Nhận diện thị trường sản phẩm văn học năm 2009 (*)

Sách dịch chiếm ưu thế: Chủ trương, chính sách khuyến khích xã hội hoá các hoạt động văn hoá, văn học của Chính phủ đã và đang mở ra cơ hội cho nhiều doanh nghiệp đẩy mạnh kinh doanh các dịnh vụ văn hoá, mua bán, trao đổi và in ấn các sản phẩm văn học nghệ thuật nước ngoài ở Việt Nam. Sản phẩm văn học dịch ở ta trong năm qua rất phong phú.

Các công ty, nhà sách tư nhân đang chú trọng đầu tư cho thị trường sách dịch, loại sản phẩm này đem lại cho họ doanh thu, lợi nhuận lớn hơn sách của các tác giả trong nước. Công ty Văn hoá và truyền thông Nhã Nam năm 2009 xuất bản 75 đầu sách mới (nhanam.vn), trong đó có 69 cuốn sách dịch, chủ yếu thuộc loại lãng mạn, trinh thám - kinh dị, hồi kí - tự truyện và giả tưởng - huyền ảo: Vật chủ (Stephenie Meyer); Sushi cho người mới bắt đầu (Marian Keyes); Tình yêu kéo dài ba năm (Frédéric Beigbeder); Trở lại tìm nhau, Hãy cứu em (Gaulliaume Musso); Mọi điều ta chưa nói (Marc Levy); Tiếng gọi tình yêu giữa lòng thế giới (Kyoichi Katayama); Đôi môi của nước (Alberto Ruy Sánchez); Nơi cuối cầu vồng (Cecelia Ahern)... Nhã Nam chủ yếu đưa ra thị trường các sản phẩm văn học các nước Pháp, Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc; các tác phẩm văn học Nga, Canada, Mexico, Ấn Độ, Ba Lan, Anh, Đức, Italia cũng được in ấn nhưng số lượng còn mỏng; sách nghiên cứu, lí luận, phê bình hầu không có cuốn nào; Nhã Nam quan tâm đến các cuốn sách được giải thưởng, đến các nhà văn ăn khách, dịch và giới thiệu các sản phẩm bestseller, mua bản quyền và xuất bản nhiều tự truyện, sách viết về chuyện tình yêu, lãng mạn. Công ty cổ phần sách Bách Việt tái bản và in mới gần 50 đầu sách dịch, trong đó có hơn 10 cuốn in mới: Bong bóng mùa hè - 3 tập (Minh Hiểu Khê); Thợ xăm mình (Tạ Hồng); Thiên đường bên trái, Thâm Quyến bên phải (Mộ Dung Tuyết Thôn); Đời sống tình yêu (Zeruya Shalev), Ba đêm trước giao thừa (Ryu Murakami), Cái ghế trống (Jeffery Deaver); Người thổi thủy tinh xứ Murano (Marina Fiorato) (bachvietbooks. com.vn), Bách Việt chủ yếu dịch in các tác phẩm của Trung Quốc, các tác phẩm viết về tình yêu và dục vọng của con người. Nhà xuất bản Trẻ dịch và xuất bản không ít tác phẩm diễm tình, lãng mạn, viễn tưởng, huyền ảo kinh dị, và tự truyện: Nhật thực, Hừng đông (Stephenie Meyer); Sắc, giới (Trương Ái Linh); Trưởng thành từ hy vọng (Andrew Bridge); Malice - đừng hòng thoát (Chris Wooding, Anh); Nhật ký tiểu thư Jones (Helen Fielding); Thành phố vô hình (M.G. Harris); Món quà bí ẩn, Cảm ơn ký ức (Cecelia Ahern); Hải tặc ma cà rồng (Justin Somper) Pháp sư (Michael Scott); Người ấy (Nina Alexander); Tiếng yêu (Kate Emburg), Hồ Linh hồn (Darren Shan); Bé không tên của mẹ (Berlie Doherty )… Nxb. Trẻ đưa ra thị trường các tác phẩm, phần lớn của các nước Anh, Mỹ… Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây liên kết xuất bản ấn phẩm mới Thơ Thuỵ Điển, Tuyển tập kịch Friedrich Schiller, tái bản Quan Thanh tra (N.Gogol)… nhân kỉ niệm ngày sinh của các tác giả F. Schiller, N.Gogol, và kỷ niệm 40 năm thiết lập mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam - Thuỵ Điển. Công ty Truyền thông Hà Thế và Nxb. Hội Nhà văn phối hợp xuất bản Bóng đêm bao trùm, một tập truyện có màu sắc huyền ảo, kinh dị. Nhà xuất bản Văn hoá Sài Gòn cũng in ấn một số tiểu thuyết trinh thám, lãng mạn: Giết người đưa thưa (Tami Hoag); Không phải tình hờ (Rachel Gibson); Mãi không nhắm mắt (Hải Nham)… Công ty Văn hoá Phương Nam phối hợp xuất bản các tiểu thuyết tình cảm, lãng mạn và huyền ảo: Erec rex - Mắt rồng, Quái vật xứ khác (Kaza Kingsley); Quay cuồng vì yêu (Lani Diane Rich); Những câu chuyện thời trang (Jenny Oldfield), tổ chức Tuần lễ sách Ma cà rồng” trưng bày và giới thiệu khoảng gần 80 tựa sách ngoại văn và quốc văn về Ma cà rồng Chibooks chủ yếu xuất bản - phát hành dòng sách văn học hiện đại Trung Quốc: tiểu thuyết Giường đàn bà (Cửu Đan), Tôi là Lưu Nhảy Vọt (Lưu Chấn Vân), Hẹn ước nơi thiên đường, Mãi không nhắm mắt (Hải Nham), tập truyện ngắn Ai là kẻ thứ ba (Diệp Khuynh Thành), Đêm của anh, ngày của em (Miên Miên)… Nói chung, trên thị trường sách dịch của ta năm qua xuất hiện rất nhiều tác phẩm ăn khách, được chuyển thể dựng phim ở nước ngoài, sách của các tác giả nữ, diễm tình, lãng mạn, huyền ảo, kinh dị,… hướng đến nhiều đối tượng, có cả độc giả tuổi mới lớn. Sách kinh điển, phục vụ cho văn hóa ít được chú ý dịch và in ấn; các sách dịch nhanh bán cho độc giả phổ thông, sách văn học kinh dị ma quái thì tràn lan (báo sggp.org.vn ngày 22/11/2009). Dư luận về các cuốn sách dịch nếu không do chính các dịch giả tổng hợp từ báo chí nước ngoài, thì cũng do cách thức PR sản phẩm của các công ty, các nhà sách tạo ra. Các bài viết điểm sách dịch được tổ chức ở dạng trích dịch ý kiến hoặc tóm tắt - thông tin về nội dung, về số lượng in ấn trên thế giới, về tác giả cuốn sách… nhằm tạo dựng một “hiệu ứng hào quang”, “một bảo đảm vàng” cho chất lượng và sự hấp dẫn của cuốn sách. Ở ta vẫn chưa có phê bình dịch một cách nghiêm túc.

Góp phần tạo nên sự sôi động của thị trường văn học dịch năm nay có sự tham gia của nhiều dịch giả trẻ, đội ngũ dịch giả này được đào tạo bài bản, năng động và đam mê nghề. Công tác bản quyền, mạng lưới cộng tác viên dịch được nhiều công ty văn hóa và truyền thông được triển khai tốt cũng đang khiến cho thời gian xuất bản một số sách văn học dịch ở Việt Nam và trên thế giới được rút ngắn. Giới chuyên môn cho rằng, thị trường văn học dịch của ta đang đòi hỏi cần có một Hội dịch thuật văn học, trung tâm dịch thuật, quỹ dịch thuật, một giải thưởng cho dịch văn học Việt Nam, cần đầu tư nhiều hơn nữa cho văn học dịch (báo điện tử VnMedia, ngày 24, 25/9/2009, báo vietnamnet.vn ngày 12/11/2009…), và cần xem lại công tác phê bình dịch, biên tập dịch, bởi trên thị trường sách hiện nay có nhiều tác phẩm dịch chưa nhuyễn, câu cú ý nghĩa chưa trong sáng, gãy gọn (báo laodong.com.vn, ngày 4/11/2009, Văn nghệ số 46). Câu chuyện dịch và giới thiệu văn học được báo chí, và giới dịch giả quan tâm theo dõi và bình phẩm. Chủ tịch Hội đồng văn học dịch - Hội Nhà văn Việt Nam cho biết ngày 12 tháng Giêng hằng năm sẽ trở thành ngày truyền thống của thơ dịch Việt Nam. Chung quanh công tác chuẩn bị cho Hội nghị quốc tế giới thiệu văn học Việt Nam của Hội Nhà văn, những vấn đề về thực trạng “xuất khẩu văn học của Việt Nam”, đội ngũ dịch giả, cơ quan xuất bản, chiến lược dịch - giới thiệu văn học trong nước ra nước ngoài được bàn thảo rộng rãi, trong đó quan điểm - chủ trương nên chủ động tự quảng cáo, quảng bá một cách có hệ thống được đề cao và nhấn mạnh thường xuyên.

Sách văn học của người Việt ở nước ngoài được chú ý hơn, và đa dạng về thể loại. Lý luận, phê bình có Thơ, thi pháp và chân dung của Đặng Tiến (Pháp), phỏng vấn - đối thoại có: Thơ đến từ đâu của Nguyễn Đức Tùng (Canada); truyện ngắn - tiểu thuyết và ký có: Quyên của Nguyễn Văn Thọ (Đức), Trên nền tuyết trắng xóa của Mc Ammond Nguyễn Thị Tú (Canada), Vu khống của Linda Lê (Pháp), Một mình trên đường của Lệ Tân Sitek (Na Uy); tản văn có Tôi ươm ánh mặt trời của Lữ (Hà Lan); thơ có: Khoảng trời xưa của Võ Thị Thu Trang (Nga)…

Sách văn học của người Việt trong nước mặc dù được in nhiều nhưng không được đề cao, ít được quảng bá, và giới thiệu ra nước ngoài, các đơn vị xuất bản, nhà sách chưa đủ sức làm sách xuất khẩu (báo Sài Gòn giải phóng online ngày 4, 5/10/2009). Các tập tản văn, tạp văn, tiểu thuyết, truyện ngắn và thơ trẻ được công bố rải rác trong năm vẫn chủ yếu do giới truyền thông điểm nhắc và đánh bóng; còn những tác giả phê bình vốn xuất hiện thường xuyên trên các diễn đàn văn học những năm trước lại chuyển sang “bắt bệnh” hoặc than phiền, trách cứ phê bình văn học; rất ít công trình lý luận, phê bình có chất lượng và có nghĩa thời sự được in ấn, phát hành, suốt năm mới có hai cuốn sách được độc giả hào hứng đón nhận và tạo ra dư luận tích cực: Alain Robebe - Grillet Sự thật và diễn giải (Nguyễn Thị Từ Huy), Bút pháp của ham muốn (Đỗ Lai Thuý). Đặc biệt năm nay có sự kiện, lần đầu tiên một công trình tập hợp được đông đảo các tác giả nghiên cứu, phê bình văn học trẻ, do Viện Harvard Yenchinh tài trợ ra mắt độc giả: Nghiên cứu văn học Việt Nam, những khả năng và thách thức.

Các sách văn học bán chạy trong năm chủ yếu thuộc sách dịch chủng loại kinh dị - kì ảo, tình yêu nam nữ lãng mạn và tình dục. Các cuốn sách huyền ảo, kinh dị, lãng mạn, tình cảm… có bìa gợi cảm, khêu gợi tràn lan trên thị trường văn học, ngấm ngầm nhào nặn con người, tác động mạnh đến tâm lí đọc và thị hiếu hưởng thụ các sản phẩm văn học của độc giả. Năm 2009 và có thể những sau đó, Việt Nam vẫn tiếp tục trở thành một thị trường lớn nuốt chửng các sách đang “ăn khách”, các sách online, có giá trị giải trí đơn thuần trên thế giới. Sức đề kháng của độc giả chưa cao, vai trò “lọc” và định hướng của phê bình cũng chưa tốt, sự quản lí nhà nước về thị trường sách chưa chặt chẽ, chắc chắn sẽ còn tạo ra những cơ hội cho các tác phẩm có chất lượng tư tưởng, nghệ thuật thấp chiếm lĩnh thị trường ngày càng mạnh mẽ hơn. Có thể quan sát thấy thị trường sách văn học ở Việt Nam đang thu thập, lưu chuyển và tạo ra rác văn học quá lớn. Do đó vẫn chưa thể đòi hỏi mọi độc giả cần có một cách nghĩ hoàn toàn lạc quan về văn học ăn khách, về văn học giải trí trong bối cảnh các sách văn học đang hỗn loạn, tạp nham.

Sách văn học trong nhà trường, năm 2009 được Nxb. Giáo dục và Viện Văn học phối hợp tổ chức biên soạn, in ấn và phát hành rộng rãi thêm nhiều tác giả thuộc giai đoạn cận hiện đại, gồm: Thạch Lam - tác phẩm chọn lọc; Phan Bội Châu- tác phẩm chọn lọc; Huy Cận - tác phẩm chọn lọc; Nguyễn Tuân - tác phẩm chọn lọc; Nam Cao - tác phẩm chọn lọc; Nguyễn Khuyến - tác phẩm chọn lọc; Nguyễn Minh Châu - tác phẩm chọn lọc; Nguyễn Đình Chiểu - tác phẩm chọn lọc, Trần Tế Xương - tác phẩm chọn lọc... Cuộc thi sáng tác văn học huyền ảo cho thiếu nhi do Nxb. Kim Đồng, Hội Nhà văn (HNV) Hà Nội và HNV Đan Mạch đồng tổ chức cũng đã khép lại, giải nhất được trao cho tác phẩm Vương quốc tàn lụi của Trần Đức Tiến.

Đặc san Văn chương Hồn Việt của nhóm Văn chương Hồn Việt xuất bản số đầu tiên trong tháng 4/2009, sau đó do nảy sinh tranh cãi cá nhân nên đặc san này buộc phải ngừng in ấn và phát hành. Nhà xuất bản Thời đại ra mắt tháng 7/2009, được phép hoạt động xuất bản các sách văn hóa, văn học nghệ thuật, các ấn phẩm sách, tài liệu chính trị, pháp luật bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài, các sách kiến thức phổ thông về khoa học, công nghệ, kinh tế…

Sách in lậu, vi phạm bản quyền và các vấn đề chung quanh quyền tác giả tiếp tục trở thành một vấn đề nóng. Cho dù Việt Nam đã tham gia Công ước Berne (26/10/2004) và Luật Xuất bản sửa đổi (1/7/2005) đã có hiệu lực hơn 4 năm nhưng hiện tượng xâm phạm bản quyền vẫn có dấu hiệu tăng, nhiều thủ đoạn mới, mánh mới xuất hiện. Các cơ quan chức năng phát hiện nhiều vụ vi phạm bản quyền; các sách được làm nhái nhanh, nhiều, giá thành thấp, phân phối rộng rãi, thậm chí còn được tung ra thị trường sớm hơn ngày “chính thức ra mắt sách” của các nhà sách làm ăn chân chính (Hừng đông…). Công ty Hoa Mai có kho chứa hàng nghìn sách vi phạm bản quyền; công trìnhTrịnh Công Sơn - vết chân dã tràng” của Ban Mai bị UBND tỉnh Bình Định cấm lưu hành do vi phạm Luật Xuất bản; nhà văn Lê Công do cho đăng truyện ngắn Quán Dương cầm của Đặng Thị Thanh Liễu trên tạp chí văn nghệ Langbian nên bị kỉ luật vì “sai lầm về quan điểm chính trị gây hậu quả nghiêm trọng”; Google số hóa hơn 4.000 tác phẩm của Việt Nam mà chưa xin phép các tác giả; cung cách biên tập, cấp giấy phép và quản lý bản thảo của một số nhà xuất bản còn lỏng lẻo; sách được biên soạn nhiều nhưng hiệu đính ít; nhiều nhà xuất bản, nhà sách, công ty kinh doanh sách vi phạm tác quyền và xâm hại quyền lợi của nhau; giới xuất bản chính thống tiếp tục lên án giới lậu sách; các công ty cổ phần truyền thông, văn hoá kinh doanh sách tuyên chiến mạnh mẽ nhưng ngay sau đó cũng tỏ ra bất lực trước nhiều mánh khoé, kĩ thuật làm sách tinh vi của đầu nậu. Chu Lai lên án hiện tượng nhà xuất bản L’aube xâm phạm luật bản quyền về các tác phẩm của ông, Triệu Xuân cũng cho biết có đến ba cuốn tiểu thuyết của mình được in, rồi tái bản nhiều lần ở Hoa Kỳ nhưng tiền nhuận bút chưa được thanh toán đủ. Sương Nguyệt Minh bị nghi ngờ đạo văn của Dương Kỳ Anh, sau khi nhà văn quân đội này cho công bố tập truyện Dị hương mới nhất của mình. Chưa kể, còn có hiện tượng, một số tác phẩm đã bị đình bản thu hồi, bị cấm xuất bản vẫn được in lậu và bày bán. In lậu nhanh và tràn lan cho thấy mặt trái của cơ chế thị trường và xã hội hoá, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của các tác giả và nhà xuất bản, đến sự tin cậy trong việc chuyển nhượng bản quyền của các tổ chức, cá nhân nước ngoài. Trung tâm Bảo vệ Quyền tác giả Văn học Việt Nam, tổ chức hội thảo về Quyền sao chép bàn về "Khái niệm quản lý các quyền tác phẩm in ấn" (3/2009), sau đó trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xin phép được nhận ủy thác tác quyền của những người ngoài Hội Nhà văn. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ra quyết định công nhận Ban vận động thành lập Hiệp hội Quyền sao chép Việt Nam do ông Nguyễn Kiểm Cục trưởng Cục Xuất bản làm Trưởng ban (8/2009). Báo Thể thao và Văn hoá đăng tải loạt bài chỉ rõ thực trạng tiêu cực của thị trường văn học Việt Nam hiện nay: các “nhà văn còng lưng nuôi tầm gửi”, các doanh nghiệp kinh doanh lừa và ăn chặn tiền thù lao của nhà văn… Nhu cầu lợi ích, lợi nhuận đã và đang trở thành một tiêu chí quyết định số lượng và đầu sách in ấn, quyết định mối quan hệ hợp tác - liên kết giữa chủ thể kinh doanh và chủ thể sáng tạo. Năm nay và các năm trước, thị trường tiếp tục báo động về tình trạng có nhiều công ty, doanh nghiệp kinh doanh các sản phẩm văn học, văn hoá chạy theo đồng tiền, lợi nhuận, bất chấp đạo lí và pháp luật.

Cơ chế thị trường, thị hiếu dễ dãi của độc giả cũng góp phần làm nảy sinh hiện tượng và xu hướng trình bày bìa các ấn phẩm văn học một cách khêu gợi, nude hóa bìa sách văn học. Có hiện tượng ông chẳng bà chuộc trên bìa sách, bìa của tác phẩm văn học cổ điển được hiện đại hoá để “câu khách”, nội dung tiểu thuyết viết về “cá mập” (Pito Benchly) minh hoạ bìa sách lại vẽ hình cá heo, tiểu thuyết “Mũi tên đen” của nhà văn Xtivenson được minh hoạ bìa bằng hình ảnh thanh bảo kiếm, sách viết về chân dung được minh hoạ bằng tranh phong cảnh hoặc tranh vẽ các loại hoa quả, truyện “Nhạc sĩ mù” đề cập nhiều lần đến hình ảnh cây đàn piano nhưng bìa minh hoạ lại vẽ đàn cenlo, cuốn hồi kí văn chương Maiakovski và mối tình câm thay vì sử dụng chân dung người thật việc thật lại vẽ chân dung của một nhân vật nào đó trong nước, có tác giả quan niệm do sách nói nhiều đến cái chết nên cần “giải hạn” bằng hình ảnh một cậu bé chừng vài tháng tuổi ở truồng, chuẩn bị tè; sách của tác giả nam chọn in hình một cô bồ cười ngặt nghẽo trên lưng một chú ngựa để làm kỉ niệm (Văn nghệ Công an). Hiện nay, trên thị trường các sản phẩm văn học đang hình thành xu hướng các “hoạ sĩ” chuyên và không chuyên mạnh tay sử dụng các hình ảnh nhạy cảm trên thân thể phụ nữ để minh hoạ (Đôi môi của nước, Tên của khí trời, Rắn và khuyên lưỡi, Đôi mắt ấy vẫn ở trên giường…). Báo Công an nhân dân đăng bài “Mánh trong thị trường xuất bản” của Phạm Thành Trung, phê phán các nhà làm sách và dịch giả đã cho giữ nguyên những tên sách văn học gây sốc (Xin lỗi, em chỉ là con đĩ của Tào Đình, Hễ sướng thì hét lên của Trì Lợi, Muốn làm gì tôi thì làm của C. Oates…), cách tiếp thị sản phẩm văn học của họ nặng về các thông tin nhục cảm (Điên cuồng như Vệ Tuệ, Những người đàn bà tắm, Tử cấm nữ…), các biên tập viên làm việc chiếu lệ, thiếu trách nhiệm, các tác giả “sưu tầm biên soạn” chiếm dụng bản quyền...

Cơ chế thị trường tạo ra tâm lí dễ dãi trong sáng tạo, cộng sự lười nghĩ, và thiếu cẩn trọng của người sáng tác sinh ra hiện tượng: chạy theo đề tài “hot” (tình yêu, tình dục, đồng tính…), nhái lặp cách đặt tên sách giữa một số tác giả đương đại. Cách đây 15 năm Đặng Thanh Hương in tập thơ “Phiên bản”, năm 2009 Nguyễn Đình Tú cũng ra mắt tiểu thuyết “Phiên bản”; năm 2001 Bá Dũng ở Nghệ An in tiểu thuyết “Một thời để nhớ”, sau đó Nguyễn Đình Chính, Tô Đức Chiêu, Đặng Thư Cưu cũng đều đặt tên sách của mình là “Một thời để nhớ”, Lại Nguyên Ân có “Sống với văn học cùng thời” (1997), Phạm Quang Trung cũng có “Sống với văn chương cùng thời”… (Văn nghệ Công an số 115); năm 1986, Nxb. Văn học in cuốn “24 giờ trong đời một người đàn bà” của nhà văn Stefan Zweig, năm nay, Nxb. Hội Nhà văn xuất bản tiểu thuyết “24 giờ lên đỉnh” của Nguyễn Thị Anh Thư; năm 2008 Nguyễn Đình Tú cho in tiểu thuyết Nháp (Nxb. Thanh niên), năm nay Ngọc Tuyết cũng in tập thơ có tên Nháp (Nxb. Thanh niên). Cơ chế thị trường cũng tạo ra một nét mới trong thị hiếu đọc ở độc giả: ưa ngôn ngữ suồng sã, chợ búa hàng ngày, đề cao quá mức thứ ngôn ngữ online, ngôn ngữ của văn chương mạng: Ký ức vụn nhận được những đánh giá ồn ào và gần được trao giải thưởng trong năm, nhưng trên thực tế thì giá trị của nó chưa cao.

Cơ chế thị trường tạo ra sự lạm phát danh hiệu nhà văn, nhà thơ; tạo ra một trạng thái khủng hoảng các giá trị và tâm lí hoang mang ở người viết, người đọc (Hội thảo “Nhà văn và câu chuyện thế hệ”, Văn học ăn khách cần một cách nghĩ khác về “giải trí”, Vị thế của văn học trên sân chơi văn hoá trong tiến trình lịch sử, Danh ảo và tài thực…). Cơ chế thị trường tạo ra lối tư duy coi trọng quảng cáo, quảng bá sản phẩm, sử dụng và khai thác triệt để báo chí truyền thông trong việc tạo dựng tên tuổi cho các cây viết trẻ mới xuất hiện, nhằm mục đích tiêu thụ các sản phẩm ăn nhanh” của người viết. Năm 2009, Nguyễn Ngọc Tư chủ động quảng cáo tập tản văn mới của mình một cách hóm hỉnh, chị nêu cụ thể những chi phí đầu tư, mong độc giả đồng cảm, ủng hộ và chia sẻ (Yêu người ngóng núi); Lê Thiếu Nhơn cũng quảng cáo và mong bán được sản phẩm mới ra mắt của mình qua một bài tản văn lâm li, hài hóm (Bản tường trình giấc mơ đi vắng); Đinh Hoàng Anh tiếp thị sản phẩm bằng hình thức trình diễn truyện ngắn, giới thiệu bằng hình ảnh 23 truyện trong tập truyện Những giấc mộng đời người mới in, tại Trung tâm Khoa học và Văn hóa Nga (4/2009); cuốn tiểu thuyết Quái vật của Trần Thị Hồng Hạnh do Công ty cổ phần sách Bách Việt và Nxb. Văn học liên kết xuất bản, phát hành được quảng bá bằng cách cho người thiết kế ra 7 trailer với 7 nhạc nền khác nhau, rồi lần lượt đưa các trailer này lên mạng YouTube trước ngày phát hành chính thức; Văn Công Hùng quyết định in sang tập thơ Đêm không màu (Nxb. Hội Nhà văn) sau đó rao bán sách của mình trên blog: “mời mọi người yêu thơ và yêu... tôi mua giúp thơ… giá bìa là 45.000đ, bạn nào mua giúp xin nhắn tin hoặc mail tôi sẽ xin chuyển sách đến tận nơi…”.

Cơ chế thị trường đặt các Hội VHNT địa phương và các tạp chí văn nghệ địa phương trước nhiều thách thức, ngay từ đầu năm và rải rác trong quý II đã có nhiều báo in và báo mạng Internet đăng tải các ý kiến bàn về hiệu quả hoạt động và sự tồn tại của địa phương trong bối cảnh mới. Cũng chính cơ chế thị trường thương mại hoá mạnh mẽ và triệt để các sản phẩm văn học, buộc các sản phẩm văn học đó phải vận động theo quy luật giá trị và quy luật cạnh tranh, buộc phải “sống” qua lưu thông, phân phối. Các công ty, nhà sách tạo ra các hình thức khuyến mại, chiết khấu cao, ưu đãi giảm giá sách, sử dụng mọi hình thức bán hàng (bán hàng truyền thống, bán hàng online) cốt để tiêu thụ được nhiều sản phẩm, có công ty cuối năm giảm giá một số đầu sách đến 70 và 80% giá bìa. Các buổi ra mắt, giới thiệu, toạ đàm về sách mới được tổ chức thường xuyên đang đặt lại câu chuyện “cung và cầu” trong phê bình (Văn nghệ Trẻ). Các sách được đầu tư, hỗ trợ in ấn của các Hội VHNT xuất bản khá nhiều; những sách do cá nhân tự bỏ tiền in cũng tăng nhanh, các tác phẩm chuẩn bị hoặc đang trong quá trình xét các giải thưởng thúc đẩy sự phát triển của các dịch vụ “phê bình”, phê bình trở thành một nhân vật trung gian quảng cáo sản phẩm. Nói chung, về cơ bản, trong cơ chế thị trường giá cả chưa phản ánh được giá trị của sản phẩm văn học, có thể quan sát được hiện tượng này trong một số dòng sản phẩm văn học dịch, văn học trẻ. Các danh hiệu “nhà văn”, “nhà thơ”, hoặc “thần đồng” cùng những lời khen có cánh trên báo chí cũng chưa phản ánh được đúng tài văn, tài thơ của người viết, có thể nói đến ở đây, chẳng hạn trường hợp thơ Đặng Chân Nhân được tôn thành “hiện tượng”, thành “thần đồng” sánh ngang Trần Đăng Khoa thuở trước… Cơ chế thị trường tạo ra sự tự do trong lựa chọn, thưởng thức, tiếp nhận, đánh giá các sản phẩm văn học, nhiều độc giả do có trình độ thẩm mỹ cao, và lành mạnh đã tránh thoát được sự áp đặt về các thông tin văn học và các giá trị văn học ảo của giới truyền thông, của phê bình truyền thông.

Các giải thưởng văn học ít có hiệu lực xã hội, độ tin cậy của chúng chưa cao, gián tiếp làm suy giảm phần nào vị thế của văn học. Giải thưởng thường niên của Hội Nhà văn Việt Nam được trao cho các tác phẩm chưa thực sự thuyết phục được độc giả cho thấy sự mất dần uy tín của chính loại hình giải thưởng này trước yêu cầu thực tiễn và sự bộn bề, rợn ngợp của văn học hiện nay; mặt khác cũng phản ánh được sự nhạt nhoà của giải thưởng thường niên, sự thiếu chuẩn, thiếu các tiêu chí đánh giá khoa học, thống nhất… của Hội Nhà văn Việt Nam trong xu thế và yêu cầu xã hội hoá các hoạt động văn hoá, văn học. Giải thưởng lí luận, phê bình của Hội Nhà văn Hà Nội trao cho cuốn Bút pháp của ham muốn, gạt ra ngoài cuốn Thơ, thi pháp chân dung, bộc lộ rõ xu hướng và quan điểm đề cao phương pháp ngoại quan hơn nội quan trong nghiên cứu, phê bình văn học ở Việt Nam. Hội Nhà văn Hà Nội trao giải thưởng văn xuôi cho tác phẩm Một mình một ngựa của Ma Văn Kháng. Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh trao giải văn xuôi cho tiểu thuyết Đàn bà của Lý Lan, giải thơ được trao cho tập Ra ngoài ngàn năm của Trương Nam Hương; UBTQ Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam trao giải B văn xuôi cho Ánh trăng trong rừng trúc của Nguyễn Quang, Được sống và kể lại của Trần Luân Tín, giải thơ trao cho các tập Những ca khúc trên cỏ của Nguyễn Ngọc Hưng, Khúc đồng dao của Đỗ Xuân Thu, giải C văn xuôi trao cho Lời thề của đá của Võ Diệu Thanh, Người cõi âm của Trần Chiểu, giải thơ trao cho tập Chạm bóng của Đinh Tấn Phước, Ngày của chiêm bao của Thái Hồng, Đi về phía mặt trời của Trương Minh Phố… phản ánh rõ vị trí “nhân vật chính” của thể loại tiểu thuyết, sự lên ngôi của tự truyện, ưu thắng của lối thơ có hơi hướng truyền thống và những tác động của phê bình truyền thông đến giải thưởng văn học. Các giải thưởng văn học tư nhân mới chỉ dừng lại ở ý nghĩa quảng bá thương hiệu hơn thể hiện được chất lượng cao trong thẩm định lượng giá tác phẩm. Giải thưởng thơ của tạp chí Văn nghệ Quân đội trao cho một lối thơ đang thống ngự trong đời sống văn học, cho các tác phẩm có ít sự tìm tòi đổi mới về tư tưởng và giá trị thẩm mỹ đích thực… Giải thưởng thơ nữ mang tên Lá trầu tạm ngừng để Lời vàng Eva tiến hành hoạt động xây dựng quỹ. Các giải thưởng văn học hiện nay ở ta có vẻ đang đi gần đến một cuộc khủng hoảng về các giá trị, về tính hợp lí và tính hợp thức. Chúng ta cũng dễ thấy, cho đến nay, phần nhiều tác phẩm đoạt giải thưởng mới giành được chỗ đứng trên các phương tiền truyền thông và các bạn viết thù tạc, chứ chưa có chỗ đứng rộng rãi trong lòng đông đảo độc giả văn chương.

Cơ chế thị trường khuyến khích sự tự do, phủ nhận sự lí tưởng hoá văn học, buộc người sáng tác phải nhận thức lại để điều chỉnh nhiều vấn đề sáng tạo và công bố tác phẩm, trong đó có cả vấn đề sở hữu cùng sự thay đổi trong cách nghĩ, cách nhìn về tính phi vụ lợi của sáng tạo văn chương. Cơ chế thị trường được hình thành và phát triển cũng thúc đẩy nhanh sự phân hoá các cơ hội sáng tạo và điều kiện tiếp nhận, phân hoá mức thu nhập và các dòng sản phẩm trên thị trường. Cơ chế thị trường cũng đặt ra thường xuyên và trên diện rộng vấn đề xã hội hoá các hoạt động văn học: “Xu thế xã hội hoá giải thưởng” (Văn nghệ số 3,4,5), “Ngày thơ Việt Nam nhìn từ góc độ xã hội hoá” (Văn nghệ số 7).

 

----------------------

(*) Trích Báo cáo thường niên về tình hình văn học năm 2009 của Viện Văn học - Báo cáo chuyên đề: Văn học Việt Nam trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác