Những nhân vật nữ trong thơ Nguyễn Duy


(Toquoc)- Nói đến Nguyễn Duy, người đọc thường bị ngợp bởi quá nhiều ý tứ được gợi mở. Chỉ riêng những phát hiện hình ảnh mới mẻ trong cái vỏ cũ kĩ hàng ngày quen mắt cũng đã đủ làm khối người hả hê rồi. Nào là những: Nòi tre đâu chịu mọc cong/ Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường (Tre Việt Nam); hay: Rơm vàng bọc tôi như kén bọc tằm/ Tôi thao thức trong hương mật ong của ruộng (Hơi ấm ổ rơm); Ngẩng đầu đưa khói vào mây/ nghênh ngang hiền triết điếu cày thăng thiên (Thuốc lào)… đã đủ nức tiếng. Nhưng đa dạng, phong phú đến chừng nào cũng phải là sự minh chứng cho một triết lí, xoay quanh một ý niệm về cái đẹp. Vậy mà với thơ ông, mỗi bài là một trường hợp đột phá như vậy thì liệu có tìm được một mẫu số chung không? Câu hỏi đó cũng chính là hành trình đi tìm một quan niệm xuyên suốt các sáng tác của Nguyễn Duy.

Gạt bỏ những ám ảnh quen thuộc, ta thử hình dùng về những ấn tượng “lạ” nhất ở thơ ông. Là nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, từng trải trong những năm hậu chiến tranh, kinh qua thời đổi mới như một đại diện xuất sắc và hình như đang lắng nghe thật kĩ những rung động đầu thế kỉ mới để “nhả đạn”. Sống qua mọi biến động ấy nhưng cái nhìn của ông về con người hình như lại bất động. Nếu ai đó chưa thật tin thì thử làm một thống kê nho nhỏ. Trong chiến tranh, giữa cái cấp bách, tức thời vẫn trầm tính “găm” lại trang viết cái ám ảnh đời thường điềm tĩnh như thể muốn giữ lại cho mai sau của thái bình trường cửu. Bởi thế mà chiến tranh vẫn hiện lên: Trường sơ tán rồi, cô giáo còn chốt lại/ khẩu súng thép chéo lưng con gái/ ôi tấm lưng kia ngỡ sinh ra để mà mềm mại (Dạ hương). Sao chẳng ai giống ai nhìn ra khí phách, tinh thần hay ngả sang bên kia là vẻ đẹp của dũng khí kiểu “hồng trang”. Với Nguyễn Duy mọi thứ hình thức đều được giản lược chỉ còn là nét chấm phá về thân phận con người. “Lưng con gái” đã chốt lại cây súng thép chữ không phải một tấm khăn choàng kiều diễm, một vòng tay ấp áp của hạnh phúc. Khẩu súng thép như cái gạch chéo xóa sổ những mộng mơ, nữ tính, những nũng nịu của cô gái thời chiến tranh bất ngờ. Là khi anh viết về thế giới thần linh cũng náu trong cái vỏ tếu táo bông đùa của cái thời cơm bụi, bia cỏ ngắm xã hội chuyển mình mà giễu nhại:

Bom Mỹ dội, nhà bà tôi bay mất

đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền

thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết

bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn

 

Tôi đi lính, lâu không về quê ngoại

dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi

khi tôi biết thương bà thì đã muộn

bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi!

(Đò Lèn)

Trong thời cuộc ấy, khi chỉ nghĩ đến lằn ranh giới chiến tuyến, nghĩ đến ta-địch, sống-chết, thắng-bại… liệu mấy ai còn để ý “thánh, phật”, có nhớ đến hẳn cũng chẳng đủ tĩnh tâm nhìn ra cái số phận đời thường của các đấng siêu nhiên chẳng thể kham nổi việc trần ai mà “rủ” nhau lánh nạn. Nhưng khi hai cái bóng siêu nhiên mờ dần ấy là tượng đài trần tục của bà. Bà cũng chỉ như xưa, vẫn kiếp trần ai xưa, như giời đày gian nan quẩy gánh lo toan số phận mà sao can đảm như thế? Bất diệt như thế và ham sống đến thế? Đưa những đức siêu nhiên về với độ đo của thảo dân, Nguyễn Duy tự để người đọc thấu tỏ cái nhân văn trong lòng mình.

Displaying grag.jpg

Thời chiến chinh là vậy, trở về với đời thường của những lo âu mắm, muối, tương, cà… Nguyễn Duy vẫn giữ được cái nết cũ ấy là nhìn ra cái giá trị cốt lõi lành lặn trong cái vỏ ngoài dẫu có nhàu nát, nhếch nhác của thiếu thốn lo toan:

Áo mưa vợ dương cánh buồm giữa phố

chồng với con mấp mé một thuyền đầy

năm tháng bão giông sang sông lũ đổ

một tay em chèo chống ngày ngày ngày...

 

Con chữ vụn rụng rời tơi tả tuốt

ngoảnh lại còn ta con nít đến già

rồi một ngày mẹ Đốp cười móm mém

em vẫn nguồn nhuận bút suốt đời ta

(Nợ nhuận bút)

Giống ông Tú xưa ở cái điểm trực diện với hiện thực, vượt qua những định kiến vị thế xã hội mà phác thảo một diện mạo cuộc sống. Nhưng với Nguyễn Duy, giá trị nhân văn không đơn giản chỉ có tôn vinh mà còn là sự chua chát: chồng con nít đến già, còn người vợ đã già tự lúc nào chẳng hay; ở cách nói tếu táo suốt đời nợ nhuận bút vợ, người làm thơ, người viết nên chính cuộc đời này bằng cơm áo suốt ngày ngày khó nhọc chứ đâu bông phèng như chữ nghĩa.

Từ những ấn tượng trong thơ Nguyễn Duy ấy, đọc thêm những thi phẩm khác, những trường hợp cảm xúc, ý tứ khác, chợt nhận ra con người trong thơ Nguyễn Duy đẹp bằng cái giá của sự mất mát được lập ngôn bằng một giọng đa thanh. Cô vợ trong bài thơ vừa nêu đảm đang, tài giỏi thật nhưng hiện lên đẹp nhất là khi đã “móm mém”. Người vợ ấy ở một lần khác vắng bóng để người chồng “Mình anh nguyên thủ tanh bành quốc gia”, mới thấy được vai trò của vợ hàng ngày “Nghìn tay nghìn việc không tên” nhưng cũng là khi vỡ đã đổ bệnh “năm tròn”. Người bà trong Đò Lèn được “thương” khi “chỉ còn là một nấm cỏ thôi”. Cô gái miền Tây Nam Bộ đẹp can trường đi “vớt vát lúa trời” can trường trong lụt lội nhưng cũng bi thương khi “em loay hoay giữa bốn bề thủy tinh”.

Những nhân vật nữ ấy trong thơ Nguyễn Duy cũng đôi khi không hiện lên rõ nét với những mất mát, đau thương. Ấy là khi thi nhân luận về cái đẹp trong Nét và hình (em thần nhan sắc trời sai giáng trần); trong Bất chợt (đem nhan sắc tặng cho nhau/ em đem cái đẹp giăng cầu ban mai) nhưng ngẫm ra cái đẹp ấy cũng phận bạc lắm, bởi thế nên cũng là (chia không hết đẹp ông trời ấy đi/ nét và hình cũng có thì- Nét và hình). Nhưng không phải vì thế mà cái đẹp trở nên bi lụy bởi vì “khắc chế cái Khổvượt lên cái Khổ đó chính là cái Đẹp” (TS. Chu Văn Sơn) mới đúng chất và giọng của Nguyễn Duy, nhà thơ viết về cái đẹp, nói với người đọc về cái đẹp sòng phẳng và chân thật.

Bùi Việt Phương

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác