Nhận diện lý luận, phê bình văn học thế kỷ XX (*)

Lịch sử nói chung và lịch sử văn học nói riêng trên một ý nghĩa nào đó có tính chất truyền kỳ; cũng thống kê hiện tượng, kể lại sự kiện theo biên niên với cách kể khác nhau, lần kể khác nhau. Lịch sử văn học nước ta, chỉ kể từ thời đại Lý - Trần trở đi đã có nhiều tác giả, nhiều tác phẩm, dòng văn học, hội Tao đàn v.v… đứng ở đỉnh cao, tạo nên một nền văn hiến Việt Nam “đứng hàng đầu Trung Châu”, “không nhường Hán - Ngụy”, một nền văn hóa với bản sắc riêng tồn tại hàng mấy nghìn năm bất chấp mọi mưu đồ đồng hóa, thôn tính, áp đặt.

Tuy nhiên, cha ông ta không quen làm nghệ thuật học, chưa kiến tạo có hệ thống một nền lý luận văn học dân tộc, không quen lập thuyết để lại cho đời sau. Chưa nói các thời đại xa, ngay cả thời trung đại cho đến nửa đầu thế kỷ XX, sự thẩm định những di sản mỹ học lý luận văn học của chúng ta mới ở giai đoạn đầu của nhận thức hệ thống. Vì vậy vào nhiều năm gần đây, việc xuất bản một công trình sưu tuyển đồ sộ gồm ngót mười ngàn trang in khổ 16x24cm văn bản tư liệu gốc thuộc các tác giả, tác phẩm lý luận, phê bình từ đầu thế kỷ XX cho đến năm 1975 dưới nhan đề: Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Quyển Năm (Lý luận - phê bình nửa đầu thế kỷ; Lý luận - Phê bình 1945 - 1975), các tập từ tập II đến tập X,  là một nỗ lực lớn của cả đội ngũ, vừa là một ân huệ lịch sử. Nói ân huệ lịch sử bởi nó không chỉ là hệ thống hóa tư liệu, thẩm định các tác giả, lựa chọn tác phẩm, phân chia các giai đoạn hình thành thể loại này, mà còn nêu những nhận định tổng quan về một thời kỳ lịch sử đầy biến động, nhưng cũng đầy ưu ái đối với sự phục hưng văn hóa dân tộc, khi cánh cửa giao lưu văn hóa Đông - Tây được mở rộng.

Là người đọc, chúng tôi tri ân các nhà khoa học ở Viện Văn học (thuộc Viện khoa học xã hội Việt Nam) và các cộng tác viên, gồm các Phó giáo sư, Tiến sĩ: Nguyễn Ngọc Thiện (Chủ biên), Nguyễn Đăng Điệp, Đinh Thị Minh Hằng, Tôn Thảo Miên, Hà Công Tài, Cao Kim Lan, Nguyễn Thị Kiều Anh... đã dày công, nghiêm cẩn xử lý một khối tư liệu “lớn như núi”, lại được Nhà xuất bản Văn học trân trọng, cho công bố với hình thức đẹp, trang nhã, bề thế.

Bố cục của 12 tập chia ra hai phần lớn cũng có thể chấp nhận hợp lý: Phần một gồm hai giai đoạn: giai đoạn hình thành trong ba thập kỷ đầu thế kỷ XX, giai đoạn phát triển rầm rộ từ 1932 cho đến năm 1945; Phần hai cũng được chia hai giai đoạn: 1945 - 1954 và 1954 - 1975.

Bình minh của thế kỷ XX với cuộc vận động Duy tân do các sĩ phu yêu nước khởi xướng, nhu cầu giao lưu và canh tân đòi hỏi Việt Nam phải có những cải cách nhiều mặt, trong đó có đời sống văn hóa để tiến kịp với trào lưu văn minh hiện đại. Phong trào giải phóng dân tộc, canh tân đất nước đã xuất phát từ động cơ chủ nghĩa dân tộc chân chính. Từ đó, xuất hiện một cuộc vận động xây dựng nền quốc học, quốc văn trên cơ sở chữ quốc ngữ và tiếp thu những kinh nghiệm học thuật của các nước phương Tây. Rõ rệt nhất là hiện tượng Đông Kinh nghĩa thục. Trong tiểu luận Văn minh tân học sách (1904), trào lưu học thuật này đã tuyên ngôn mở mang dân trí sớm trở thành nước văn minh, có thể theo các con đường: dùng chữ quốc ngữ; tu bổ các công trình văn hóa; sửa đổi phép thi; cổ vũ nhân tài; chấn hưng công nghệ; dùng báo chí là công cụ dân chủ hóa tri thức. Kết thúc Văn minh tân học sách là sự trả lời câu hỏi: Văn hóa nước ta tĩnh hay động? Cố nhiên là động. Bởi vì ngoài ảnh hưởng của văn minh tiến bộ phương Tây, các công trình “tân thư” của nhiều học giả Trung Quốc, Nhật Bản, Nga Xô-Viết đã như những luồng gió mới vượt qua biên giới nước ta, làm thoáng mát, sôi động đời sống lý luận, học thuật. Đúng như Chủ biên Nguyễn Ngọc Thiện đã viết trong Lời mở “Một chặng đường hình thành và phát triển của Lý luận - Phê bình văn học Việt Nam hiện đại nửa đầu thế kỷ XX” in ở đầu tập II: “Các học giả là sĩ phu Đông Kinh nghĩa thục, các chí sĩ Phan Bội Châu, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Võ Liêm Sơn, các nhà báo - nhà văn Phan Kế Bính, Phan Khôi, Tản Đà, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Ngọc v.v … ở những mặt khả thủ, đã có những đóng góp đáng ghi nhận. Các bài viết, các công trình của họ có tác dụng khơi gợi tinh thần độc lập dân tộc và bản lĩnh tư duy hướng về xây dựng nền văn hóa - văn nghệ có tính chất dân tộc, không để bị lỗi nhịp, chậm bước trong thế giới văn minh hiện đại”.

Trong thời buổi biến thông, những hiện tượng giao lưu Đông - Tây càng về các thập kỷ sau càng rầm rộ, nhất là khi giới cựu học cởi bỏ chiếc áo gấm bảo thủ, chuyển biến quan niệm canh tân; giới tân học tuyên ngôn về trình độ dân trí, về văn minh phương Tây. Có một điều lạ, tưởng như mâu thuẫn: các bậc túc nho lại hăng hái nghiên cứu tân thư, vận động duy tân, vừa tôn vinh vị trí nền quốc văn, vừa công nhận nền Pháp văn, lại không từ chối Hán học. Nhiều nhà văn hóa vốn theo nghiệp Nho, vẫn sẵn sàng nghênh tiếp văn hóa Âu - Tây, bởi họ hiểu rằng “tư tưởng học thuật hay, thì quốc vận hay. Nước ta đương buổi này chính là cơ hội thăng giáng của văn chương” (Phan Kế Bính, 1875 - 1921).

Từ những năm 30 trở đi cho đến khi Đề cương về văn hóa Việt Nam 1943 ra đời, phong trào khảo cứu, nghị luận, phê bình sôi động hẳn lên. Có hai hiện tượng học thuật gây chấn động văn đàn và xã hội. Một là, sự ra đời của khuynh hướng lý luận - phê bình mác xít mà chủ soái là Hải Triều với mấy tác phẩm: Duy tâm hay là duy vật  (1936), Văn sĩ và xã hội (1937) là cơ sở cho nhiều cuộc tranh luận. Học phái này còn có nhiều nhà văn hóa kiên trung với chủ nghĩa Mác như: Hải Thanh, Phan Văn Hùm, Hải Vân, Hồ Xanh… Nhờ phép biện chứng duy vật mà nhiều ngụy thuyết duy tâm, thần bí gây tác hại như một thứ nha phiến, khuynh hướng duy vật thô sơ máy móc “mất đường tiến hóa” đã bị đẩy lùi. Cũng nhờ phương pháp luận mác xít mà trong nhiều cuộc tranh luận Thiếu Sơn phải “ngã mũ cúi chào”, Phan Khôi “bỏ sào huyệt mà chạy với tàn quân. Về sau cả Hoài Thanh, Lê Tràng Kiều, Lưu Trọng Lư và một số nhà lý luận khác, nếu coi nghệ thuật là thuần túy, nếu chỉ hiểu nghệ thuật là cái đẹp không thể gắn với cái có ích như quan niệm của Theophile Gautier, đều bị phê phán, công kích. Hai là, những cuộc tranh luận: về Truyện Kiều; về duy tâm và duy vật; nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh; về Thơ cũ và Thơ Mới; về Dâm hay không Dâm trong tác phẩm Vũ Trọng Phụng đã làm dân chủ hóa đời sống lý luận, tranh biện, là một bước tiến mới để phân rõ những quan điểm tiên tiến với bảo thủ, dân tộc với vọng ngoại. Cái khác nhau giữa hai phái về nhận thức, về quan điểm mỹ học, về phương pháp luận thì tương đối rõ. Nhưng phải thừa nhận, giữa họ có những kiến giải tương đồng: đó là tầm nhìn văn hóa rộng, lòng yêu nước, yêu quốc văn, sự tôn trọng nhau trong văn hóa tranh luận.

Từ đây, tư duy lý luận văn học đã đi vào đời sống với các tác giả, tác phẩm: Quốc văn cụ thể của Bùi Kỷ, Phê bình và cảo luận của Thiếu Sơn, Văn chương và hành động của Hoài Thanh - Lê Tràng Kiều - Lưu Trọng Lư, Việt Nam văn hóa sử cương của Đào Duy Anh, Dưới mắt tôi của Trương Chính… Cho đến đầu những năm 40, nhiều chuyên khảo bề thế đã được công bố, có ảnh hưởng thời đó và có giá trị cho đến hôm nay của nhiều tác giả tiêu biểu: Dương Quảng Hàm, Đặng Thai Mai, Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh, Trần Thanh Mại, Ngô Tất Tố, Thạch Lam, Lan Khai, Trương Tửu, Lương Đức Thiệp, Nguyễn Đổng Chi, Kiều Thanh Quế, Lê Thanh…

Tất cả những hiện tượng nói trên là “đêm hôm trước” của sự xuất hiện Đề cương về văn hóa Việt Nam 1943 dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương. Đề cương cùng nhiều bài viết của Trường Chinh, Như Phong, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Hữu Đang, Đặng Thai Mai... trên báo chí bí mật của Đảng là trí tuệ, là ánh sáng lý luận soi đường cho văn hóa dân tộc với ba phương châm: Dân tộc - Khoa học - Đại chúng. Đề cương cũng là ngọn cờ vẫy gọi và tập hợp được đông đảo văn nghệ sĩ của cả nước vào tổ chức Hội văn hóa cứu quốc.

Trong tiểu luận dưới nhan đề: Diện mạo mới của Lý luận phê bình văn học Việt Nam 1945 -1975 (cho các tập VII đến tập XII), Chủ biên công trình Nguyễn Ngọc Thiện chia ra hai giai đoạn phát triển : Giai đoạn 1945 - 1954 và giai đoạn 1954- 1975.

Ở giai đoạn I, chúng ta rút ra mấy nhận xét: Cách mạng tháng Tám đã mở ra một kỷ nguyên độc lập dân tộc, tự do cho văn nghệ sĩ. Nền văn học dân tộc là kết quả của cuộc đấu tranh, lao động, chiến đấu của nhân dân, nên nó là con đẻ của nhân dân mà nhân vật trung tâm của nó là con người mới: công, nông, binh, trí thức. Nhờ những thành tựu của tư duy lý luận mác xít, đời sống học thuật đã được công khai xác lập, nền văn học mới với nội dung dân chủ mới và tính chất dân tộc được ra đời và phát triển. Tuy vậy, đây là thời kỳ “kháng chiến ba ngàn ngày không nghỉ”, điều kiện dành cho văn nghệ nói chung, cho lý luận - phê bình văn học nói riêng vẫn cam chịu phần thiệt, âu cũng là lẽ đương nhiên. Những khẩu hiệu: Văn nghệ là vũ khí của Cách mạng; Văn nghệ phụng sự kháng chiến, phục vụ nhân dân được tôn vinh; những phương châm xây dựng nền văn nghệ dân chủ, có tính chất dân tộc, khoa học, đại chúng; Văn nghệ sĩ là chiến sĩ; Cách mạng hóa tư tưởng, quần chúng hóa sinh hoạt... đã có sức lay động trí tuệ, tâm hồn của hầu hết các nhà văn, nghệ sĩ, nhà học thuật. Có một điều lạ là ngay từ bấy giờ, tính dân chủ trong phê bình được duy trì và khuyến khích với động cơ trong sáng, với mục tiêu vì nền văn nghệ mới, đã củng cố lòng tin, soi tỏ bước ngoặt “nhận đường” của văn nghệ sĩ. Những cuộc tranh luận về văn hóa ở Việt Bắc, về thơ Tố Hữu, về “bình cũ rượu mới” trong việc kế thừa nghệ thuật truyền thống… là những ví dụ.

Đặc điểm nổi trội của lý luận - phê bình vào hai mươi năm (1954 - 1975) phản ánh đặc điểm của một đất nước vừa có hòa bình, vừa có chiến tranh, vừa có thuận lợi, vừa gặp không ít khó khăn, vừa mở cửa, vừa cảnh giác với những hiện tượng phản văn hóa. Lúc này những điều kiện cho sự phát triển lý luận - phê bình như thành lập các viện, các trường đại học, việc củng cố các hội sáng tạo chuyên ngành văn học, nghệ thuật, sự giao lưu với các nước xã hội chủ nghĩa, việc chọn lọc các khuynh hướng nghệ thuật phương Tây… chưa được bao lâu thì cuộc kháng chiến chống Mỹ lan ra cả nước. Cả nước đang gồng mình với nhân tài, vật lực, với khẩu hiệu: Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược… lẽ nào văn nghệ sĩ đứng nhìn đất nước bị đạn bom cày xới?! Tinh thần yêu nước, lòng căm thù giặc được văn nghệ sĩ nhận thức đường đi và nơi đến, lại được Đảng, qua Thư của Ban chấp hành Trung ương gửi các Đại hội văn nghệ toàn quốc lần II (1957), lần III (1962), lần IV (1968) cùng những lời tâm huyết của các vị lãnh đạo đã tác động đến nền văn nghệ chiến đấu. Những cuộc đấu tranh tư tưởng trên mặt trận văn nghệ vào những năm 1956-1957, 1964, 1972 cùng những quan niệm đúng đắn về vai trò và chức năng của văn nghệ trong giai đoạn cách mạng mới; về cuộc sống mới, con người mới; về nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc; về vai trò của thể ký… từng bước khẳng định nền văn nghệ xứng đáng đứng vào hàng ngũ tiên phong của các nền văn nghệ chống đế quốc trên thế giới.

Miền Nam là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam, “miền Nam trong trái tim tôi” (Hồ Chí Minh) là khẩu hiệu, là triết lý sống và hành động của một dân tộc khát khao thống nhất. Dòng máu thống nhất cũng chảy suốt trong văn chương, nghệ thuật, học thuật thời chống Mỹ. Một dòng văn nghệ cách mạng, yêu nước ở vùng giải phóng miền Nam và ở các đô thị lớn đấu tranh chống ảnh hưởng của văn hóa thực dân mới, kiểu Mỹ, bảo vệ văn hóa dân tộc đã ra đời. Một đội ngũ đông đảo những nhà chính luận, khảo cứu, phê bình dù theo lập trường mác xít hay chọn chỗ đứng “trung lập”, thì ở họ ta thấy chủ nghĩa yêu nước sâu sắc, ý thức dân tộc chân chính là phần tinh túy, thuần thục trong nhiều tác phẩm. Một dòng văn hóa ra đời trong bối cảnh đô thị miền Nam thời tạm chiếm không tránh khỏi những nhược điểm khi tiếp nhận những học thuyết hiện đại ở phương Tây. Những biểu hiện cực đoan, những hiện tượng “thấy cây không thấy rừng”, đề cao một chiều hay phủ nhận phiến diện ở một số tác phẩm… âu cũng là điều dễ hiểu, dễ dung thứ.

Như Chủ biên đã cho biết trong Lời giới thiệu ở đầu tập VII, các tập cuối của giai đoạn 1954 - 1975 này, tập XI và tập XII, bộ sách sẽ tuyển chọn kỹ lưỡng đối với những tác giả, tác phẩm thuộc mảng lý luận - phê bình trên văn đàn công khai ở đô thị miền Nam đương thời gồm những cây bút đứng trên lập trường cách mạng, mácxít cũng như những học giả thuộc khuynh hướng tiến bộ, yêu nước, nỗ lực cho việc phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, chống lại sự xâm nhập và ảnh hưởng của văn hóa, văn nghệ ngoại lai phản động và đồi trụy, hoặc thứ văn chương mất gốc, sa đọa.

Ba chục năm nhìn lại, cả cái ưu trội và cái thiếu hụt của giai đoạn học thuật (1945 - 1975) là những bài học bổ ích cho các thế hệ nhà văn, nhà lý luận, phê bình trong bối cảnh đất nước đang chuyển mình sang thời kỳ đổi mới, khi đội ngũ lý luận phê bình được dần dần chuyên nghiệp hóa, để góp phần xây dựng một nền văn học Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong một thế giới hòa đồng, hội nhập.

Chúng ta hy vọng một ngày gần đây các tập tiếp theo của bộ sách tuyển chọn tác giả, tác phẩm Lý luận, Phê bình giai đoạn 1975 - 2000 vẫn do Nhà xuất bản Văn học chủ trì sẽ được ra mắt, hoàn tất việc tinh tuyển tác phẩm thuộc thể loại lý luận, phê bình của văn học Việt Nam hiện đại trên suốt chặng đường dài trọn cả thế kỷ XX đầy biến động.

Hồ Sĩ Vịnh

---------------

(*) Nhân đọc bộ Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Quyển Năm, Lý luận - phê bình đầu thế kỷ XX; Lý luận - Phê bình 1945 - 1975, các tập từ II đến X; Nxb. Văn học ấn hành từ 2005 đến 2010, do PGS.TS. Nguyễn Ngọc Thiện chủ biên.

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác