Nhà văn Việt Nam thời đổi mới- tiếp nối và chuyển động (*)


(Tổ Quốc)- Trong tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườnThời xa vắng, hai cuốn tiểu thuyết được coi là tín hiệu đổi mới của văn học, đều xuất hiện những nhân vật bộ đội trở về cuộc sống đời thường sau chiến tranh. Sự khác nhau trong câu chuyện của những con người bước ra từ chiến tranh cho thấy xu hướng vận động của mỗi thế hệ nhà văn qua cái nhìn nghệ thuật về con người và đời sống. Vậy trong điều kiện văn hóa xã hội và không khí thời đại nào, với nền tảng tư tưởng và ý thức hệ nào đã hình thành nên những thế hệ nhà văn như vậy? Bài viết đi sâu tìm hiểu những chuyển động và tiếp nối của các thế hệ tác giả văn xuôi trong 30 năm qua trên cơ sở khảo sát những tương ứng về ý thức nghệ thuật trong tác phẩm với các phương diện bối cảnh văn hóa xã hội, tiểu sử. Mỗi thế hệ độc giả cần có những người viết đáp ứng mong đợi của của họ, phải chăng văn học Việt Nam đang mất đi vị thế của nó trong lòng người đọc, không hấp dẫn và không thể hiện được tiếng nói chung của đông đảo công chúng? Văn học Việt Nam có thực sự biến chuyển, vận động hay chỉ là sự nối dài văn học những thời kỳ trước?.

Giai đoạn đầu Đổi mới 1986 - 1991 và thế hệ mang ý thức tự vấn

Từ 1986 đến những năm đầu thập niên 1990 là cao trào của văn học Đổi mới đánh dấu sự bứt phá mạnh mẽ của một thế hệ nhà văn hoàn toàn mới mẻ, với những đại diện tiêu biểu Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh... Có thể coi đây là lứa quả đầu của Đổi mới bởi tiếng nói của thế hệ có vị trí đặc biệt trong chặng đầu với sự đột phá trong quan niệm và cái nhìn về đời sống, với từ trường ảnh hưởng rộng rãi. Họ là thế hệ nhà văn sinh vào quãng từ năm 1950-1960, sinh ra và lớn lên chủ yếu trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, trưởng thành cùng với sự nếm trải những năm tháng hòa bình và hậu chiến nhưng chiếc áo nhà văn - cán bộ, nhà văn - chiến sĩ không mặc vừa với họ. Họ là những tác giả đi để trở về, soi ngắm và tự vấn, chính bối cảnh hậu chiến và đổi mới đã quy tụ họ về một không gian chung, nơi tập trung rõ nhất những mâu thuẫn xã hội, và nghịch lý của cuộc sống. Năm 1980, Nguyễn Huy Thiệp từ Tây Bắc trở về Hà Nội sinh sống và mặc dù đã viết một số truyện ngắn từ trước đó nhưng đến 1986, Tướng về hưu xuất hiện mới trở thành một sự kiện của văn học Đổi mới. Năm 1983, Phạm Thị Hoài từ Đức trở về, xuất bản Thiên sứ (1988), Mê lộ (1989) như thổi một làn gió lạ vào văn chương Việt. Bảo Ninh tham gia chiến đấu ở mặt trận Tây Nguyên từ 1969, sau 1975 giải ngũ về Hà Nội học tập và sinh sống, Trại bảy chú lùn năm có từ năm 1987 nhưng phải đến năm 1991 Nỗi buồn chiến tranh xuất hiện dưới cái tên Thân phận của tình yêu mới thực sự đem lại cho tiểu thuyết Việt một thành tựu xuất sắc. Đó là những tác phẩm mang cái nhìn khác trước về đời sống, cách viết vượt ra khỏi những lề lối thông thường. Ngay trong quan niệm văn chương của họ cũng đầy gây hấn: Phạm Thị Hoài, “viết văn như một phép ứng xử” với bản thân và môi trường xung quanh và văn chương là “một trò chơi vô tăm tích”. Nguyễn Huy Thiệp thì cho rằng “nhiệm vụ của các nhà văn không phải là nói ra chân lý mà là thức tỉnh ý thức hướng về chân lý hoặc chí ít cũng là thức tỉnh tình cảm về phẩm giá con người trong họ” (Khoảng trống ai lấp được trong tư tưởng nhà văn). Một trong những dấu hiệu có tính bước ngoặt của văn xuôi đương đại là “từ không gian nhà binh chuyển sang không gian đời thường”, thậm chí viết về chiến tranh, hoặc nhân vật có quá khứ chiến tranh nhưng hướng đến sự khai thác từ góc nhìn đời thường (Lã Nguyên) mặc dù chiến tranh trở đi trở lại trong ký ức khiến người viết tự hỏi “chuyện xưa, kết đi, được chưa” (Bảo Ninh). Đến đây, văn xuôi Việt đã bứt phá ngoạn mục với một thế hệ viết bằng tư duy văn học mới, với lối viết mới hoàn toàn cắt đứt khỏi tư duy phân lập rõ ràng tốt - xấu, địch - ta, chính diện - phản diện. Điều đó dẫn đến xu hướng giải thiêng và giễu nhại trở thành đặc điểm nổi bật của văn học giai đoạn này. Đồng thời văn học cũng chuyển hẳn từ cảm hứng triết luận và tính luận đề sang một hình thái mới: ngôn ngữ tự trình hiện bằng những biểu tượng và ký hiệu. Tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh cho cảm giác như những mảng màu lập thể để người đọc có thể nhìn từ nhiều góc khác nhau. Trong những câu chuyện kể của Nguyễn Huy Thiệp, chỉ có tiếng nói nhân vật cất lên, lời nói tự thân nó thể hiện một quan niệm về đời sống. Người đọc không dễ gì nhận ra tư tưởng của nhà văn qua những chi tiết, sự kiện, nhân vật và cũng dễ mất định hướng trước cái hiện thực trần trụi, “cực thực” được phơi lộ trong tác phẩm. Chính Nguyễn Huy Thiệp phát biểu: “Tôi chỉ viết những gì mà tôi đã sống và thật sự có xảy ra”, cái thật và những trải nghiệm qua lăng kính nhà văn được thể hiện một cách giản đơn, không màu mè, tô vẽ[1]. Nếu như ở thế hệ trước, vấn đề cốt truyện là sự chuyển giao sang mô hình cốt truyện tâm lý thì với các tác giả giai đoạn này, cốt truyện được nới lỏng hoàn toàn. Chính vì vậy cấu trúc bề mặt của Tướng về hưu chỉ là những ghi chép vụn vặt về cuộc sống gia đình kể từ khi ông tướng về hưu - một kiểu nhân vật lạc thời. Nỗi buồn chiến tranh là những chập chờn đứt nối trong dòng ký ức của nhân vật cựu binh Kiên cũng là một kiểu lạc lõng giữa dòng đời.

Nhưng ở bề sâu của tác phẩm là ý thức tự vấn của người viết ráo riết, quyết liệt, đi đến tận cùng con đường đổi mới. Sự hiện diện của thế hệ đầu tiên sau Đổi mới gắn với công cuộc cải cách kinh tế, chính trị, văn hóa mà thành tựu nổi bật nhất là sự xóa bỏ cơ chế kinh tế tập trung bao cấp. Văn hóa văn nghệ là lĩnh vực được quan tâm, sau Đại hội Đảng VI, sau 4 tháng tổ chức chuyên mục Những việc cần làm ngay trên báo Nhân dân, tổng bí thư Nguyễn Văn Linh gặp gỡ văn nghệ sĩ, lắng nghe ý kiến của văn nghệ sĩ và khuyến khích văn nghệ cởi trói, nói thẳng, nói thật. Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị về đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lí văn học nghệ thuật và văn hóa. Có thể khẳng định bầu không khí dân chủ cùng với quan điểm đổi mới tác động tích cực đến đời sống tinh thần con người. Trong đời sống văn nghệ diễn ra những cuộc “xé rào”, “vượt rào”, nhiều cuộc tranh luận cởi mở thẳng thắn. Nhà văn với sự mẫn cảm nghệ sĩ đã đón nhận luồng gió đổi mới với một tâm thế hào hứng để viết một cách tự do thoải mái. Nhờ vậy, thế hệ nhà văn đầu Đổi mới có từ trường ảnh hưởng rộng rãi, tinh thần đổi mới được nhân rộng hơn.

Theo Hoàng Minh Tường, cơn sốt báo Văn nghệ bắt đầu từ năm 1987 và lên đến cao trào năm 1988. Số lượng phát hành từ bưu điện, từ các đại lý, tăng từng tuần, từng tháng, con số phát hành báo đã lên tới hơn 70.000 bản/ kỳ làm báo Văn nghệ chặng đầu Đổi mới. Điều đó cho thấy không khí sôi nổi của văn nghệ khi đón nhận luồng gió Đổi mới. Nguyễn Huy Thiệp thừa nhận tác phẩm của ông ra đời là một sự “cập thời vũ”, cũng như những tác giả cùng thời, ý thức tự vấn trong văn chương của họ đã gặp đúng thời điểm thuận lợi để trở thành tiếng nói của một thế hệ làm nên thành công của văn học Đổi mới.

Từ đầu thập niên 1990 đến nay với thế hệ hội nhập và tinh thần phản vấn

Đây là giai đoạn trỗi dậy của thế hệ của những tác giả đã bắt đầu sáng tác từ thập niên 80 như Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái… những người trải nghiệm giai đoạn đầu đổi mới, và thụ hưởng kết quả đổi mới trọn vẹn hơn: ngoài những nền văn hóa quen thuộc, quá trình giao lưu và hội nhập với quốc tế đã đem lại nền văn học dịch phong phú với những trào lưu tư tưởng lý luận hiện đại, họ cũng là thế hệ kế tiếp chứng kiến và tiếp nhận kinh nghiệm đổi mới từ các lớp trước. Trong văn học giai đoạn này, nhu cầu tự thân của sáng tạo văn chương đã tạo nên một thế hệ đa phong cách, giọng điệu nhưng hướng tới điểm chung là miêu tả con người trong những trạng thái bất thường, buồn nản, thất bại hoặc chìm đắm trong thế giới riêng, rất gần với kiểu nhân vật nghịch dị.

Lý giải vì sao tác phẩm của thế hệ này thường có lối viết khó đọc, khó hiểu, Thụy Khuê cho rằng đó là do nhà văn phải tìm con đường an toàn hơn tránh kiểm duyệt sự đòi hỏi của văn chương hiện hành. Ở đây chúng tôi cũng muốn nhấn mạnh hơn đến tính chất hội nhập của văn chương giai đoạn này khi đồng thời các trào lưu mới của văn học thế giới ùa vào văn học Việt (từ chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, chủ nghĩa cấu trúc, hậu hiện đại và giải cấu trúc…) và khi những trường hợp Đổi mới “đời đầu” tiếp tục tỏa bóng rợp, nhưng ở một bộ phận nào đó vẫn dấy lên những nghi ngại về phương diện chính trị [2] (với cả ba trường hợp Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh) trong khi tác phẩm của họ đã vươn khá xa trên tầm quốc tế[3].

Quá trình Đổi mới đầy mâu thuẫn, thậm chí bị coi là “nửa vời” bởi sau giai đoạn cao trào đã bắt đầu có những hệ lụy và những vùng cấm mọc lên, đây là giai đoạn một số tác phẩm đáng chú ý bị cấm phát hành (Cơ hội của Chúa, Chuyện kể năm 2000, Đi tìm nhân vật…). Đó chính là những kinh nghiệm đổi mới mà các cây bút sau này có thể nhìn thấy được. Nếu như ở giai đoạn trước cốt truyện được nới lỏng và mờ hóa, thì giai đoạn này chứng kiến sự tan rã của cốt truyện. Văn chương dấn sâu vào chủ đề cái ác và bạo lực như là cách đặt câu hỏi phản vấn. Sự tự do của ngòi bút thể hiện trong cái nhìn đa chiều về đời sống, trong cách họ gửi gắm vào thế giới hư cấu đến độ huyễn tưởng. Giai đoạn này cũng chứng kiến thế hệ trở lại sau khoảng thời gian dài im lặng: Nguyễn Xuân Khánh, Bùi Ngọc Tấn, Châu Diên. Với những trải nghiệm đặc biệt, riêng khác của bản thân giúp họ có thể lật giở lịch sử từ những góc khuất.

Một thế hệ kế tiếp đã hình thành trong giai đoạn hội nhập với Nguyễn Ngọc Thuần, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Danh Lam, Trần Nhã Thụy, Nguyễn Đình Tú, Đỗ Bích Thúy, Phong Điệp… Đây là thế hệ nhiều giằng níu, họ khác với các cây bút sau này, mạnh mẽ quyết liệt và dứt khoát hơn, họ đến từ một miền đất vùng quê nào đó vừa hòa vào vừa lạc giữa thị thành, vừa lưu luyến vừa rời bỏ trang giấy sang bàn phím, tuổi trưởng thành của họ vấp luôn vào thời kinh tế thị trường, hướng tới hội nhập, vừa muốn níu giữ quá vãng… Những tác phẩm của họ xoay quanh những tâm trạng day dứt, tự vấn, hoài nhớ, buồn đau, chưa vượt thoát khỏi con người cá nhân. Họ rời bỏ thế giới huyễn tưởng, phi thực của thế hệ trước để trở về với cái tôi cá nhân, đào sâu vào cái mong manh, mơ hồ của thế giới tâm hồn, theo dấu những cuộc kiếm tìm, những mất mát nhằm tái dựng lại cái căn cước bản thân. Điều này có thể được lý giải từ một bối cảnh văn hóa rộng hơn khi quá trình hội nhập diễn ra ngày một sâu rộng. Sự lan rộng của internet và truyền thông, văn học mạng, văn học thị trường càng khiến văn học đi sâu hơn nữa vào con người cá nhân, con người đời thường. Khi tham gia vào những diễn đàn có tính toàn cầu, tiếp nhận và giao lưu với những nền văn hóa khác, mỗi người viết lại càng có ý thức sâu sắc hơn về căn cước cũng như việc tạo nên bản sắc trong nghệ thuật. Ở một góc nhìn khác về thế hệ mà Thụy Khuê gọi là “thứ ba” này, tác giả nhấn mạnh đến khía cạnh thể hiện bản năng tính dục, sex, hoặc ngôn ngữ tục với các đại diện như Ly Hoàng Ly, Vi Thùy Linh, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Ngọc Tư, Lynh Bacardi… Thực ra sex và ngôn ngữ tục như một cách thể hiện tinh thần tự do của người viết phản ứng lại những thiết chế đã xuất hiện ngay từ thế hệ đầu Đổi mới trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Chu Lai, tiếp nối Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà và đến thế hệ Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Ngọc Thuần, Nguyễn Danh Lam, Trần Nhã Thụy, Phong Điệp… không hiển lộ trên mặt chữ nữa mà giấu bên trong các suy tư về văn hóa xã hội như một lối tìm về và khẳng định bản sắc. Ngay cả ở thế hệ đang hình thành sau này, với những cây bút thuộc về văn chương mạng như Nguyễn Quỳnh Trang, Hà Kin, Keng, Hà Thủy Nguyên, Anh Khang… vẫn có thể nhận thấy xu hướng chung là sự thể hiện bản sắc bằng cách trở về với kỹ thuật phân tích tâm lý, ghép nối từng mảnh vụn riêng tư trong một lớp vỏ ngôn ngữ mới.

Sau ba mươi năm tiến hành công cuộc Đổi mới, dẫu chưa có đường biên phân định thực sự rõ nét nhưng từng thế hệ cầm bút tạo đã nên được dấu ấn riêng, có vùng phủ sóng rộng rãi. Trở lên là những lý giải sự hình thành những thế hệ trên cơ sở tìm hiểu cái nhìn nghệ thuật và cảm thức chung của mỗi nhóm tác giả trong mỗi giai đoạn lịch sử xã hội, nói như Nguyễn Huy Thiệp “nhà văn dọn ra món ăn tinh thần cho cả thời đại mình”. Trong từng chặng đường, hành trình của văn học đã có những chuyển động qua sự tiếp nối các thế hệ nhà văn tạo nên dòng chảy chung để văn học Việt có thể vươn tới biển lớn hội nhập.

Đỗ Hải Ninh





------------------

(*) Trích đăng

[1] Nguyễn Huy Thiệp trả lời phỏng vấn Katharina Borchardt:Vui mừng chiến thắng và vết hằn của chiến tranh Việt Nam

[2] Cho đến tận năm 2015, vẫn còn có những bài báo chỉ trích phê bình Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh trên Báo Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh

[3] Cả ba tác giả đều được dịch và in ra nhiều thứ tiếng

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác