Nhìn lại một số giải thưởng VHNT địa phương (5)

(Toquoc)- Xin điểm lại một số giải thưởng thu hút sự chú ý của công chúng, xuất hiện lần đầu trong khoảng 10 trở lại đây hoặc những giải thưởng đã có trước năm 2000 nhưng thời gian sau đó đã được điều chỉnh lại về thời gian xét giải thưởng, hay có thay đổi mang tính bước ngoặt trong cơ cấu giải thưởng.

Giải thưởng của Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) được tổ chức trao tặng lần đầu năm 2006. Giải thưởng này dành trao tặng cho các tiểu thuyết và tập truyện xuất bản hằng năm, năm sau xét giải năm trước. Năm 2006, giải thưởng được trao cho các tập Là mình (thơ) của Lý Lan, thông non và em trăng sương mù (thơ) của Trần Hữu Dũng; các tập Không dám tắt đèn (thơ) của Ánh Huỳnh, Cõi mê (tiểu thuyết) của Triệu Xuân, Người đàn bà bơi trên sóng (truyện ngắn) của Bích Ngân được trao tặng thưởng. Không có tác phẩm lí luận - phê bình được trao thưởng. Năm 2007 không có giải thưởng chính thức nào được trao, trong cơ cấu giải thưởng hằng năm chỉ có các Tặng thưởng dành cho Lê Thiếu Nhơn (tập thơ Trong bóng người xưa) và Liêm Trinh (tập truyện ngắn Mỹ nhân ngư). Năm 2008, Hội Nhà văn TP.HCM trao giải thưởng cho tập truyện thiếu nhi Tôi là Bêtô của Nguyễn Nhật Ánh và tập thơ Hát thơ của Thanh Nguyên; tặng thưởng được trao cho tiểu thuyết Sự trở lại của vết xước của nhà văn Trần Nhã Thụy và tập thơ Cơn ngạt thở tình cờ của Trần Lê Sơn Ý. Năm 2009, giải thưởng văn học của Hội Nhà văn TP.HCM được trao cho Tiểu thuyết đàn bà (tiểu thuyết) của Lý Lan và Ra ngoài ngàn năm (thơ) của Trương Nam Hương; Hội Nhà văn TP.HCM không trao Tặng thưởng, nhưng không phải vì không chọn được tác phẩm nào mà do… Hội thiếu kinh phí. Sau ba năm tổ chức trao thưởng, năm 2009 Hội Nhà văn TP.HCM quyết định bổ sung thêm vào hệ thống giải thưởng thường niên: Giải thưởng Nhà văn trẻ. Dự kiến giải thưởng này chỉ trao cho các tác giả từ 30 tuổi trở xuống, “có tác phẩm dự thi đạt số phiếu quá bán ở vòng chung khảo nhưng bị loại khỏi thứ hạng cao nhất của giải thưởng Hội Nhà văn TP.HCM”; “nếu có tác giả trẻ dưới 30 tuổi đoạt giải cao nhất của giải thưởng Hội Nhà văn TP.HCM, thì giải thưởng “Nhà văn trẻ” sẽ được trao cho tác giả trẻ dưới 30 tuổi đạt số phiếu quá bán kế theo ở vòng chung khảo”. Như vậy thực chất của Giải thưởng Nhà văn trẻ là Tặng thưởng cho tác giả trẻ. Động thái này của Hội Nhà văn TP.HCM góp phần (cùng với một số cuộc thi văn chương khác…) khẳng định sự chuyển động, và ồn ào trong đời sống văn học phía Nam có vai trò quan trọng của các cây bút trẻ.

Giải thưởng văn học nghệ thuật của UBND TP.HCM được trao 2 năm một lần cho các tác phẩm được công bố trong vòng 2 năm trước khi xét giải, tính từ ngày 01/11 năm thứ 2 của kỳ chấm giải trước đến hết ngày 30/10 năm thứ 2 của kỳ chấm giải hiện tại. Cơ cấu giải thưởng này gồm giải thưởng và tặng thưởng. Có sự chênh lệch về trị giá giải thưởng, tặng thưởng: giải thưởng trị giá 35 triệu đồng được trao cho các tác phẩm điện ảnh, sân khấu, còn đối với tác phẩm văn học (mỹ thuật, kiến trúc, âm nhạc, nhiếp ảnh) chỉ được nhận mức 20 triệu đồng; tặng thưởng 17,5 triệu đồng sẽ được trao cho các tác phẩm điện ảnh, sân khấu, múa, nhưng đối với văn học, mỹ thuật, âm nhạc, kiến trúc, nhiếp ảnh chỉ dừng lại ở mức 10 triệu đồng. Do năm 2000 Ban Tổ chức không trao giải nên năm 2003, UBND TP.HCM đã xét trao Giải văn học nghệ thuật lần thứ 3 cho các tác phẩm xuất bản trong vòng 3 năm: từ 2000 đến 2003. Trong số các tác giả văn học được tặng thưởng lần này có nữ nhà thơ Thu Nguyệt với tập thơ Cõi lạ; không có tác phẩm văn xuôi nào đoạt giải thưởng, tặng thưởng. Giải thưởng văn học nghệ thuật TP.HCM lần 4 (2003-2004) lần đầu được trao cho Tấm ván phóng dao (tiểu thuyết) của Mạc Can, trước đó trong văn học chỉ có tặng thưởng.

Các giải thưởng văn học nghệ thuật địa phương xuất hiện lần đầu như: Giải thưởng văn học nghệ thuật Trịnh Hoài Đức lần thứ 1 (1995-2000) của Đồng Nai; Giải thưởng văn học nghệ thuật tỉnh Lâm Đồng lần 1 (1998-2004); Giải thưởng văn nghệ Hải Phòng lần 1 năm 2005; Giải thưởng văn học nghệ thuật Phố Hiến lần 1 năm 2001 của Hưng Yên, Giải thưởng văn học nghệ thuật lần thứ 1 năm 2006 của UBND TP. Đà Nẵng, Giải thưởng văn học nghệ thuật lần 1 năm 2002 của Phú Yên; Giải thưởng Văn nghệ Bạch Đằng Giang của huyện Yên Hưng; Giải thưởng Văn học nghệ thuật Đất Quảng lần thứ I năm 2010 của Quảng Nam, Giải thưởng Văn học nghệ thuật Nguyễn Ðình Chiểu lần 1 năm 2010 của Bến Tre ….

Ngoài các giải thưởng trên có thể kể đến các giải thưởng được thành lập từ trước năm 2000 như: Giải thưởng văn học nghệ thuật Cố đô của UBND Thừa Thiên Huế, Giải thưởng văn học nghệ thuật tỉnh Đắc Lắc, Giải thưởng văn học nghệ thuật Nguyễn Trãi của Hà Tây, Giải thưởng văn học nghệ thuật Nguyễn Khuyến của Hà Nam, Giải thưởng văn học nghệ thuật Côn Sơn của Hải Dương, Giải thưởng văn học nghệ thuật Hạ Long của Quảng Ninh, Giải thưởng văn học nghệ thuật Nguyễn Du của Hà Tĩnh, Giải thưởng văn học nghệ thuật giai đoạn 1975-2000 của Khánh Hòa, Giải thưởng văn học nghệ thuật Huỳnh Văn Nghệ của Bình Dương, Giải thưởng văn học nghệ thuật Thủ đô của Hà Nội…

Ba sự kiện gây được chú ý nhiều nhất đối với dư luận năm 2010 về giải thưởng văn học ở địa phương là Giải thưởng văn học nghệ thuật Thủ đô của Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Hà Nội, Giải thưởng thơ Đồng bằng Sông Cửu Long năm 2009, Giải thưởng văn học nghệ thuật Đất Quảng lần 1 năm 2010.

Giải thưởng văn học nghệ thuật Thủ đô năm 2009 được trao cho 3 tác phẩm: Bút pháp ham muốn (phê bình) của Đỗ Lai Thúy, Họ vẫn chưa về (tiểu thuyết) của Nguyễn Thế Hùng, Trà nguội (thơ) của Đặng Thị Thanh Hương. Hội Liên hiệp trao giải thưởng cho các tác phẩm lần này nhằm tôn vinh các tác giả và tác phẩm có chất lượng cao, đóng góp vào sự phát triển, cách tân thể loại và thúc đẩy phong trào sáng tác ở Thủ đô, tạo thêm những dấu ấn mạnh mẽ cho Cuộc vận động sáng tác về đề tài 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Sự bất bình thường thứ nhất trong giải thưởng năm 2009 so với các năm trước là Ban tổ chức không họp báo, không thông báo gì trên các phương tiện thông tin đại chúng. Đáng lẽ công tác truyền thông giải thưởng cần được đẩy mạnh hơn để cho thấy sự công bằng minh bạch thì ở đây việc trao giải lại thiếu sự công khai, và như thế cũng là thiếu cả sự minh bạch, thiếu khách quan. Sự im lặng của Ban tổ chức cho thấy có điểm gì đó chưa ổn khiến họ ngại va chạm với dư luận. Ông Chủ tịch Hội Liên hiệp cho biết Ban tổ chức lo ngại “có thể sẽ gây ra những phức tạp ồn ào trong lễ trao giải”, nên “không thử thách tác phẩm trước dư luận”. Họ chọn cách im lặng như một “thử nghiệm”. Sự bất bình thưởng thứ hai là vấn đề thẩm định tác phẩm. Cũng theo ông Chủ tịch Hội Liên hiệp cuốn sách của Đỗ Lai Thúy gay cấn vì “dùng bút pháp phân tâm học ở nước ta chưa ai dùng”. Thực ra thì từ trước năm 1945 phương pháp phê bình này đã du nhập vào Việt Nam, các tác giả như Nguyễn Văn Hanh, Trương Tửu, Đàm Quang Thiện đã để lại dấu ấn nhất định. Trước 1975, phương pháp phê bình này ở miền Nam thu được một số thành tựu đáng kể cả về mặt lí thuyết (Freud, Jung, Fromm, Lacan, Barchelard…) lẫn thực hành (Nguyễn Văn Trung, Tam Ích, Thanh Lãng, Uyên Thao, Đỗ Long Vân, Huỳnh Phan Anh, Chơn Hạnh, Đặng Tiến, Trần Nhựt Tân..). Gần hơn nữa từ sau 1986, nhất là từ năm 2000 trở đi, có rất nhiều công trình trực dịch phân tâm học được giới thiệu ở ta, ngay cả việc ứng dụng lí thuyết này vào khảo sát văn học cũng không phải chỉ có Đỗ Lai Thúy (Phạm Văn Sĩ, Trần Thị Mai Nhi, Nguyễn Thị Bình…), thế nhưng ông Chủ tịch Hội Liên hiệp vẫn cho rằng “chưa ai dùng” phương pháp phân tâm học. Sự bất bình thường thứ ba trong giải thưởng Thủ đô là chủ trương “phân chia đều niềm vui” cho người viết. Thứ tư là sự “mâu thuẫn” giữa ông Chủ tịch Hội Liên hiệp (Bằng Việt) và thành viên Ban chấp hành (Vũ Quần Phương) xung quanh việc giải thưởng cho tập thơ Trà nguội của Đặng Thị Thanh Hương.

Chủ tịch Hội Liên hiệp đánh giá giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội là “giải thưởng mang tính văn chương, mang tính chuyên nghiệp, trao cho tác giả có thâm niên trong nghề văn, có đóng góp, có thành tựu”; còn “giải Hội Liên hiệp mang tính phong trào”, nhưng là “đỉnh cao của phong trào”, dành trao tặng cho người trẻ, yếu tố lạ, tìm tòi cách tân đổi mới”.

Sự kiện thứ hai là giải thưởng cuộc thi thơ Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) lần thứ 4 năm 2009 do Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Cần Thơ đăng cai tổ chức. Cuộc thi quy định đề tài “Viết về vùng đất và con người ĐBSCL, Cần Thơ hình thành và phát triển qua các thời kỳ: mở đất phương Nam, chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cho đến công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, phát triển và hội nhập”. Từ kết quả cuộc thi này dư luận chỉ ra có một quy luật trao giải bất thường đang vận hành các cuộc thi thơ ĐBSCL: cuộc thi lần 2 do Hội VHNT Nguyễn Đình Chiểu Bến Tre tổ chức giải Nhất được trao cho tác giả người Bến Tre; cuộc thi lần 3 do Hội VHNT Long An tổ chức giải Nhất thuộc về tác giả tỉnh Long An, và cuộc thi lần 4 do Liên hiệp các Hội VHNT Cần Thơ tổ chức lại đến lượt nhà thơ Cần Thơ (Hoàng Tường Phong) đoạt giải Nhất. Đáng chú ý hơn nữa là trường hợp tác phẩm - tác giả đoạt giải Nhì (Sương Hồ của Lê Thanh My) trong cuộc thi lần 4 này: Lê Thanh My là Tổng Biên tập tạp chí Văn nghệ Thất Sơn của An Giang, tác phẩm đoạt giải của Lê Thanh My là một bài thơ tình (theo quy chế đề tài thì Sương Hồ đáng lẽ phải bị loại ngay từ sơ khảo); ông Trịnh Bửu Hoài- Chủ tịch Hội VHNT An Giang lại chính là Trưởng ban sơ khảo, đồng thời là ủy viên Ban chung khảo cuộc thi… tất cả điều ấy khiến công chúng nghĩ đến có sự sắp xếp, cơ cấu trong giải thưởng. Nghi án có sự thiếu công bằng, khách quan trong xét trao giải thưởng không những không được làm sáng tỏ, thuyết phục đông đảo công chúng mà còn được bổ sung bằng một loạt ý kiến cho rằng bài thơ đoạt giải Nhất cuộc thi “có vấn đề”, rằng nó (Trăng nghẹn) thể hiện cái nhìn u tối, sai lệch về mảnh đất và con người ĐBSCL nghĩa là nó có những biểu hiện chệch hướng về mặt tư tưởng chính trị, nó phạm vào nhiệm vụ tuyên truyền cổ động. “Một số cơ quan có thẩm quyền ở thành phố Cần Thơ đã yêu cầu Ban Giám khảo chọn lại bài khác để trao giải Nhất thay cho bài thơ này vì nó u ám quá. “Trăng thì phải sáng, thậm chí rất trong sáng chớ không thể nào nghẹn được”. Tuy nhiên, Ban Giám khảo đã quyết định không chấm lại, cuối cùng họ quay sang tác giả… Chủ tịch Hội Văn nghệ Cần Thơ yêu cầu tác giả làm đơn từ chối giải thưởng” (http://www.tienphong.vn/), còn tác giả thì khẳng định sẽ không rút khỏi giải dù bị sức ép. Từ chuyện bất thường trong kết quả cuộc thi thơ ĐBSCL lần 4 như thế nhiều sự bất thường khác cũng triệu vời ra trước công luận. Sau cùng: bài thơ Trăng nghẹn bị rút khỏi giải thưởng. Cuộc thi thơ Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) lần thứ 4 đặt ra nhiều vấn đề của giải thưởng văn học hiện nay, trong đó có quan hệ giữa văn học và chính trị, văn học và hiện thực….

Sự kiện thứ ba là Giải thưởng văn học nghệ thuật Đất Quảng lần 1 năm 2010 của Quảng Nam tôn vinh các tác giả, tác phẩm trong 10 năm (1998-2008). Kết quả 49 tác giả và nhóm tác giả thuộc 5 chuyên ngành (âm nhạc, mỹ thuật, nhiếp ảnh, văn học, sân khấu - điện ảnh) được trao giải thưởng. Sự bất bình thường trong giải thưởng này thể hiện trước hết ở sự thẩm định và quyết định trao giải: có tập truyện ngắn được Ban tổ chức đánh giá “bố cục đơn giản, một số nhân vật chỉ ở dạng phác thảo” nhưng lại được trao giải C. Sự bất thường khác là sự “chia phần thưởng” thiếu công bằng: các thành viên chủ chốt của Ban Chấp hành Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Nam (Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Phó TBT tạp chí…) vừa chấm giải vừa gửi tác phẩm dự giải, cuối cùng mỗi người nhận ít nhất từ một giải thưởng trở lên với số tiền từ 10 đến 15 triệu đồng; và đa số tác giả đoạt giải cao đều nắm những cương vị chủ yếu của Hội văn học nghệ thuật.

Theo đánh giá của nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam: một số giải thưởng văn học ở địa phương có những biểu hiện xa lạ, lệch lạc về định hướng, gây bất bình, hoang mang, phản ứng trong dư luận. “Khuynh hướng của các giải thưởng đó là đề cao chủ nghĩa hình thức, tiếp thu vội vã lí luận ở nước ngoài, cường điệu những mặt đen tối, tiêu cực, mất mát, đắng cay; nhân danh đổi mới áp đặt những thiên kiến, ẩn ức cá nhân, thoát li hiện thực, thoát khỏi bối cảnh lịch sử cụ thể, sa vào gán ghép tùy tiện, thực chất là phủ nhận quá khứ”. Như thế, giải thưởng văn học ở địa phương không phải là những giải thưởng độc lập, mà là những giải thưởng nằm trong khuôn khổ chính trị, nhằm vào cụ thể hóa, thực thi đường lối, chính sách văn nghệ của Đảng và Nhà nước. Tính định hướng và phong trào trong quá trình xem xét, quyết định trao giải thưởng ở địa phương biểu hiện rất rõ, đây là nguyên nhân khiến những tìm tòi về hình thức, và sự tiếp nhận hệ thống lí luận văn học phi chính thống bị phê phán. Những phát ngôn như “chủ nghĩa hình thức”, “bệnh hình thức” vẫn có sức nặng trong việc phân loại tác giả và định đoạt giá trị của các tác phẩm văn chương.

Giải thưởng văn học ở các tỉnh thành trong cả nước chủ yếu có tác dụng tạo dựng không khí, khuấy động phong trào, nhất là định hướng tư tưởng cho văn nghệ sĩ và phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương. Đó là những giải thưởng chính sách, giải thưởng phong trào đoàn thể ít nhiều chịu sự chỉ đạo của công tác tuyên giáo.

Minh Thúy

>>> Nhìn nhận về giải thưởng văn học trên thế giới (1)

>>> Tình hình trao giải và những so sánh bước đầu (2)

>>> Về Giải thưởng Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNTVN (3)

>>> Tầm giải thưởng của tác phẩm văn học Việt Nam (4)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác