Phạm Phú Phong: 'Mây của trời rồi gió sẽ mang đi' (*)

(Toquoc)- Trên nền tảng tâm thức nhớ về những người đã khuất, Phạm Phú Phong nhập cuộc với những trang văn và làm sống dậy những ký ức tốt lành, những giá trị con người không thể phai nhạt trước thời gian.

Phạm Phú Phong: 'Mây của trời rồi gió sẽ mang đi' (*) - ảnh 1
Nhà văn, nhà báo, nhà giáo Phạm Phú Phong
Từ hồi năm 1983, cách nay đã hơn phần tư thế kỷ, tôi đã bao lần gặp Phạm Phú Phong. Ngày ấy anh được chọn từ Huế ra Thủ đô học nốt năm cuối Khoa Ngữ văn ở trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Duyên cớ thế nào lại thường dan díu với Ban Hiện đại của Viện Văn học để rồi ngay sau năm ra trường đã có bài viết in chung trong sách Về một vùng văn học

Ở Viện Văn học, từ nhà thơ Viện trưởng Hoàng Trung Thông đến các ông Trưởng ban Phong Lê, Nguyễn Huệ Chi và đám bạn trẻ đều thân quý Phạm Phú Phong. Ngày ấy anh Phú Phong còn gầy và đen lắm, nhưng mà trán cao, phất phơ tóc dài, có lẽ còn hói hơn cả bây giờ. Bộ ria đen nhánh, sau mấy chục năm vẫn y nguyên như thế. Chẳng rõ gia cảnh thế nào, chỉ biết ông này hay nói, hay cười, vui vẻ lắm. Phạm Phú Phong hay kể về quê hương Điện Bàn - Quảng Nam, về những ngày còn chiến tranh ác liệt và thường thêm câu phản vấn: “Thế chớ còn sao nữa?”. Khi nói thì bộ ria rung rinh, nhấp nháy đến ngộ.

Thế rồi Phạm Phú Phong về làm giảng viên khoa Ngữ văn, nay thuộc Đại học Khoa học, Đại học Huế. Thuộc típ người lãng đãng mây ngàn, anh vừa dạy học vừa làm báo, cộng tác với nhiều báo, viết báo liên miên. Bạn bè khắp trong Nam ngoài Bắc. Hóa thành muộn vợ. Nhìn đi nhìn lại, chẳng mấy đã ngoài ngũ thập, đã thành ông, đã lên lão, đã gần chạm sáu mươi tuổi trời rồi. Bù lại, Phạm Phú Phong viết thật nhiều và thật đều. Tính đến nay anh đã có tới mười mấy tập sách in chung, năm tập giáo trình, tiểu luận, phê bình in riêng và chí ít cũng còn bốn tập bản thảo đang in. Riêng với tập Mây của trời rồi gió sẽ mang đi có thêm phụ đề “Tản văn, tạp luận, chân dung”, thực chất cũng là tiểu luận - phê bình. Tập sách được chia thành ba phần: Như một lời chia tay - Để gió cuốn đi - Một cõi đi về, cộng chung tới 36 mục bài.

Đọc Mây của trời rồi gió sẽ mang đi thấy có một độ chênh nhất định giữa hình ảnh nhà giáo, nhà báo, nhà phê bình Phạm Phú Phong sôi nổi kia với những trang văn chất nặng suy tư. Đằng sau tiếng cười vui vẻ kia là cả một sự từng trải, những bi thương một thời bom đạn, những buồn vui cảnh ngộ đời thường, những nỗi niềm sâu thẳm về tình thầy, tình văn, tình bạn. Tất cả, tất cả được anh soi nhìn, chiêm nghiệm, đo đếm từ sự khắc khoải của tình người và những giới hạn của kiếp người. Nói khác đi, anh đặt mình vào cõi hư vô, tự giả định đứng ở cuối chân trời mà nhìn lại cõi đời tháng năm quá khứ, thử bắc cái cân kiếp người mà xem sự nặng nhẹ của những tham, sân, si, ái, ố, hỷ, nộ. Ngay từ bài Lời chào tương lai mở đầu tập sách, qua câu chuyện lễ hỏa táng người anh cả, tác giả bâng khuâng chiêm nghiệm: “Suy cho cùng, người ta không chọn để được sinh ra và cũng không chọn được đường đời truân chuyên lắm nẻo, nhưng có thể chọn được đường đi cuối cùng, vì đã nhìn thấy được cuối con đường, cái đích của cuộc đời, tương lai của mỗi phận đời là ở nghĩa trang” (tr.16). Phật giáo quan niệm kiếp người là “Sinh ký tử qui” (Sống gửi thác về). Thiền sư Nguyễn Vạn Hạnh (?-1018) viết: Thân như điện ảnh hữu hoàn vô (Thân như bóng chớp có rồi không). Người đơn giản, duy vật nông nổi, mê đắm một chiều cho thế là bi quan, ủy mị, yếm thế. Thực ra, quan niệm Phật giáo vừa nói lên một sự thật nhãn tiền, qui luật vĩnh hằng không thể đổi thay về sự hữu hạn của kiếp người, vừa nhắn bảo rằng: Ta chỉ có một lần sống ở cõi đời này thôi, cần phải biết coi trọng từng sát na, cần biết quí trọng cái cảnh giới trần gian này trong từng giây phút và gắng hướng theo điều thiện, điều lành… Với Phạm Phú Phong, anh thấu nỗi đau khi cả người bác, cha và anh ruột của mình đã hy sinh; anh xót xa trong nỗi đau chung của quê hương: “Xã của tôi là một trong những địa phương có số lượng liệt sĩ nhiều nhất trong cả nước”... Nhìn rộng ra, cần thấy rằng con người có phần chấp nhận qui luật của định mệnh nhưng vẫn có thể vượt lên số phận, làm được nhiều nhất, tốt nhất ngay cả trong điều kiện và hoàn cảnh nghiệt ngã. Thế cho nên trước cả cái chết và sự mất mát, Phạm Phú Phong vẫn có cách nhìn vượt thời gian, nối dài sự sống tinh thần cho mỗi đời người: “Ai đó đã nói rằng, người nào nghĩ nhiều đến quá khứ, người đó không có tương lai. Nhưng với tôi, tôi cho rằng, những ai không nghĩ đến quá khứ, không nhớ đến những người đã khuất, chưa từng nghĩ đến cái chết, thì người đó hẳn cũng chưa biết sự sống là gì. Chết không có nghĩa là mất đi, mà là một hình thức kéo dài sự sống. Có người để lại tiếng thơm, có người chìm vào hư không vĩnh viễn. Có người chết là chết hẳn, nhưng cũng có những người chết mà như không chết, họ vẫn sống, vẫn còn sự thanh xuân nằm bên ngoài thân xác” (tr.267-268)… Trong phần Lời kết, sau khi đã điểm danh mấy chục nhà văn nhà báo quê Điện Bàn đã hy sinh và những người bốn phương đất nước đã hy sinh trên đất Điện Bàn, khi thấy họ tên mình trùng với họ tên một người đã hy sinh, anh liên tưởng, gián cách phân thân thế giới tâm linh con người mình thành hai nửa: “Oái oăm thay, người còn sống sờ sờ như tôi, lại từng có ý nghĩ xót xa khi chính mình thắp nhang lên mộ mình, tự mình ngồi lên mộ mình để chụp ảnh, mỗi khi tôi về thăm ngôi mộ của người trùng tên với tôi. Thì cũng vậy thôi, tôi chỉ là người may mắn hơn thôi, còn có cuộc sống hôm nay và còn luôn trĩu nặng đối với những người đi trước, đi thay cho mình. Chừng nào tôi không còn cảm thấy cái sức nặng của người đã khuất còn để lại, là tôi đã sống khác đi, như một kẻ vô ơn đáng nguyền rủa. Như một sự ràng buộc vô hình, một món nợ cần phải trả, cứ mỗi lần về thăm, tôi lại đến ngồi bên ngôi mộ kia và có cảm giác chính mình là người đang nằm dưới mộ. Và, tôi thấy tâm hồn tôi trong sạch, thanh khiết đến lạ thường” (tr.275)…

Trên một dòng mạch tâm tưởng như thế, Phạm Phú Phong tái hiện, ôn lại những kỷ niệm xưa cũ về những người thầy chỉ còn hiện hữu trong cõi nhớ. Trong Phần một- Như một lời chia tay là hình ảnh các nhà văn, nhà giáo Hồ Tấn Trai (Phạm Văn Sỹ) nhân hậu suốt đời gắn bó với đề tài văn học giải phóng miền Nam; Đỗ Đức Hiểu đi từ cổ tới kim, từ dân tộc tới thế giới để rồi trở về tự cách tân chính mình qua hai công trình nghiên cứu, phê bình xuất sắc: Đổi mới phê bình văn học (1993), Thi pháp hiện đại (2001); Nguyễn Đình Thảng ngoài những giáo trình, “hầu như chỉ còn lại âm vang những lời dạy bảo học để làm người - những con người có nhân cách”… Bên cạnh đó là những trang phân tích tác phẩm đan xen kỷ niệm về những ngày ghi chép hồi ký hay một sự quen biết tâm giao, một lần gặp gỡ với các nhà văn Nguyễn Văn Bổng, Đào Xuân Quý, Phạm Hổ, Văn Cao, Đoàn Giỏi; rộng hơn là lời luận bình về vai trò nhà văn hóa Phạm Văn Đồng - người thổi hồn cho văn nghệ khu Năm, nhà thơ triết lý Bùi Giáng - Thi Sĩ Trung Niên, chân dung nhà thơ Chính Hữu - người lính hào hoa và chân chất…

Trong Phần hai- Để gió cuốn đi, Phạm Phú Phong hướng đến phác vẽ chân dung nhà văn và khảo sát, phân tích, bình luận tác phẩm thực sự công phu. Với các tác gia góp công xây nền đắp móng nền văn học thế kỷ XX như Thiếu Sơn, Bích Khê, Ngô Tất Tố, Nguyễn Tuân… thì Phạm Phú Phong đi sâu khai thác những giá trị văn chương còn lại sau tất cả những gì trôi nổi đã qua. Với các tác gia văn nghệ và thi nhân ít nhiều có quen biết như Nguyễn Văn Xuân, Trịnh Công Sơn, Trần Vũ Mai, Thái Ngọc San… nhà phê bình chủ ý đưa thêm những chi tiết đời thường, những kỷ niệm thân thương, những điều tai nghe mắt thấy, tạo nên những chân dung sinh động. Chỉ có điều tất cả đã không còn nữa. Tất cả chỉ còn trong nỗi nhớ. Và chính điều này góp phần gia tăng thêm ý nghĩa thanh lọc, cuốn hút người đọc trước những nhân cách đã thành lịch sử, những số phận đã thành quá khứ, chỉ còn lại đây những trang văn và tình nghĩa con người hiện hữu giữa dòng thời gian vô cùng vô tận.

Ở Phần ba- Một cõi đi về, Phạm Phú Phong chủ yếu viết về những chuyến đi, tức là viết du ký, nhưng lại là du ký đến với những nấm mồ: Một vùng cỏ áy bóng tà/ Gió hiu hiu thổi một và bông lau… Anh tìm đến mộ phần của Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Đình Chiểu, Thái Phiên, Trần Cao Vân, Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Phạm Quỳnh, Tản Đà, Tương Phố, Phạm Hầu, Thanh Tịnh, Điềm Phùng Thị, rồi mộ mẹ Suốt, mộ chị Sứ… Đến thăm mộ không chỉ để ngậm ngùi cho những còn mất thân xác kiếp người mà chính là nhằm để đồng cảm, để được thấu suốt cái tâm trạng hữu - vô, sắc sắc không không, cái giá trị ẩn tàng sau mỗi trang văn. Đến thăm mộ cũng chính là sự hồi cố, phản tỉnh, đo đếm lại tình người và đặt mình trước vẻ đẹp tinh thần của các danh nhân, thức tỉnh lại lòng mình và suy đoán trước xem mình sẽ là gì khi đến hồi chung kết? Chính vì thế, bên cạnh việc khơi gợi một vài đặc điểm trong cuộc đời và giá trị thơ văn sắc nét nhất ở từng nhà văn, Phạm Phú Phong bao giờ cũng chú ý miêu tả địa điểm, quang cảnh và cái cách mà hậu thế đối xử với tiền nhân qua biểu tượng nấm mộ. Có thể nói thêm, bên cạnh ý nghĩa văn chương, nhiều bài viết ở mục này còn đồng thời là tiếng nói phản biện, phê bình, nhắc nhở, cảnh tỉnh, kêu gọi con người hôm nay cần phải biết đến ân nghĩa và trân trọng các bậc tiền nhân. Nhìn trên bình diện xã hội, nhờ có thêm tiếng nói từ những bài viết này, các ngôi mộ của Thái Phiên, Trần Cao Vân, mẹ Suốt… đã sớm được tu sửa, chỉnh trang, đáp ứng tình cảm ngưỡng vọng của muôn người.

Trên nền tảng tâm thức nhớ về những người đã khuất, Phạm Phú Phong nhập cuộc với những trang văn và làm sống dậy những ký ức tốt lành, những giá trị con người không thể phai nhạt trước thời gian. Về nghệ thuật, việc người viết kết hợp rộng rãi các hình thức tản văn, tạp luận, chân dung khiến cho tập sách có cấu tứ, âm hưởng hồi cố mà vẫn sinh động, hấp dẫn. Quả thật Mây của trời rồi gió sẽ mang đi - gió mang mây đi nhưng ký ức về mây sẽ vẫn mãi còn giữa nền trời xanh thẳm…

La Sơn

--------

(*) Tản văn, tạp luận, chân dung của Phạm Phú Phong- NXB Lao động, H, 2009; 300 trang

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác