng bao giờ Lỗ Tấn cũng chú ý thích đáng đến bản chất thẩm mỹ của nó, nhằm xây dựng nền thơ ca cách mạng chân chính. Đó là điều đáng quý, đáng trân trọng của nhà văn lớn này!

Trần Anh Tuân

---------------

1. Phương Lựu (1998), Lỗ Tấn nhà lý luận văn học, NXB GD Hà Nội

2. Lý Hà Lâm (1960), Lỗ Tấn thân thế - tư tưởng - sáng tác, NXB GD Hà Nội

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác