Nhìn nhận văn học dân tộc thiểu số như thế nào cho đầy đủ

Dương Thuấn

Ngay từ buổi đầu ra mắt Hội Nhà văn Việt Nam vào năm 1957 đã có các nhà văn dân tộc thiểu số tham gia và họ đồng thời cũng là những người sáng lập. Kể từ đó đến nay cùng với sự lớn lên của Hội Nhà văn Việt Nam, đội ngũ các nhà văn dân tộc thiểu số cũng không ngừng được trưởng thành. Thế hệ sau kế tục thế hệ trước cùng nhau gây dựng, vun đắp cho văn học của các dân tộc thiểu số cũng như văn học chung của cả nước.

Sau 50 năm ngoái lại nhìn vào khoảng thời gian đã đi qua, các dân tộc thiểu số có quyền tự hào rằng họ đã có đội ngũ các nhà văn của họ. Các nhà văn của nhiều dân tộc đã đem đến cho vườn văn chương đất Việt nhiều hương sắc khác nhau. Và ngày nay những ai muốn tìm hiểu về Văn học Việt Nam cũng đều thấy rằng không thể bỏ qua văn học của các dân tộc thiểu số. Bởi nó đã đạt được những thành tựu đáng kể, không những thế văn học dân tộc thiểu số còn chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của cả cộng đồng người Việt Nam. Nó được ghi nhận như một mảng sống tâm linh của tất cả mỗi người, mỗi gia đình. Văn học dân tộc thiểu sổ ngày càng trở nên không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt văn hoá tinh thần của người dân cả nước.

Độc giả nước ta hôm nay đã trở nên quen thuộc với nhiều tên tuổi nhà văn nhà thơ người dân tộc thiểu số, không chỉ thế mà với độc giả miền xuôi còn biết thêm cách thưởng thức tác phẩm của các tác giả miền núi. Đi cùng với các tên tuổi quen thuộc đó là những tác phẩm văn thơ được các tác giả dân tộc thiểu số sáng tác bằng tiếng dân tộc hoặc song ngữ, hoặc bằng tiếng phổ thông và được mọi nơi biết đến.

Một số hội viên Hội Nhà văn bạn đọc quen biết hiện nay là người dân tộc thiểu số, có thể kể. Dân tộc Tày: Triều Ân, Vi Thị Kim Bình, Ma Trường Nguyên, Y Phương, Mai Liễu, Hà Lâm Kỳ, Triệu Lam Châu, Lương Định, Nông Thị Ngọc Hòa, Hữu Tấn, Bùi Thị Như Lan. Dân tộc Thái: Vương Trung, Sa Phong Ba, La Quán Miền. Dân tộc Nùng: Mã Thế Vinh, Lâm Tiến, Hoàng Quảng Uyên. Dân tộc Mường: Vương Anh, Hà Thị Cẩm Anh, Đinh Đăng Lượng. Dân tộc Ê đê: Y Điếng, Linh Nga Niêk Đăm. Dân tộc Ba Na: Nay Nô, Kim Nhất. Dân tộc Mông: Mã A Lềnh, Hùng Đình Quý. Dân tộc Dao: Bàn Tài Đoàn, Triệu Kim Văn. Dân tộc Giấy: Lò Ngân Sản. Dân tộc Chăm: In Ra Sa Ra. Dân tộc Hơ Rê: Hơ vê Nga. Dân tộc Pa Dí: PỜ Sảo Mìn. Dân tộc Hoa: Dư Thị Hoàn...

Ngoài ra còn một số cây bút đang dồi dào sức sáng tạo, họ đúng nghĩa thực sự tạo nên chất men say mới cho văn học dân tộc thiểu số hôm nay. Mỗi tác phẩm của họ đều mang hơi thở của cuộc sống hiện tại và hơn hẳn các thế hể trước là ngay từ lần đầu bước vào làng văn đã không hể rón rén mà chững chạc đàng hoàng. Những người như thế là Dương Khâu Luông, Vi Thuỳ Linh (Tày), Bùi Tuyết Mai (Mường).., Mỗi người họ chí ít đã có vài ba tập sách, bản tính tự ti mặc cảm vốn có người dân tộc thiểu số trước đây đã hoàn toàn trở nên xa lạ đối với họ. Đó cũng là điểm đáng mừng của văn học dân tộc thiểu số, bởi phải có trình độ văn hoá phát triển tương đối ngang nhau thì mới tiến tới bình đẳng thật sự giữa các dân tộc.

Càng ngày đội ngũ nhà văn dân tộc thiếu số nước ta xuất hiện càng nhiều, thế hệ sau đông hơn thế hệ trước. Những người xuất hiện về sau viết nhiều tác phẩm hơn và được độc giả quan tâm hơn. Bởi vì họ được học hành có bằng cấp tử tế, một số người đã tốt nghiệp Trường Viết văn Nguyễn Du. Do có kiến thức và sự hiểu biết về văn hóa rộng rãi cho nên nghệ thuật viết của họ cũng tỏ ra sắc sảo và điêu luyện hơn. Những cái thô sơ, mộc mạc, ngô nghê đến nực cười của thời trước bây giờ đã bị mất đi. Những thứ đó chỉ gây cho người đọc cảm giác ban đầu về tác giả là người dân tộc thiểu số, chứ không hề thể hiện được tâm hồn dân tộc... Có được sự thay đổi quan trọng đó là do sự tự thân các tác giả sau này luôn vận động làm cho văn học không ngừng đổi mới. Điều đó cũng chứng tỏ thế hệ sau này đã nhận thức lại đúng đắn hơn về thời kỳ đầu của văn học viết về dân tộc miền núi sau cách mạng. Cái hay đâu phải là sự ngờ nghệch và ngô nghê. Mà cái hay phải là ở chỗ nghệ thuật điêu luyện. Văn chương phải là nghệ thuật của ngôn từ và sự thể hiện nhuần nhuyễn các giá trị triết học, tư tưởng...

Đâu là phát huy bản sắc dân tộc? Đâu là thể hiện tính hiện đại trong thơ? Tất cả những  đều đó đã được biểu hiện rất rõ trong thơ dân tộc thiểu số trong thời gian vừa qua. Đã có không ít sinh viên khoa văn các trường đại học làm luận văn tốt nghiệp ra trường và rất nhiều nghiên cứu sinh làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ và tiến sĩ về các nhà thơ dân tộc thiểu số xuất hiện sau 1975. Tuy nhiên việc nghiên cứu văn học dân tộc thiểu số trong nhiều năm qua vẫn chưa được tiến hành một cách bài bản và đầy đủ. Nay Viện văn học thành lập Phòng nghiên cứu văn học dân tộc thiểu số sẽ đủ điều kiện tốt hơn để giúp cho những người cần tìm hiểu, nghiên cứu. Đây cũng sẽ là cơ sở để giới thiệu văn học dân tộc thiểu số với độc giả trong nước và nước ngoài. Trong những năm qua, lượng tác phẩm của các tác giả dân tộc thiểu số được in ra rất đáng kể, số giải thưởng giành được cũng không phải là ít, tuy nhiên việc giới thiệu ra nước ngoài chưa được bao nhiêu. Số tác giả tác phẩm đưa vào nhà trường để giảng dạy cho học sinh cũng còn rất hạn chế...

Điều khó khăn nhất của các nhà văn dân tộc thiểu số hiện nay là các tác phẩm sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ không biết in ở đâu. Hầu hết họ đều có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, không đủ điều kiện kinh phí đầu tư cho việc in ấn. Còn về phía các cơ quan in ấn của Nhà nước, cụ thể như Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc cũng rất thiếu người biên tập tiếng dân tộc. Một số tập thơ và một vài tuyển tập bằng tiếng dân tộc do nhà xuất bản Văn hóa dân tộc in ra, có điều rất trớ trêu là người đứng tên biên tập không hề biết tiếng dân tộc. In sai hay in đúng không ai biết, người sửa bản in cũng không biết. Các cơ quan hữu trách từ lâu đã buông lơi việc xuất bản tác phẩm văn học bằng tiếng dân tộc. Tôi thường nhận được nhiều thư của các tác giả từ các tỉnh gửi về hỏi in tác phẩm tiếng dân tộc và song ngữ ở đâu, tại sao người không biết tiếng dân tộc vẫn biên tập được sách tiếng dân tộc... Những câu hỏi đại loại như thế thì thật là khó trả lời cho họ. Trong số những người quan tâm đến điều đó không chỉ là các nhà văn, nhà thơ mà có cả các thầy cô giáo, các em học sinh trong các trường dân tộc nội trú... Nhân bài viết này tôi muốn gửi đến các nhà vãn, nhà thơ dân tộc thiểu số lời an ủi là chớ nản lòng khi thấy tác phẩm của mình chưa được in. Tôi cũng muốn gửi đến các cơ quan Nhà nước và các tổ chức xã hội lời thỉnh cầu hãy quan tâm giúp đỡ các tác giả viết tiếng dân tộc xuất bản tác phẩm bằng tiếng dân tộc để đưa tác phẩm đến tay bà con để bà con được đọc, đừng để bà con phải mãi cam chịu cảnh thiệt thòi.

Tôi nghĩ, văn học dân tộc thiểu số được đông đảo bạn đọc biết đến trong những năm qua mới chỉ là phần được viết bằng tiếng Vệt và một phần rất ít đã được dịch sang tiếng Việt Còn phần lớn tác phẩm viết bằng tiếng dân tộc chưa được dịch, bạn đọc chưa được biết tới còn chiếm một tỉ lệ rất đáng kể. Vừa qua Hội Văn nghệ Bắc Kạn và Nhà xuất bản  văn hóa dân tộc liên kết in cuốn Ngoảc đếnh (Ngoảnh lại nhìn) (2006) tập thơ tiếng Tày của Nông Viết Toại. Tập thơ đó có nhiều bài viết từ thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Tôi hoàn toàn bị bất ngờ vì ông viết rất hay, một số bài tôi đã được nghe và thuộc lòng từ khi còn nhỏ mà lâu nay không biết tác giả là ai. Gặp Nông Viết Toại, tôi hỏi thơ ông hay thế mà tại sao lâu nay không in. Ông cho biết là do không có nơi nào in tiếng dân tộc. Vừa rồi tôi đã giới thiệu tập thơ đó cho Hội Văn học Nghệ thuật dân tộc thiểu số trao một tặng phẩm đặc biệt với trị giá 3 triệu đồng. Còn cuốn Văn học chữ Hán của dân tộc Tày (2006) của nhà thơ Triều Ân sưu tầm biên soạn rất có giá trị nhưng phải nhờ đến Trung tâm nghiên cứu Quốc học ở thành phố Hồ Chí Minh tài trợ thì mới được ra mắt bạn đọc...

Chúng ta thường quen nhấn mạnh những mặt đã làm được nhưng thực tế Hội Nhà văn Việt Nam cũng còn nhiều việc cần làm, nếu quên đi những mặt còn tồn tại từ đó nhìn nhận chưa đúng về văn học dân tộc thiểu số sẽ là khiếm khuyết. Để làm sao trong những năm tới, văn học của các dân tộc thiểu số và văn học chung cả nước có điều kiện cùng phát triển hài hòa là một việc làm cần thiết.

Từ khi thành lập Hội Nhà Văn Việt Nam đến nay, đã có hơn một chục nhà văn dân tộc thiểu số là hội viên đã bị mất đi. Đó là Nông Minh Châu, Nông Quốc Chấn, Vi Hồng, Hoàng Hạc (Tày); Cầm Biêu, Hoàng Nó, Lương Quy Nhân, Lò Văn Cậy, Lò Văn Mười (Thái); Đinh Sơn (Mường)...

Ngoại trừ dân tộc Tày đã có nền văn học viết bằng chữ Hán từ thế kỷ thứ IV, có nhà thơ Hoàng Đức Hậu sáng tác bằng tiếng Tày từ trước 1945, còn lại hầu hết các dân tộc thiểu số trước cách mạng đều chưa có văn học bác học. Dân tộc Thái nói là có tác giả Ngần Văn Hoan nhưng con người và tác phẩm của ông cũng chỉ được truyền miệng trong dân gian chứ chưa tìm được văn bản nào ghi lại.

Trong khoảng 50 năm qua, văn học các dân tộc thiểu số đã thực sự phát triển, không những về đội ngũ và nội dung, nghệ thuật, thể loại tác phẩm mà còn phát triển trên cả diện rộng vùng miền. Con người và cuộc sống miền núi đã được văn học đề cập ở nhiều khía cạnh phức tạp, đa dạng... Tuy nhiên để nhìn nhận và đánh giá văn học các dân tộc thiểu số đầy đủ hơn góp phần phát triển nền văn học chung một cách hoàn thiện hơn đang là vấn đề cần phải đặt ra.

 

(Văn nghệ)

 

 

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác