Phạm Quỳnh với du ký "Trẩy chùa Hương" (*)

 

(Toquoc)- Học giả Phạm Quỳnh (30.01.1893 - 7.9.1945), còn có các bút danh Thượng Chi, Hoa Đường, Hồng Nhân; sinh tại số 1 phố Hàng Trống, Hà Nội; quê quán ở làng Lương Ngọc, tổng Ngọc Cục, phủ Bình Giang (nay thuộc xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương). Tên tuổi nhà văn hóa Phạm Quỳnh đã được khẳng định trong nhiều bộ từ điển danh nhân văn hóa, từ điển văn học, công trình nghiên cứu, chuyên khảo, luận văn; đặc biệt từ giai đoạn Đổi mới (1986) đến nay, nhiều tác phẩm quan trọng của ông đã lần lượt được sưu tập và công bố trở lại: Mười ngày ở Huế (2001), Luận giải văn học và triết học (2003), Pháp du hành trình nhật ký (2004), Du ký Việt Nam - Tạp chí Nam phong (1917-1934), ba tập (2007), Thượng Chi văn tập (2007), Phạm Quỳnh - Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp (2007), Hoa Đường tùy bút và 51 bản dịch thơ Đỗ Phủ (2011) v.v…

Thực tế cho thấy các tác phẩm du ký của Phạm Quỳnh khá đa dạng về hành trình, mục đích chuyến đi và mức độ thể hiện tiếng nói trữ tình ngoại đề của chủ thể tác giả. Mặc dù có sự đan xen, giao thoa các sắc thái khác nhau nhưng vẫn có thể chỉ ra những tâm thế, những điểm nhấn, những bảng màu khác nhau trong du ký của ông chủ bút, ký giả, nhà văn hóa, nhà chính trị Phạm Quỳnh. Từ rất sớm, Phạm Quỳnh đã viết du ký vừa thể hiện sự hiếu kỳ, niềm vui khi khám phá một điểm di tích danh lam thắng cảnh in đậm sắc màu “vị nghệ thuật”, vừa sớm có những ý kiến đề xuất về cách thức thức tổ chức, điều hành hoạt động văn hoá lễ hội, du lịch như bài Trảy chùa Hương (ký Thượng Chi, in Nam phong Tạp chí, số 23, tháng 5-1919)…

Ở đoạn mở đầu, học giả Phạm Quỳnh 26 tuổi nêu những suy tưởng về Phật giáo, nhấn mạnh phương diện nhân văn, ý nghĩa thanh lọc và khả năng cứu rỗi tinh thần của tôn giáo nói chung: “Bể khổ mênh mông, bè từ trôi nổi; bến mê man mác, bờ giác tịt mù. Ở đời là khổ, làm người là lầm, dẫu đạo nào từ xưa đến nay cũng dạy như thế, chỉ khác nhau ở cái phương pháp đặt ra để giải lầm, để thoát khổ mà thôi. Nếu người ta từ lúc lọt lòng đến khi vùi dập được sung sướng trọn vẹn cả, không phải sự gì phiền muộn đau đớn, không gặp cảnh gì trái người thảm thương, thời chắc ở đời không có thần Phật, không có đền chùa, không có đạo giáo gì nữa. Nhưng, than ôi! Cái hạnh phúc hoàn toàn không phải ở đời này, mà sự khổ não gian truân là thân phận của người ta. Đã sinh ra kiếp làm người, ai cũng phải khổ, kẻ khổ ít, người khổ nhiều, có người mang cái đau đớn ở trong lòng như côn trùng độc hằng ngày nhấm gan đục óc, có kẻ đeo cái ủ dột ở ngoài mặt như cơn mây tối che ám một góc trời thu; có người khổ ngấm ngầm như ngậm cay nuốt đắng, có người khổ vỡ lở ra giọng khóc lời than; mỗi người đau một vẻ, mỗi người khổ một nỗi, nhưng ai ai cũng đã từng đau khổ cả, ai ai cũng còn phải đau khổ nhiều. Thật người ta không có cái gì giống nhau, mà duy có cái khổ là chung nhau cả. Đã khổ tất sinh lòng cầu cứu để mong cho thoát khỏi. Nhưng cầu cứu ai cho được? Chắc không thể cầu cứu ở người đời được, vì phần nhiều, vì hết thảy sự khổ não ở đời là bởi người ta làm ra cả, bởi cái lòng độc ác của người ta tương tàn tương tặc lẫn nhau mà sinh ra cả. Nay không cầu cứu ở người được, thời cầu cứu ở ai bây giờ? Tấm thân đau đớn này, vì kẻ đồng loại mà nên cơ cực, biết đem ký thác vào ai cho được an toàn, biết kêu oan với ai, biết than khóc với ai bây giờ? Lại những lúc sống chết xa nhau, nửa đường đứt gánh, cái thảm đã đến cực, cái khổ đã đến cùng, lúc bấy giờ muốn gào muốn thét lên một tiếng lở đất vang trời cho cam, thời ai là người nghe cho? Ai là người nghe mà thấu, mà hiểu, mà biết, mà thương cho? Ai là người nghe mà mình tin rằng có người nghe đủ khiến cho an ủi trong lòng, mát mẻ trong dạ, có cái can đảm, cái kiên nhẫn mà chịu khổ cho đến cùng? Tất là trên loài người phải có một Đấng cao hơn hết thảy, toàn trí, toàn năng, đại từ, đại giác, để mà chứng cho cái khổ ải vô hạn ở cõi đời. Đấng ấy là ai? Là Trời, là Phật, là Thánh, là Thần, tuy danh hiệu có khác nhau, tuỳ tập tục của mỗi xứ, mà tính cách đâu cũng một, tức là một Đấng Đại từ Đại bi, cứu khổ cứu nạn, để những khi chán chê cuộc thế, tê tái nỗi lòng, có chỗ mà qui y cho an ổn, có nơi mà than khóc cho hả lòng. Đấng ấy mắt trông không thấy, tai không nghe thấy, mà trong lòng mong mỏi, trong dạ khát khao, trong trí tưởng tượng, trong bụng cầu nguyền, giữa những lúc cực chẳng đã, thế không sao, lại càng bồi hồi mà tin cậy, nóng nảy mà ước ao. Đấng ấy không thể không có được, vì người đời khổ quá không có lẽ không ai biết đến; dẫu không có thật mà lòng người khẩn nguyện như vậy, trí người yêu cầu như vậy, không có cũng phải có, có trong tâm hồn, trong tưởng tượng người ta. Thật hay hư, hư hay thật, sắc không, không sắc, biết đâu? Chỉ biết có thời tấm lòng an ủi, không thời tất dạ băn khoăn. Bởi thế nên sinh ra các tôn giáo, bởi thế nên dựng ra các đền chùa. Lấy cái tư tưởng hẹp hòi của nhiều người thời cho là những sự mê tín vô ích, nhưng cứ cái nguyên lý sâu xa trong tâm tính thời phàm sự lễ bái là chánh đáng cả, vì có cái ý nghĩa thiết tha. Chắc những khi sự lễ bái đã suy đồi mà thành ra một lối buôn bán, buôn thánh bán thần, hay là bại hoại mà thành ra những tục mê tín, mê xằng tin nhảm, thời người trí giả không thể sao dung được, nhưng bao giờ cái gốc sự lễ bái là tự cái lòng tín ngưỡng thâm thiết của loài người, thời những khi ấy phải lấy bụng cẩn trọng mà suy xét, không nên nhất thiết báng bổ, không nên nhất thiết hoài nghi cả. Người ta có cực mới phải cầu, cầu mà đỡ cực được thời chẳng phải là một sự hay rư? Cái lòng tín ngưỡng của người ta là một mối cao thượng không nên khinh thường mà bài bác, phải nên cẩn trọng mà kính nghiêm”...

Trong bản chất, Phạm Quỳnh coi trọng Phật giáo nhưng cũng tỏ rõ thái độ với lối buôn thần bán thánh, lễ bái theo kiểu mê tín dị đoan: “Lòng tín ngưỡng ấy giống nào dân nào cũng có, vì cái gốc đau khổ là chung cho cả loài người. Tuy bọn thượng lưu có học thức hay khinh rẻ mà coi thường, nhưng người thường dân mộc mạc phần nhiều nhờ đó mà giữ được cái lòng hi vọng ở đời. Dân An Nam ta theo Nho học trong mấy mươi đời, mà Nho học là cái học chỉ vụ thực, Khổng Phu tử nhất sinh không biết đến thần quyền, nên cái lòng tín ngưỡng về tôn giáo của nước ta sánh với các nước khác thấp kém lắm, thật là thiếu mất một cái sức mạnh rất to trong xã hội vậy. Nước người ta vì lòng tin đạo mà dựng nên những nhà giáo đường to lớn, những chốn tịnh xá mênh mông, nước mình trong suốt cõi được dăm ba nền chùa nát, một vài góc miếu xiêu, coi đó thời đủ biết cái “tôn giáo tâm” (le sentiment religieux) của người mình thật là lạnh nhạt vậy. Ở những chốn thành thị phiền hoa thời sự lễ bái đã nghiễm nhiên thành một cách hối lộ vô ngần; người ta đối với thần thánh chẳng khác gì lũ dân ngu xử với bọn quan tham, tưởng cứ lễ lót nhiều là được ơn huệ to. Như vậy thời còn gì là cái lòng tín ngưỡng cao thượng nữa?”; đồng thời ông bày tỏ chính kiến của mình vừa trong tư cách một con người cá nhân, một chúng sinh và một học giả: “Bình sinh vốn ưa sách Phật, mến mùi thuyền, những lúc chán ngán nỗi đời tưởng giá đem gửi mình ở chốn am thanh cảnh vắng cũng ngoan. Lại mang cái tư cách nhà học giả, phàm sự lý muốn sưu sách cho cùng, lắm lúc nghĩ đến cái lòng tôn giáo bạc nhược của người mình, sánh với cái bụng tín ngưỡng cao thượng của người ta, mà riêng than rằng giống mình thật lắm nỗi kém hèn, muốn tìm xem có kế nào chấn hưng được tôn giáo ở nước nhà không, nên vẫn có ý muốn đi du lãm những nơi danh lam cổ sái để chiêm nghiệm cho biết chân tình”...

Từ đây học giả Phạm Quỳnh kể lại nguyên cớ chuyến du ngoạn: “Vậy mùa xuân năm nay, tháng Hai ngày 18, là ngày hội Chùa, cùng với bạn là Trần quân và Phạm quân đi trẩy chùa Hương. Lại thêm một ông bạn chung nữa là Sa Công, ông chính là người đồng châu với Phật Tổ Thích Già, lạc loài đến cõi Nam thổ này, vì thanh khí lẽ hằng cùng với bọn mình gây thành một cuộc giao tình thân mật. Ông sắp phải viễn biệt anh em, nên anh em muốn rủ đi, trước là vãn cảnh thăm chùa, sau là cùng nhau chuyện trò trước khi xa vắng. Phạm quân, Trần quân hai người thời cũng có thể gọi là hai bậc chí sĩ ở nước ta ngày nay, tuy chưa làm sự nghiệp gì cho người biết mà thật lòng yêu nước không ai bằng. Một đoàn du xuân, bốn người đồng chí, dẫu cảnh không đẹp, tiết không xuân cũng đủ vui thay, huống lại giữa tiết thiều quang, cùng nhau dan díu trong một chốn phong cảnh tối hữu tình!”…

Phạm Quỳnh nêu rõ cách thức chọn lối đi phù hợp với chuyến du ngoạn ngày xuân: “Từ Hà Nội về Chùa có hai đường: một đường Hà Đông, một đường Hà Nam. Đường Hà Đông, là đường bộ, đi xe hơi mau hơn, chỉ trong khoảng một ngày vừa đi vừa về được. Nhưng bọn mình đã đi du xuân mà lại thêm cái mục đích khảo cứu nữa, nếu vội vàng hấp tấp như vậy thời còn thú chi mà có ích chi? Vậy anh em định đi đường Hà Nam là đường thuỷ, tuy chậm hơn mà có phong thú hơn. Chiều ngày 17 đi chuyến xe lửa cuối cùng xuống Phủ Lý. Đã hẹn trước với Bùi quân ở Châu Cầu mướn chiếc đò đợi sẵn. Tám giờ tối tới nơi. Bùi Quân cho ăn cơm rồi cùng bọn mình xuống đò. Ước 10 giờ đêm, trời sáng trăng suông, gió hơi hiu hắt, thuyền giương buồm chạy, lên bến Đục Khê. Đêm khuya thanh vắng, sông rộng bờ cao, giữa khoảng trời nước long lanh, tiếng ca nhi thánh thót, giọng du tử hề hà, cũng phảng phất được ít nhiều cái thú của các bậc cao nhân danh sĩ đời xưa lấy bầu rượu túi thơ mà sánh với non xanh nước biếc”…

Sáng sớm hôm sau, Phạm Quỳnh cùng mấy người bạn đến bến Đục Khê và thẳng thắn bộc lộ sự thất vọng, phản cảm: “Thật trông cái cảnh tượng nơi bến đò đó mà thảm thay. Hàng nghìn con người đứng chực, có người đứng từ tang tảng sáng, chốc mới có chiếc đò chở khách trong Chùa ra, khách dưới chưa lên, khách trên ồ xuống, đó bất quá là một chiếc tam bản đựng được mươi người là nhiều quá, thế mà mỗi lúc xô xuống đến hai ba mươi người, vừa gồng vừa gánh, vừa siểng vừa cọ, đò chềnh nghiêng chềnh ngửa đi, lắm khi chỉ còn mấp mé mặt nước, tưởng chỉ ngồi nánh một tí là đổ cả người lẫn đồ xuống nước, nhiều người ướt cả quần áo, mất thắt lưng tay nải, giầy dép áo khăn là thường. Thật là hỗn độn cẩu thả, không có lệ luật phép tắc gì cả”... Ông chỉ rõ bản chất mối tệ hại: “Nguyên chỉ có làng sở tại đó mới có quyền chở đò suối, đón khách vào Chùa cùng đưa khách ở Chùa ra, quyền ấy tức là một cái “chuyên quyền” (monopole) không ai tranh được… Đàn anh trong làng, anh nào cũng chỉ biết khư khư lấy một mình, không ai nghĩ đến việc lợi hại chung, thời trách nào mà công việc chẳng hư hỏng”…; từ đây ông dự cảm về một hướng tổ chức, qui hoạch, quản lý phù hợp với hoạt động du lịch: “Nay bọn đàn anh nếu biết khôn khéo ra thời nên chỉnh đốn lại các cuộc chở đò suối đó thế nào cho vừa tiện cho hành khách, vừa lợi cho dân làng. Trong làng có bao nhiêu đò, của những ai, trước hết phải kê ra cho rõ. Ngày vắng khách cho chạy một phần, ngày đông khách cho chạy hết cả. Phải đặt ra từng chuyến, định giá nhất định, hạn mỗi chiếc chở bao nhiêu người là vừa, không được hơn. Trên bến đặt một cái nhà cho các người phần việc ngồi, người phát vé thâu tiền, người coi việc cảnh sát, người ràn khách xuống đò, v.v… Chọn trong những hạng đàn anh có vai vế, mỗi ngày cắt phiên nhau mà làm. Hành khách trước khi xuống đò phải lấy vé, rồi cứ thứ tự mà xuống, người trước xuống trước, người sau xuống sau, không được tranh nhau hỗn độn. Các người phần việc phải nhanh nhẹn khéo léo, trông có những người già cả yếu đuối thời liệu cho xuống trước, đưa dắt cho khỏi vấp ngã. Thứ nhất là trên bến phải đặt ra hai chỗ cách nhau: một chỗ để đỗ khách lên, một chỗ để đón khách xuống, chớ hiện nay chiếc đò chưa ráp bờ, đã kẻ lên người xuống xôn xao, xô đẩy vấp ngã, thật là hỗn đẩu, không có thứ tự gì. Mỗi ngày thu được bao nhiêu, nếu phải chia cho các chủ đò thời cứ chiếu số mà quân phân, trừ ra bao nhiêu phân làm của chung và làm lương bổng cho người phần việc, nếu là của làng thời nhập vào công khố. Muốn giữ cho những người phần việc khỏi gian trá thời bao nhiêu vé phát phải đánh số, mỗi cái phải có tiên thứ chỉ ký tên, sáng ngày trao ra bao nhiêu, tối đến phát hết bao nhiêu, phải trình công đồng cả trạ biết, v.v… Nói rút lại cốt nhất là phải sắp đặt thế nào cho vừa tiện cho hành khách mà lợi cho dân làng. Hành khách được tiện thời dẫu mất hơn tiền ra cũng không mấy người quản, mà khéo chiều khách, khéo sắp đặt thời làng càng được lợi nhiều! Nhưng người mình đã không có tài gì, mà cái thuật kinh tế kiếm tiền cũng ít có; còn mong chi?”...

Đi trên chuyến đò, học giả Phạm Quỳnh đã hóa thành nhà nghệ sĩ lúc nào không hay khi đắm mình suy tưởng, chiêm nghiệm trước cảnh thiên nhiên non xanh nước biếc: “Đi đò ước chừng mất một giờ, phong cảnh thật là ngoạn mục. Hai bên núi đá, một dòng sông con chảy giữa, núi thâm thấp, nước quanh co, coi thật là như một bức tranh sơn thủy của Tàu... Núi cao quá thường làm cho người ta dợn, sông rộng quá thường làm cho người ta ghê, mà non kia nước này thật là vừa bằng cái sức người tưởng tượng, nên coi ra rất là mỹ miều khả ái. Mỗi dãy mỗi trái đều có tên riêng, tùy hình mà đặt: đây là con vâm đương ăn cỏ, trông cũng phảng phất như hình con voi chúc vòi xuống ruộng lúa, bên đầu lại có chỗ cong lại như hình cái tai, mới nhìn không ai nhận, mà đã có người gọi tên lên rồi thời càng nhìn càng thấy hệt như con voi, mới biết cái danh hiệu thật là có ảnh hưởng đến sự tưởng tượng nhiều lắm vậy; lại kia là núi mâm xôi, con gà, trông cũng mường tượng như con gà đặt trên mâm xôi thật! Ôi! Cái trí biến báo của người ta thật là vô cùng vậy”...

Phạm Quỳnh với du ký

Với tầm quan sát và tư duy phân tích của một ký giả, học giả và nhà du lịch, Phạm Quỳnh vừa mô tả những điều tai nghe mắt thấy vừa đưa ra những lời nhận xét, bình phẩm:

“Đến nửa đường thời có Đền Trình, ở dưới chân núi, về bên tay phải lối đi vào; đấy là thờ các vị sơn quân canh rừng núi, giữ cửa Chùa, ai vào Chùa phải tới đấy trình diện trước; nên gọi là “đền Trình”. Tức như vào cửa quan lớn phải hỏi cậu lính hầu vậy. Bọn mình cũng ghé thuyền lên đưa thiếp danh cho các cậu “ba mươi” xin vào hầu bà Công Chúa (vì đức Bà Quan Âm theo tục truyền thủa bình sinh tức là con gái vua). Chúa Ba đọc thấy tên mấy người mình, chắc ngạc nhiên mà tự hỏi bọn này vào đây làm gì, quyết không phải là để cầu của cầu con, kêu van lạy lễ như người khác, cũng không phải là làm mặt tri thức, ngao du khoáng đãng, để ngạo mạn kẻ bình thường, nhưng ngẫm nghĩ hồi lâu tất ngài hiểu rằng bọn mình là mấy kẻ ham học mà chán đời, thường tận tụy vì một cái lý tưởng cao xa mà khổ vì người đời chểnh mảng, muốn đem cái tâm hồn trong sạch chịu cái cảm hứng thanh cao ở dưới bóng Bồ Đề, trên non Thứu Lĩnh. Ngài đã hiểu cái tâm sự mình như thế, tất ngài cũng khoan dung cho bọn mình, tuy không biết biểu lộ cái lòng tôn kính ra bề ngoài như người khác mà trong lòng thật là cẩn trọng, không dám lấy việc tín ngưỡng làm sự khinh thường…

Gần trưa tới chùa ngoài, tức chữ gọi là Thiên Trù, nghĩa là cái “bếp trời”, là chỗ sửa soạn đồ lễ vật để vào dâng trong động. Tuy tên nhỏ mọn như thế mà nghiễm nhiên là một tòa dinh vũ nguy nga, ở giữa một cái cao nguyên, bốn bề toàn núi, trông rất là có thể thế. Cách kiến trúc tuy không có gì là khéo là đẹp, mà to lớn lực lưỡng, thực là xứng đáng với cái cảnh chung quanh, coi đủ biết là chùa giàu, tiền thâu nhập nhiều, sổ chi tiêu rộng. Nghe đâu mỗi mùa số khách thập phương tới năm vạn người. Cứ bỏ rẻ mỗi người cúng vào chùa một đồng bạc, thời mỗi năm nhà chùa cũng thâu nhập tới năm vạn bạc: công ty buôn nào mà đồng niên lờ lãi được bấy nhiêu? Nguyễn Phủ trưa hôm ấy cũng tới Chùa, để cùng bọn mình chia cái thú đăng lâm… đăng lâm vào giữa giờ ngọ, nắng mặt trời tới ngoài 40 độ! Phủ đài nói chuyện tiền thâu nhập to lớn như vậy toàn nhà chùa quản trị lấy, dân sở tại cũng không biết mà quan sở tại cũng chẳng hay. Số tiền ấy mà khéo biết dùng thời kinh doanh việc chi mà chẳng được. Nhà chùa tuy cũng có sửa sang vào Chùa, mà chắc không hết được, tưởng nên hết sức mà kinh lý cho rất chỉnh đốn thời mới xứng đáng. Hiện nay cái qui mô nhà chùa đã to rộng lắm, và chung quanh những núi cũng không thể choáng trương ra được nữa, nhưng cái nội dung cần phải sắp đặt lại cho tiện khách thập phương, những ngày hội đông vẫn chưa có chỗ ăn chỗ ngủ, tối đến nằm vạ nằm vật coi bỉ tiện lắm. Đã hay rằng người có lòng thành đi lễ không quản gì sự kham khổ, song người ta phải có phẩm cách con người, chỗ ăn chỗ ngủ phải cho xứng đáng mới nên. Huống chùa không phải là khổ hạnh gì mà bạc đãi kẻ thập phương thật là sai lòng từ thiện. Song cũng phải biết cho rằng mấy ngày hội thật là đông người quá, không thể đựng vào đâu cho hết được. Đến ngót vạn con người họp vào một chỗ, kể cũng nhiều thay! Nay thử coi trong đám đông ấy có gì là cái “tôn giáo tâm” thành đốc, cái lòng tín ngưỡng thâm thiết hay không?”.

Sau khi thăm viếng những Đền Trình, Thiên Trù (“Bếp Trời”, Chùa ngoài), hành giả Phạm Quỳnh lên tiếng nhận xét: “Các đám đông ở nước mình thật là không có kỷ luật, không có trật tự gì cả, rất tạp đạp, rất hỗn độn, dầu ở nơi lễ bái kính trọng cũng kẻ đi người lại, kẻ đứng người ngồi, nói nói cười cười, kêu kêu gọi gọi, ồn ào lộn xộn, khó mà nghiệm cho được cái tâm lý những người ngẫu hợp lại đó. Lại thêm khói hương ngùn ngụt, mùi người xông ngạt, tiếng chuông, tiếng trống, tiếng mõ đinh tai, đủ khiến cho nhà khảo cứu như vào chốn mê ly, chẳng biết chỗ nào mà dò”... Rồi sau khi vào đi qua khu “Chùa Trong”, giếng Giải Oan, Cửa Võng, Trấn Song, lên đến động Hương Tích, nhà hoạt động xã hội trong Phạm Quỳnh lại tiếp tục lên tiếng phản biện: “Mới thò đầu vào chỉ thấy khói hương xông sặc ngào ngạt, nước mắt nước mũi chan chứa, không nhận ra người vật gì cả, chỉ trông lố nhố một lũ bóng nhấp nhô như trên màn chớp ảnh vậy. Lại thêm tiếng chuông, tiếng trống, tiếng mõ, tiếng pháo, tiếng xóc thẻ, tiếng cầu khấn, rộn rịp om sòm, thật là rức óc đinh tai. Cái cách thờ cúng của người mình cũng kỳ thay. Hình như thần Phật là của chung, đi lỡi được nhiều được phúc nhiều, nên tranh nhau mà cầu lỡi, tranh nhau mà thắp cho nhiều nến, đốt cho nhiều hương, mỗi người làm như vậy, thành ra đám họp chợ, không phải là nơi cầu nguyện. Ôi! Cái lòng tín ngưỡng của người mình phát biểu ra một cách thật là thô bỉ sỗ sàng thay!”…

Lên thăm Hương Tích, Phạm Quỳnh có nhiều suy tư, liên tưởng, so sánh và đặt ra những vấn đề thực sự sâu sắc, chẳng hạn bàn về Phật giáo: “Nước ta từ xưa đến nay ngoài quan quyền không có gì là kỷ luật. Về tôn giáo thời duy có đạo Nho là Quốc gia công nhận, nên chỉ có đạo Nho là có kỷ luật phép tắc; còn các đạo thần đạo Phật khác phó mặc cho người dân quản lý lấy, nên cách sắp đặt trong các đền chùa, các môn phái, tuyệt nhiên không có trật tự nhất định gì cả, mỗi nơi một cách, mỗi chỗ một khác, sự lễ bái thật là hỗn độn tạp nhạp. Nay như muốn nghiên cứu về Phật giáo ở nước Nam hiện bây giờ, xét riêng về phẩm trật các tăng đồ, thật không biết lấy đâu làm bằng cứ. Nhiều nhà bác học Tây thường lấy làm lạ rằng nước mình theo đạo Phật mà Phật giáo ở đây không có thành giáo hội, không có đặt chế độ gì, không có một nơi trung ương để quản trị cả giáo đoàn, không có một bậc giáo chủ hay là giáo trưởng để giám đốc hết thảy, các chư tăng cũng không có phẩm trật hạng ngạch gì, chỉ chùa nào biết chùa ấy mà thôi, các chùa không có liên lạc với nhau mà thành một giáo hội như ở Cao Man, Xiêm La, Ấn Độ. Thành ra Phật giáo ở nước Nam này có cũng như không, vì không có sinh hoạt, không có thể thống, không có cơ quan gì. Biết bao giờ cho trong nước đột khởi được một bậc cao tăng, có tài cao, có chí lớn, có học vấn, có kinh luân, mà ra tay chấn loát cho cái tôn giáo ủy nhược suy đồi này? Ta rất là mong mỏi lắm, nhưng một nhân vật siêu mại như vậy chưa chắc cái dân yếu hèn này đã bao giờ đào tạo ra được. Buồn thay!” và đưa ra kiến giải hợp lý: “Lòng tôn giáo không thịnh, các giáo hội không có, mới sinh ra vô số những sự thờ cúng lễ bái vô nghĩa lý, lắm khi hại cho phong tục luân thường. Bây giờ các nước văn minh đều lấy tôn giáo làm cái động lực rất mạnh trong xã hội, hết sức chấn hưng để lấy đấy mà chống đối lại với cái phong trào vật chất đời nay: nước mình có người nào sáng suốt mà nghĩ tới không?”...

Vào trong động Hương Tích, học giả Phạm Quỳnh tiếp tục quan sát, đối sánh giữa cảnh trí “thiên tạo” với sản phẩm “nhân vi”, có ý phê phán hoạt động, hành vi dị đoan “những cái tục truyền phụ họa, chẳng có gì là kỳ lạ cả”, từ đó đề cao cái đẹp của cảnh trí thiên nhiên và thế giới tự nhiên vĩnh hằng: “Nhưng phàm cảnh sơn nham không có đẹp ở trái núi hay ở viên đá, mà phần nhiều đẹp ở cái khí sắc mỗi lúc, tùy trời u ám hay trời sáng sủa, buổi chiều dương hay lúc tịch dương, mặt trời ánh sáng, sắc núi đậm phai, mà mỗi lúc khác nhau. Vậy bấy giờ đã trở về chiều, mặt trời đã xế, đứng tận trong cùng động nhìn ra ngoài cửa, thật là một bức tranh tuyệt bút. Khói hương đưa ra cửa động, mờ ám như đám sương mù, mặt trời phản chiếu nửa đỏ nửa vàng, bóng cây phất phới như thấp như cao, đứng trong nhìn ra như trông qua một cái gương mờ: bấy giờ tưởng bước chân ra cửa động là tiện thị để mình vào nơi mộng cảnh nào, theo sương mù mà bay bổng lên mấy từng mây, có lẽ đấy chính là cõi Tây Thiên tĩnh thổ vậy. Nhưng chửa bước chân ra khỏi cửa thời cái mộng cảnh đã tan rồi, mà chỉ ngửi thấy những mùi xú uế ở chung quanh chùa bốc lên, thật là cảnh chân với cảnh mộng cách xa nhau nhiều lắm!”…

Đến chiều tối, Phạm Quỳnh và nhóm bạn trở ra, nghỉ lại qua đêm ở “Chùa ngoài”, tiếp tục nêu ý kiến băn khoăn về vẻ đẹp thiên nhiên “cảnh mộng” với sự kém cỏi trong cách thức tổ chức, về những giá trị tiềm ẩn của đất trời với ước nguyện xây dựng Hương Tích xứng đáng với địa danh miền đất Phật. Đoạn kết thiên du ký giàu chất trữ tình, tâm sự bâng khuâng, lưu luyến: “Tám giờ sáng mai ra đò suối sớm, 10 giờ thời xuống thuyền trở về Phủ Lý, đi nước xuôi chóng hơn bữa trước nhiều. Lần này đi ban ngày, tha hồ ngắm phong cảnh hai bên bờ, chỗ núi non, chỗ đồng ruộng, coi rất ngoạn mục. Có nơi núi ngay trên bờ, bên sườn lại có tấm đình góc miếu cheo leo, nhìn như bức tranh sơn thủy lớn hay núi non bộ to. Tới già nửa đường thời qua đền  Bà Đanh, nhưng trời đã về chiều không kịp lên xem. Sáu giờ tối thì thuyền tới bến Hà Nam, ngủ đấy một đêm, sáng mai lên Hà Nội chuyến xe lửa sớm. Thế là trẩy Chùa Hương xong, cả thảy mất hai ngày rưỡi ba đêm”...

Nối tiếp ngay sau bài Trảy chùa Hương, Phạm Quỳnh cho in phụ thêm bài VỊnh cảnh chơi chùa Hương Tích của Nghĩa Viên Nguyễn Văn Đào:

Chạnh niềm nhớ cảnh chùa Hương,

Như vui lòng khách tìm đường qua chơi.

Thanh minh gặp buổi êm trời,

Thuyền lan thuận gió đón người du xuân.

Châu giang một dải kề gần,

Mái chèo tam bản lần lần xa đưa.

Cung đàn bầu rượu túi thơ,

Trước buồm Ngư phủ lung hồ phong quang.

Suối khe trong vắt lồng gương,

Núi phô vẻ gấm hai hàng lô nhô.

Thiên nhiên một bức họa đồ,

Đào nguyên khi trước dễ hồ là đây.

Càng trông phong cảnh càng hay,

Non  xanh nước biếc cỏ cây tươi mầu.

Lạ cho vừa đến tiên châu,

Lòng trần ai cũng sạch làu như không.

Chùa ngoài bước tới chùa trong,

Biết bao cảnh trí non bồng xinh thay.

Hỏi thăm những gió cùng mây,

Nam thiêng đệ nhất động này phải chăng?

Thang mây ai khéo dẫn đàng.

Gót chân du khách nhẹ nhàng lên cao.

Một mình đỉnh núi cheo leo,

Bốn bên sơn thủy triều vào mặt ta.

Tiêu dao trong thú yên hà,

Chim kêu vượn hót đều là tri âm.

Chuông trưa mõ sớm rầm rầm,

Tang thương chợt tỉnh khách nằm chiêm bao.

Chùa Tiên hương khói ngạt ngào,

Thập phương tử đệ ra vào Nam mô.

Núi đâu tên gọi “Cậu Cô”,

Võng đâu rủ xuống cửa chùa thướt tha.

Đèo đâu tên gọi “Ông Bà”,

Giếng đâu ai đặt hiệu là “Giải Oan”.

Thợ trời sao khéo đa đoan,

Xui người trần tục mê man cảnh thuyền.

Non sông kia vẫn là quen,

Rừng Mai khe Yến phỉ nguyền chơi xuân.

Kiếp tu đà biết mấy lần,

Mai sau hoặc có hóa thân chăng là.

Rêu phong vách đá lờ mờ.

Mấy thiên đề vịnh dấu xưa hãy còn.

Vầng trăng soi tỏ đầu non,

Bóng in đáy nước gương tròn long lanh.

Con thuyền sơn thủy lênh đênh,

Nhấc chân chợt tưởng như mình cưỡi mây.

Thú đâu bằng cái thú này,

Tranh nào ai vẽ được tầy cho chưa.

Hóa công như vẫn đợi chờ,

Mà đưa những khách giang hồ qua chơi.

Mấy phen vật đổi sao dời,

Dấu thiêng vẻ quý muôn đời còn đây.

Non non nước nước mây mây,

Nghìn xưa phải lấy chốn này làm hơn.

Nhìn chung, có thể coi du ký Trẩy chùa Hương của Phạm Quỳnh chính là một nhà bảo tàng du lịch bằng ngôn từ nghệ thuật, hòa quyện phẩm chất, tư thế học giả, nhà khảo cứu, bản lĩnh trí thức, nhà văn và nhà nghệ sĩ, giúp người đọc bốn phương “ngồi một chỗ mà thấy ngoài muôn dặm”, hiểu rõ hơn về một thời Hương Tích - xứ Đoài - Hà Nội...                    

Hà Nội, tháng 3-2013

Nguyễn Hữu Sơn

--------------------------------

(*) Nhân Kỷ niệm 120 năm sinh học giả Phạm Quỳnh (1893-2013) và mùa lễ hội Chùa Hương

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác