Phạm Hổ - Một lối đi riêng trong truyện cổ viết lại

Lê Nhật Ký

Nghệ thuật luôn coi trọng sự độc đáo. Như nhà văn Nam Cao trong truyện ngắn “Đời thừa” đã nói rằng, văn chương chỉ dung nạp những ai biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, sáng tạo những gì chưa có. Vậy nên, tìm hiểu một nhà văn (nào đó) là tìm hiểu những sáng tạo độc đáo qua tác phẩm. Với suy nghĩ này, chúng tôi muốn nói đến nhà văn Phạm Hổ qua một số tác phẩm truyện cổ viết lại của ông.

Phạm Hổ - Một lối đi riêng trong truyện cổ viết lại - ảnh 1
Nhà văn Phạm Hổ. Ảnh: Tuổi Trẻ
1.
Trong văn học thiếu nhi, truyện cổ viết lại được xem là một thể loại hiện đại, gồm những tác phẩm tự sự được sáng tác dựa trên cơ sở cốt truyện dân gian. Ở Việt Nam, việc khai thác cốt truyện dân gian của các nhà văn viết cho thiếu nhi tương đối phổ biến. Chúng ta dễ dàng kể ra đây các tác giả quen biết: Khái Hưng với Vợ Cóc, Nguyễn Huy Tưởng với Truyện bánh chưng, Con Cóc là cậu ông Giời, Tô Hoài với Đảo hoang… Mỗi người, một vẻ nhưng tựu chung, các nhà văn nói trên đều đã cho thấy truyện cổ viết lại mở ra những mênh mông sáng tạo. Dĩ nhiên, phần lớn tuỳ thuộc vào tài năng của người cầm bút.


2.
Nói riêng về Phạm Hổ, chúng tôi chú ý tới ba tác phẩm sau đây: Ngựa thần từ đâu đến, Lửa vàng, lửa trắng và Lửa vàng, lửa trắng, lửa nâu. Những tác phẩm này cho thấy, trong nghệ thuật truyện cổ viết lại, Phạm Hổ đã thể hiện một hướng khai thác riêng.

Thông thường, khi viết lại truyện cổ dân gian, các nhà văn khai thác nguyên vẹn một phần hay toàn bộ cốt truyện. Phạm Hổ không theo cách này, ông chỉ lấy ra một hình tượng hay dựa vào kết truyện rồi tạo ra một tác phẩm mới.

2.1. Thuộc dạng thứ nhất là truyện Ngựa thần từ đâu đến. Truyện này liên quan đến truyền thuyết Thánh Gióng, một tác phẩm nổi tiếng của văn học dân gian Việt Nam. Bất cứ ai trong thời thơ ấu của mình cũng đều biết, đều yêu và đều “nằm mơ ngựa sắt” (Chế Lan Viên) cùng Thánh Gióng ra trận và về trời. Truyện dân gian đã rành rõ: ngựa sắt là do nhà vua làm theo yêu cầu của cậu bé làng Gióng. Bao nhiêu thế hệ tuổi thơ Việt Nam đã tiếp nhận và tin tưởng điều đó như một chân lý bất di bất dịch. Nghệ thuật truyện cổ viết lại cho phép nhà văn sáng tạo, nhào nặn cốt truyện trên tinh thần thời đại mình. Trên nhận thức đó, Phạm Hổ đã viết Ngựa thần từ đâu đến mang lại cho bạn đọc nhỏ tuổi hôm nay một lời giải thích mới. Trong cảm hứng chung của văn học cách mạng, Phạm Hổ đã xây dựng hình tượng Ngựa thần với tư cách là sản phẩm của lòng yêu nước của nhân dân. Đọc ông, các em sẽ thấy một nhân dân chủ động “chẳng ai đòi, ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình” (Nguyễn Đình Chiểu) khi đất nước có ngoại xâm. Câu chuyện bắt đầu từ việc hai cha con ở một vùng núi xa xôi quyết định đưa ngựa hồng về xuôi cho Thánh Gióng ra trận. Chú ngựa hồng sau khi bị giết đã hóa thành ngựa đất, rồi nhờ giọt máu của cụ già, nhờ ăn sắt uống lửa của nhân dân mà trở thành Ngựa thần. Mạch truyện diễn tiến qua nhiều biến cố, tình huống hấp dẫn để cuối cùng là sự hiện diện của một hình tượng kỳ vĩ, lộng lẫy:

“Ngựa nhỏ bây giờ mới cúi chào năm cụ già, cúi chào bà con các vùng gần xa vừa mang sắt đến, rồi sau khi đĩnh đạc gõ bốn vó xuống đất, ngựa bay vút đi, bay lên cao dần rồi từ từ đáp xuống đứng ngay trên đỉnh đồi sắt đang đỏ hồng và lặn biến vào đó. Trong chớp mắt, cả cái khối đỏ hồng cao lớn, sáng rực ấy bỗng cựa quậy, cựa quậy rồi kéo dài ra thành một con ngựa sắt cao lớn mắt người chưa nhìn thấy bao giờ”. Như tên gọi, tác phẩm chỉ tập trung khắc hoạ hình tượng ngựa thần nhằm mục đích đề cao lòng yêu nước của nhân dân qua một câu chuyện lung linh kỳ ảo, hư thực đan xen đầy sức mê hoặc tuổi thơ. Viết Ngựa thần từ đâu đến, Phạm Hổ còn giúp các em cảm nhận một vẻ đẹp khác của Ngựa thần. Đó là lòng tri ân.

“Khi bay lên đỉnh núi Sóc Sơn, ngựa sắt quay nhìn xuống xóm làng bên dưới nói với Thánh Gióng:

- Ngựa sắt này xin gửi trả lại và trả lại gấp đôi những ngọn lửa mà bà con đã cho ngựa sắt mang đi cùng Thánh Gióng dẹp giặc.

Nói xong, Ngựa sắt bay một vòng rất rộng rồi phun dài những ngọn lửa thật ấm, thật đẹp, thật hồng, thật sáng, trả lại cho bà con”.

Như vậy, từ một hình tượng được giới thiệu rất khái quát trong truyền thuyết dân gian, nhà văn Phạm Hổ đã phát triển, xây dựng thành một hình tượng nghệ thuật trọn vẹn, khuyến khích bạn đọc tuổi thơ những kiếm tìm, khám phá, cắt nghĩa các giá trị dân gian tưởng đã ổn định, bất di bất dịch. Chúng tôi nghĩ, đây mới thực là điều quan trọng trong sáng tác nghệ thuật cho thiếu nhi.

2.2. Lửa vàng, lửa trắng Lửa vàng, lửa trắng, lửa nâu có dáng dấp của loại truyện viết tiếp. Trong trường hợp này, nhà văn chỉ dựa vào kết thúc (truyện dân gian) rồi viết một truyện mới trên cơ sở đảm bảo tính lôgic về sự phát triển của nội dung câu truyện. Phạm Hổ cho rằng, viết loại truyện này rất khó, vì “truyện đã có trước thường lúc nào cũng là truyện hay hoặc rất hay. Vậy thì cái phần ta nghĩ ra để kể tiếp cũng phải làm sao cho xứng với truyện đã có trước. Nếu không thì sẽ thất bại đau đớn”. Cho đến nay, trong phạm vi văn học thiếu nhi, gần như chỉ có Phạm Hổ “dấn thân” vào loại truyện viết tiếp này. Ngoài thử thách nghệ thuật như nhà văn đã nói, còn có điều này: truyện cổ dân gian thường kết thúc theo lối giải quyết dứt điểm sự việc, thông báo rõ ràng số phận nhân vật. Vậy nên, ít có những kết truyện mở cho những sáng tạo tiếp theo. Trường hợp Trí khôn của ta đây - cơ sở của Lửa vàng, lửa trắng và Lửa vàng, lửa trắng, lửa nâu là khá đặc biệt. Truyện không kết thúc bằng việc bác nông dân giết chết hổ, hổ chỉ bị thương và chạy về rừng. Kết thúc này, theo chúng tôi không đơn giản chỉ để phục vụ nội dung giải thích đặc điểm tự nhiên của loài vật (đường vằn trên thân hổ, trâu không có hàm răng trên) mà sâu xa, thể hiện triết lí về cuộc đấu tranh giữa con người với tự nhiên. Với tư cách một hình tượng nghệ thuật, nhân vật hổ trong truyện được xem tượng trưng cho phần tự nhiên hung dữ, luôn tìm cách loại bỏ sự tồn tại của con người. Con người nhờ có trí khôn mà vượt lên muôn loài. Bởi vậy, trí khôn trở thành tấm giấy thông hành để con người bước lên ngôi vị chúa tể vũ trụ. Trong quá trình tồn tại của mình, cong người luôn phải đối mặt với tự nhiên. Đây là quá trình đấu tranh lâu dài, liên tục với sự tham gia của nhiều thế hệ. Phạm Hổ đã nhận ra cái ý nghĩa sâu xa này của tác phẩm và đã viết Lửa vàng, lửa trắng rồi Lửa vàng, lửa trắng, lửa nâu nhằm tiếp tục tô đậm tinh thần triết lý dân gian. Trong tác phẩm của Phạm Hổ, nhân vật chính sẽ là Hổ con (Lửa vàng, lửa trắng), Báo (Lửa vàng, lửa trắng, lửa nâu) và người con trai bác nông dân. Câu chuyện của  nhà văn được triển khai bắt đầu từ việc Hổ sau khi thoát chết về rừng vẫn tiếp tục tìm cách trả thù con người. Hổ ra công nuôi dạy Hổ con, hy vọng Hổ con sẽ đoạt được trí khôn của con người. Nhưng rồi, Hổ con lại một lần nữa, bị người con trai bác nông dân lập mưu, trừng trị bằng thứ lửa màu trắng (vôi sống đổ vào nước). Loài Hổ bị trừng trị nhưng ở rừng, ác thú còn có những kẻ khác. Truyện Lửa vàng, lửa trắng, lửa nâu tiếp tục đem đến cho các em câu chuyện thú vị về việc người con trai bác nông dân dùng thứ lửa màu nâu (nươc đường đun sôi) làm cho Báo “toác cả họng, xẻ cả mồm ra”… Từ Trí khôn của ta đây đến Lửa vàng, lửa trắngLửa vàng, lửa trắng, lửa nâu mạch truyện phát triển một cách tự nhiên, chủ đề tư tưởng được triển khai đến tận cùng, sáng rõ. Ở đây, cần ghi nhận, với hai tác phẩm của mình, Phạm Hổ đã nâng hình ảnh ngọn lửa thành một biểu trưng về trí tuệ của con người. Lời người con trai bác nông dân: “Còn loài ác thú nào muốn cướp đoạt lấy trí khôn của ta thì  vẫn luôn luôn còn có những thứ lửa mới để trị nó… Có thể là thứ lửa màu xanh, mà cũng có thể là lửa màu tím. Có thể là lửa màu đá núi, mà cũng có thể là lửa màu cây rừng…” thể hiện rõ cái tinh thần ấy.

Cũng cần nói thêm, khi viết Lửa vàng, lửa trắngLửa vàng, lửa trắng, lửa nâu, Phạm Hổ không quên mở rộng nội dung giải thích đặc điểm tự nhiên của các con vật. Cụ thể, mảng lông màu trắng dưới bụng Hổ, Mèo vì sao ngủ ở bếp, còn Trâu vì sao hàm răng trên vĩnh viễn không mọc nữa. Cách giải thích thú vị, như với trường hợp của Trâu: “Trâu thì cười ngặt nghẽo, cười đến mức va cả miệng vào đất, vào đá, làm rụng cả hàm răng mới mọc lại, sau những lần cười trước (và từ đó thì răng Trâu mới không bao giờ mọc lại nữa)”. Ẩn sau câu văn là cái dí dỏm của người viết và trước trang sách này hẳn bạn đọc nhỏ tuổi có được tiếng cười thích thú…


3.
Chúng tôi đã có dịp nhắc đến một số cây bút cùng thời với Phạm Hổ như Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng. Đó là những tác giả rất thành công với những tác phẩm truyện cổ viết lại. Hướng đi của Tô Hoài qua Đảo Hoang, Nỏ thần Nhà Chữ là tiểu thuyết hoá cốt truyện dân gian. Vì vậy, các tác phẩm của Tô Hoài đều có tính “quy mô”, với việc nhà văn bổ sung nhiều nội dung mới. Nguyễn Huy Tưởng khai thác nguyên vẹn một phần (An Dương Vương xây thành Ốc) hay toàn bộ cốt truyện dân gian (Truyện bánh chưng, Con Cóc là cậu ông Giời) và phát triển các chi tiết trong khuôn khổ một truyện ngắn. Vì vậy, ngòi bút của nhà văn có sự tiết chế, chừng mực trong miêu tả tâm lí nhân vật, miêu tả thiên nhiên… Lối đi riêng của Phạm Hổ vẫn nằm trong khuôn khổ hệ thống truyện cổ viết lại, vẫn giữ mối quan hệ chặt chẽ với nguồn truyện kể dân gian. Một chút so sánh như vậy, vừa để thấy được bản sắc ngòi bút Phạm Hổ, vừa để thấy được sự đa dạng trong nghệ thuật truyện cổ viết lại cho thiếu nhi. Và văn học dân gian mãi còn là một đề tài hấp dẫn cho những ai yêu mến thiếu nhi, yêu mến thời thơ ấu của mình dấn thân vào cuộc phiêu lưu có tên là KHÁM PHÁ.

Tháng 8-2007

(TC Nha Trang)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác