Phê bình ấn tượng - kinh nghiệm của cảm giác

(Toquoc)- "Thi nhân Việt Nam" đã hiện hữu hơn bảy chục năm qua trong đời sống tiếp nhận, phê bình văn học dân tộc. Ngay khi ra đời, "Thi nhân Việt Nam" đã làm luôn giấy khai sinh cho phê bình ấn tượng tại Việt Nam đồng thời xác lập luôn vị thế trong lịch sử phê bình văn học theo phương pháp ấn tượng. Những môn đệ nối dài của Hoài Thanh không phải là ít, kể cả cho đến ngày hôm nay.

Đã là phê bình ấn tượng thì mỗi trang, mỗi dòng, mỗi chữ phải thấm đẫm cảm giác vọng về trong sự đọc tác phẩm. Nghĩa tác phẩm được quy hồi lại như là chính kinh nghiệm cảm giác có được của nhà phê bình. Nhà phê bình ấn tượng chủ nghĩa vì thế làm một khảo cổ học về tinh thần của mình khi đi qua văn bản, và cái gì còn lại đậm sâu trong cảm giác thì được tái hiện lại bằng chữ. Phê bình ấn tượng vì thế thuần cảm giác. Giống như Monet, với cảm giác đặc biệt có được về vầng mặt trời đỏ ối đang lừ lừ mọc trên biển, những nét cọ sau đó ra đời, làm thành siêu họa phẩm ấn tượng mặt trời mọc lẫy lừng của hội họa ấn tượng.

Phê bình ấn tượng thành hay bại thuần túy nhờ vào sự tinh vi trong cảm xúc của nhà phê bình. Vì nương nhờ cảm xúc - cái chủ quan đậm đặc nhất nên phê bình ấn tượng hiển nhiên thiếu chặt chẽ. Xây dựng lên tòa lâu đài bằng cảm giác, có thể lung linh, nhưng bao giờ cũng dễ sụp đổ hơn cả. Bởi cảm giác muôn đời vẫn vậy, thường mong manh như chút sương mù, có đấy, nhưng dễ dàng tan biến ngay trong đời sống tâm lý. Phê bình ấn tượng vì thế thường bị coi là “tùy tiện”, cảm giác có làm sao cứ đem chưng ra làm vậy, điều này rất khác với các phương pháp phê bình mang tính khoa học nghiêm ngặt hơn trong phê bình văn học như tiểu sử, văn hóa - lịch sử, xã hội học văn học, thi pháp học, phong cách học…

Nhưng bù lại, nối cuống nhau vào cảm giác, phê bình ấn tượng có lợi thế là thường lôi cuốn hơn, đắm say hơn các phương pháp khác bởi tính lãng mạn của nó. Khoa học -  lý trí thì thường “khô” hơn cảm xúc, đó là điều hiển nhiên. Thế nên, đọc Thi nhân Việt Nam, ở nhiều chỗ, sự đọc như rơi vào đam mê, trích chéo đoạn văn đã đi vào kinh điển: “Tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa có bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên… và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu”. Viết phê bình tinh tế và đẹp đến vậy chỉ thấy xuất hiện ở Thi nhân Việt Nam. Nên đến tận bây giờ, Thi nhân Việt Nam vẫn là đỉnh cao sơn xanh thăm thẳm của phê bình ấn tượng tại Việt Nam.

Những cái tinh tế của cảm giác thì rất đẹp, nhưng bất toàn. Những nhà thơ lãng mạn, có thể do cùng tạng với Hoài Thanh nên đã được ông viết rất hay, như Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Nhược Pháp, Vũ Đình Liên, Huy Thông… Còn những nhà thơ không thuộc trường lãng mạn Hoài Thanh, mà đã rơi dần sang tượng trưng, siêu thực thì Hoài Thanh không viết về họ, ông không đưa vào Thi nhân Việt Nam những tên tuổi như Đinh Hùng, Nguyễn Xuân Sanh, cũng không “lấy hồn tôi để hiểu hồn người” được Bích Khê, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên. Rơi vào thi giới của trường thơ loạn, Hoài Thanh rối loạn cảm xúc, hoang mang. Kể cả trong trường lãng mạn, thì những cái tên được Hoài Thanh chọn như Nguyễn Đình Thư, Nguyễn Xuân Huy, Phan Văn Dật, Phan Thanh Phước, Phan Khắc Khoan, Nguyễn Giang, Đỗ Huy Nhiệm, Thu Hồng… đến nay đều phụ lòng ông. Nói cho đúng, phụ phàng cái ấn tượng, cảm giác của ông. Việc này chẳng phải do riêng Hoài Thanh, mà còn do phương pháp nhà phê bình thuộc về. Như đã nói, phương pháp phê bình ấn tượng tự nó mang theo những chân trời đồng thời mở ra cũng lắm vấn nạn. Làm thư ký trung thành của cảm giác, nhà phê bình phó mặc phận chữ cho cảm xúc. Được ăn cả, thua ngã về không. Phê bình ấn tượng vì thế đặt gần hết đời mình vào cái xúc động nghệ thuật. Điều này khác với các phương pháp khác đặt đời mình vào tính khoa học chặt chẽ hơn, như phê bình khoa học khách quan, phê bình xã hội học Macxit, hay tiểu sử của Trương Tửu chẳng hạn. Cái khoa học hay cái nghệ thuật đều có chỗ sở trưởng sở đoản của mình, không hiểu điều đó, đã có thời người ta quyết tranh cao thấp với nhau (quan niệm loại trừ tiền hiện đại). Ngày nay, khi nhận thức luận đã đổi chiều (tính phức hợp của tư duy, mỹ học hiện đại về cái khác, quyển văn hóa đa thanh…), thì phê bình ấn tượng và xã hội học cùng với nhiều phương pháp khác không loại trừ mà bổ sung cho nhau. Các phương pháp phê bình văn học như tinh tú, cùng châu tuần về vầng thái dương văn bản để làm sáng lấp lánh hệ mặt trời, dải ngân hà nghệ thuật văn học.

Có thể vì Nguyễn Vỹ có kiểu phê bình xã hội học dung tục nên không hiểu nổi Hoài Thanh khi viết về ông “đến giữa làng thơ với chiêng, trống, xập xoèng inh cả tai…” và có “lối ăn mặc và điệu bộ lố lăng” là nhận xét về phong cách nghệ thuật thơ Nguyễn Vỹ chứ tuyệt không có dấu ấn xã hội. Cái mã tư duy hình tượng phê bình của Hoài Thanh vốn vậy, (hay cái buổi âu hóa thời ấy được thể hiện ra trước nhất từ thời trang nên) Hoài Thanh thích ví von phong cách nhà văn bằng thời trang; chỗ khác ông viết: “Bây giờ khó mà nói được cái ngạc nhiên của làng thơ Việt Nam hồi Xuân Diệu đến. Người đã tới giữa chúng ta với một y phục tối tân và chúng ta đã rụt rè…”. Sự không đồng tình của Nguyễn Vỹ cho thấy ông tranh luận theo kiểu “trống đánh xuôi kèn thổi ngược” bởi Nguyễn Vỹ với kinh nghiệm đọc xã hội học dung tục không hề hiểu cách đọc kinh nghiệm cảm giác của Hoài Thanh.

Xét kỳ cùng, từ phương pháp phê bình văn học, thì những phương pháp đọc văn bản của Nguyễn Vỹ và Hoài Thanh đều là những người đọc thuộc hệ hình tiền hiện đại đi tìm nghĩa cố định - nghĩa duy nhất đúng của văn bản. Đối với người đọc kiểu này, bao giờ cũng lấy văn cảnh để hiểu văn bản, chỉ có mình là hiểu đúng còn người là sai, kiểu quan niệm loại trừ. Đặc điểm này là đặc điểm của cả thời đại các ông, và còn kéo dài mãi cho đến khi nào người ta rũ bỏ được cái mỹ học tiền hiện đại khảo cổ nghĩa duy nhất đúng. Những vụ như tranh luận kiểu Nguyễn Vỹ và Hoài Thanh, hay tranh luận Truyện Kiều thời ấy tiêu biểu cho mâu thuẫn của người đọc tiền hiện đại lấy xuất phát điểm hiểu văn bản từ hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa… và bám chặt vào một nghĩa đúng duy nhất. Tôi gọi những mâu thuẫn như vậy là những mâu thuẫn truyền đời của kiểu đọc tiền hiện đại mang nặng tính kinh nghiệm luận.

Nguyễn Mạnh Tiến

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác