Những khai mở trong “Nhớ rừng” của Thế Lữ

Bài thơ viết ngay sau 1930, ngay sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Bái và những cuộc nổi dậy khác, khiến nhiều nhà cách mạng, nhiều chiến sĩ yêu nước đã bị chính quyền tay sai tàn sát, bắt bớ giam hãm vô cùng tàn bạo. Thi sĩ lãng mạn Thế Lữ bỗng trở thành nhà thơ Thời sự.

Nếu xét theo thủ tục (có hơi nặng về số lượng tác phẩm) để kết nạp Hội viên các Hội nhà văn từ địa phương đến trung ương hôm nay, thì có lẽ đến một nửa thi sĩ trong Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh- Hoài Chân thời 1930-1940 sẽ phải chờ rất lâu mà vẫn có thể chưa được vào Hội!

Những khai mở trong “Nhớ rừng” của Thế Lữ  - ảnh 1Với Thế Lữ cũng nhiều khó khăn trong việc trở thành Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Nếu xét Mấy vần thơ, kể cả tập cũ 1935, tập mới 1937 thì đúng là chỉ có… mấy vần trong một cuốn sách đóng kẹp chứ không có… gáy! Chỉ có thể an ủi theo cách nói hay nghĩ của Chế Lan Viên sau này: Tôi cần anh hát lên chứ đâu cần anh gáy làm gì.

Thế nhưng với con mắt xanh tri kỷ và với một tinh thần can đảm của người bình luận văn chương, cái Mấy vần thơ lèo tèo ấy đã được Hoài Thanh reo lên, đại ý: “Độ ấy thơ mới vừa ra đời, Thế Lữ như ngôi sao đột ngột sáng chói cả trời Việt Nam… Thế Lữ đã dựng thành nền thơ mới ở xứ này… Thế Lữ không bàn về thơ mới, không bênh vực thơ mới, không bút chiến, không diễn thuyết. Thế Lữ chỉ lặng lẽ, chỉ điềm nhiên bước những bước vững vàng mà trong khoảnh khắc cả hàng ngũ thơ xưa phải tan vỡ. Bởi lẽ không có gì khiến người ta tin ở thơ mới hơn là đọc những bài thơ mới hay! (Thi nhân Việt Nam 1941)

Cũng là trăng, cũng là suối, là mưa, là nắng, là bình minh, là chim ca và đôi khi vẫn vương vấn chút đối đáp biến ngẫu nào đó, nhưng cái tổng thể, toàn thân mới mẻ thì đã rất khác với  mọi mạch thơ xưa ở thời điểm cáo chung của nó đầy giả định, ước lệ. Với Thế Lữ cảnh sắc tràn ngập và huy hoàng:

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối

Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan

Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn

Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới

Đâu những bình minh cây xanh nắng gội

Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?

Cái tràn ngập và huy hoàng này còn tràn từ Nhớ rừng sang Cây đàn muôn điệu:

Cảnh vĩ đại sóng nghiêng trời, thác ngàn đổ

Nét mong manh, thấy thoáng cánh hoa bay.

Ồ thì ra cái sự cách tân, đổi mới, xem ra bao giờ cũng bắt nguồn từ tinh thần thời đại, từ sức cảm, sức nghĩ, từ nội lực thi sĩ thâm hậu tuôn trào, chứ không phải từ đôi ba mẹo tu từ, hay là sự bắt chước sống sượng những trường phái ngoại lai nào đó. Áo mới khác áo nhuộm. Lại càng khác với áo vá vặn vẹo, loè loẹt, xanh đỏ tím vàng. Dù là vá bằng… gấm!

Luận về sự thất thế của các anh hùng, vốn là một đề tài đã hàng ngàn năm cuốn hút thơ. Cái tứ Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn vốn là từ Nguyễn Du và có thể trước nữa. Nhưng cái nỗi đau ấy mỗi thời đại mỗi khác. Thế Lữ đã có thể hầu chuyện với Nguyễn Du để bổ sung nhiều điều trong đương đại và cả hậu thế:

Khinh lũ người kia ngạo mạn ngẩn ngơ

Giương mắt bé giễu oai linh rừng thẳm

Nay sa cơ, bị nhọc nhằn tù hãm

Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi

Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi

Với cặp báo chuồng bên vô tư lự.

Thật là điên khi chống lại quy luật của vũ trụ, tự nhiên, trời đất. Lại càng điên hơn khi cố tình mô phỏng để lừa dối cả sự “oai linh rừng thẳm” và “giấc mộng ngàn to lớn” của những khát vọng cao cả:

Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu

Ghét những cảnh không đời nào thay đổi

Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối

Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng

Dải nước đen giả suối, chẳng thông dòng

Len dưới nách những gò mô thấp kém…

Bài thơ viết ngay sau 1930, ngay sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Bái và những cuộc nổi dậy khác, khiến nhiều nhà cách mạng, nhiều chiến sĩ yêu nước đã bị chính quyền tay sai tàn sát, bắt bớ giam hãm vô cùng tàn bạo.

Thi sĩ lãng mạn Thế Lữ bỗng trở thành nhà thơ Thời sự.

Thời sự đã thành thời đại và bước vào bất tử bởi một nội lực, một bản lĩnh, một tài năng giàu khát vọng cách tân, không chỉ cho thơ ca!

Là kẻ hậu sinh và cũng là bạn đọc của thơ ông, hơn 20 năm trước, mặc dầu còn nhiều vụng dại, tôi đã viết và in mấy vần về ông:

Có thể là đã vút nẻo thiên thai

Hay trở về oai linh rừng thẳm cũ

Ta vẫn thấy bóng ai suốt dặm trường lữ thứ

Áo phong sương và quán trọ ven đường

Sáng tạo bao giờ cũng hàm nghĩa cách tân. Cách tân trong thơ cũng có một hành trình liên tục, nhất là ở một nước mà văn tự đã phải trải qua ít nhất là ba giai đoạn: Hán tự, chữ Nôm và Việt ngữ la tinh thì sự liên tục này hẳn không ít gian lao. Nó đòi hỏi người sáng tạo và cố nhiên cả người bình luận, thẩm định, thưởng thức nhiều can đảm, trí tuệ. Và Thế Lữ đã làm được điều đó.

Trần Ninh Hồ

 

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác