Nhà văn sáng tác có cần đi thực tế ?

(Toquoc)- Nhà văn Nguyễn Minh Châu từng chia nghề văn thành hai loại: Một loại phải đi nhiều, tiếp xúc với đời sống thực tế rồi viết và viết được nhiều; Một loại, “không cần đi thực tế, không cần phải tiếp xúc với ai, họ vẫn có thể viết, viết suốt đời”, “đối với họ, đời sống chỉ có ý nghĩa gợi ý hay dựng vấn đề, còn thì tất cả mọi loại nhân vật, mọi tình cảnh, mọi tư tưởng đều đã có sẵn trong cuộc sống tinh thần tư tưởng của họ”.

Nhà văn sáng tác có cần đi thực tế ?  - ảnh 1Chuyện đi thực tế của các nhà văn thế hệ trước

Ở ta, có lẽ Tô Hoài thuộc số ít nhà văn được đi nhiều và quan tâm thuật lại chuyện đi của nhà văn nhất. Đi tới đâu, ông Tô Hoài cũng chú ý ghi chép những chi tiết sống tưởng rất vặt vãnh của văn nhân nước mình. Trong cuốn Chiều chiều, Tô Hoài kể sau 1945 có một phong trào đi thực tế. Tô Hoài về nông thôn dạy nông dân đấu địa chủ. Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng… lên Điện Biên. Kim Lân vác xà beng đi đào sông bên Bắc Hưng Hải. Nguyên Hồng đi đẩy xe goòng nhà máy, Võ Huy Tâm về Hải Phòng đội mũ thợ, đi lò. Hồ Dzếnh xin đi thực tế, nếu không vì thăm người quen, thì cũng để tiện đường về nhà. Sao Mai không đi đâu xa, ông về quê vợ vùng đồng chiêm Nam Định, chẳng những viết được phóng sự, mà còn cai được và có thêm cái khoản “bồng bế theo cả dì hai nó về”. Thanh Đình hôm nào cũng đòi đi thực tế mà không được. Phạm Khanh khẩn khoản đề nghị cấp trên ghi tên mình vào danh sách đi thực tế, vì “có lao động cải tạo mới nên con người”, về được dăm năm thì tự vẫn, chẳng biết làm sao. Nguyễn Hoàng Quân xin đi thực tế, nhưng nghe thấy bảo phải đi nông thôn và làm cu li ở nhà máy liền bỏ về. Đào Vũ đi làm đồng, khoác bừa lên vai, tay dắt trâu giống người làm nông thực thụ về sau được giời cho cuốn tiểu thuyết Cái sân gạch 

Một thời gian dài, nhà văn của ta tâm niệm viết văn phải có ánh sáng soi đường, phải có lí luận. Song thứ ánh sáng đó bao giờ cũng gắn với thực tiễn, lí luận đó luôn được vận vào thực tế. Sau vụ nhân văn, Tô Hoài xin đi học trường viết văn Gorki. Nhưng dự định ấy không được chấp nhận, chỉ vì: người sáng tác cần nắm thực tế đất nước mình. Thời kì Tô Hoài học ở trường Nguyễn Ái Quốc, chương trình học có đến 8 môn, trong đó có môn “đi thâm nhập thực tế ở một hợp tác xã đã cải tiến quản lý (hoặc nhà máy) để kiểm tra, đối chiếu các môn đã nghiên cứu”. Ngoài ra còn có ngoại khoá báo cáo gương điển hình. Ngày ấy, người ta dạy văn nghệ có chức năng giáo dục, chức năng phản ánh chứ không dám nói văn nghệ có chức năng mỹ học. Ai nói về chức năng mĩ học sẽ bị qui vào phần tử có tư tưởng lệch lạc.  

Ngày trước chỉ những ai thật sự được tin cậy mới được bảo đi thực tế. Nhiều người thiết tha đi, nhiều người xin mãi mà không được đi được. Lại có nhà văn đi thực tế để tiện đường về nhà thăm vợ con. Riêng những văn nghệ sĩ bị kỉ luật về vụ Nhân văn có muốn chối đi thực tế cũng không được. Họ phải đi thực tế, đi lao động cải tạo để thấm nỗi đúng sai của con người.

Đi thực tế sinh ra những bút kí, những thơ tả chân, những truyện thời sự, những người thực việc thực; đi thực tế sản xuất ra loại văn học hợp tác xã, văn học nhà máy, văn học công trường, văn học mang hơi hướng sử thi. Nhà văn nào cũng hăng hái lên đường, cũng tha thiết được đến mọi miền của Tổ quốc để được mục sở thị. Chuyện đi thực tế đẻ ra một nền văn học minh hoạ. Nguyễn Công Hoan nói với Tô Hoài: Trong tiểu thuyết Đống rác cũ của tôi, anh bảo anh thương người đàn bà phải đi làm dâu cực khổ trăm bề phải không, tôi sẽ đưa anh về nhà thăm nhân vật ấy.

Cách mạng tháng Tám thành công, trên đất nước ta xuất hiện nhiều mẫu người mới. Trước bối cảnh lịch sử sang trang mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu, văn nghệ sĩ phải miêu tả cho hay, cho chân thật, cho hùng hồn những đề tài phong phú của hiện thực cách mạng, phải chú ý nêu gương người tốt việc tốt. Nhưng muốn làm tốt điều đó nhà văn lại phải đi thực tế, phải gắn bó với thực tế. Bản thân mỗi người cầm bút cũng muốn được đi thực tế để hiểu hiện thực cách mạng và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nguyễn Đình Thi viết Nhận đường để khẳng định quyết tâm sẵn sàng lăn lộn với thực tế. Nam Cao viết Đôi mắt để nói lên việc đi thực tế đã đem lại cho ông cái nhìn đúng đắn đối với người nông dân và cách mạng ra sao. Độ tình nguyện khoác ba lô lên vai, đi hết làng nọ đến làng kia. Hoàng thu mình sống trong ốc đảo. Độ thầm rủa và trách Hoàng “sao anh không đi theo bộ đội, đi diễn kịch tuyên truyền, nhập bọn với đoàn văn hoá kháng chiến để được thấy những sinh viên, công chức sung vào vệ quốc quân, những bác sĩ sốt sắng làm việc tại các viện quân y, những bạn văn nghệ sĩ của anh đang mê mải đi sâu vào quần chúng để học và dạy học, đồng thời tìm cảm hứng mới cho văn nghệ”.

Hoà bình lập lại: Nguyên Hồng về nhà máy xi măng Hải Phòng, Huy Cận về vùng mỏ Quảng Ninh, Nguyễn Huy Tưởng đến chiến trường Điện Biên. Chế Lan Viên viết Tiếng hát con tàu ngợi ca chuyện đi thực tế. Ông có hẳn một bài Đi thực tế:

Suốt một đời ăn hạt gạo nhân dân

Lần thứ nhất nhà văn đi học cấy

Bỗng hối tiếc ngàn câu thơ nước chảy

Chửa “vì người” bằng một bữa ăn cơm

Ở trên đã nói, việc đi thực tế của nhà văn có muôn vàn lí do, ngoài vấn đề viết lách. Có chuyện đi thực tế a dua theo phong trào, lại có chuyện đi thực tế tự nguyện vì muốn nâng cao tầm hiểu biết. Có chuyến đi do bị rủ rê, thích xê dịch. Có chuyện đi vì bổn phận, nghĩa vụ, thiên chức. Có người xin mãi chẳng được đi. Một số nhà văn ngại đi, một số không đi không được. Số “không đi không được” thường mắc chứng bệnh hữu khuynh. Nhưng muốn những người hữu khuynh ấy đi đúng hướng lại cần có người hướng dẫn họ. Vì thế mới sinh ra một đội ngũ nhà văn chỉ đạo chuyện “thực tế”. Cái gì cũng cần thực tế. Chuyện cơm áo, sinh mệnh không thể đùa. Ngày trước, cụ Nguyễn Du ôm hận mà than: văn chương có số mệnh đâu mà “luỵ phần dư”. Ông Viên Mai cảnh báo: lập thân không nên bằng văn chương. Xuân Diệu thấy “đời giơ nanh vuốt”, nên vội bảo: “Cơm áo không đùa với khách thơ”.

Ở Việt Nam, nhà văn phần nhiều ưa thực tế, trọng thực tế. Họ thích bám víu lấy sự thực, nhân danh sự thực để đánh giá, để khám phá và miêu tả. Nhà văn nào cũng tự cho mình có bổn phận phải bám sát thực tế và tả chân thực tế. Chữ “thực tế” ở đây, bao gồm từ cái rõ rệt, cụ thể đến cái lợi ích gần; từ những hoạt động có mục đích cá nhân đến những sự thích ứng được đảm bảo bằng tiền bạc, quyền lực. Từ “thực tế” đối với nền văn học minh hoạ và ưa thích nghi, được dùng để chỉ tất cả những cái có sẵn, được bao cấp và đã trở thành công thức sơ lược; tất cả những cái cũ, giá trị cũ, vốn sống cũ, tiêu chuẩn cũ; tất cả những cái có giá trị thời sự và mang tính lịch sử xã hội; tất cả những cái có thể quan sát được, nắm bắt được và kiểm nghiệm được.

Suốt một thời gian dài, tâm lí đi thực tế thống ngự trên văn đàn Việt Nam. Chính nó khuynh loát nền văn học nước nhà. Sự khuynh loát này biểu hiện ra mấy phương diện sau:

1- Nhà văn nào cũng có nhiệm vụ minh hoạ hơn sáng tạo và nói thực lòng mình, có nhu cầu phản ánh cái khách quan hơn thể hiện cái tôi cá nhân. Không ai dám biến văn chương thành trò chơi, nhưng lại có thể biến nó thành công cụ, phương tiện truyền bá những tri thức quan phương hành chính.

2- Lãnh đạo văn nghệ coi trọng công tác đi thực tế viết minh hoạ; người sáng tác do chịu sự ràng buộc của ý thức hệ và được bao cấp về tư tưởng tình cảm nên cũng chỉ cần đi thực nghiệm.

 3- Quan điểm về thực tế, về lao động sản xuất, về hoạt động chính trị và cách mạng trở thành quan điểm thứ nhất và cơ bản của nhận thức văn học, của lí luận về sáng tác.

 4- Công chúng văn học, trong không khí khẩn trương, sôi sục cũng không có hơi sức đâu mà thưởng thức cái ngoài thực tế.

 5- Nhà phê bình, thì đương nhiên phải lấy thực tế làm tiêu chuẩn kiểm tra tính đúng đắn của sáng tác. Chỉ tiếc nỗi thực tế ở đây chỉ có một chiều.

Vì những lẽ trên, có thể gọi toàn bộ nền văn học Việt Nam 1945-1975 bằng danh xưng văn học thực tế, văn học thực nghiệm.

Văn học thực tế phản ánh kịp thời những diễn biến của lịch sử; đề cao người thực, việc thực. Văn học thực nghiệm bám sát hiện thực nhiều màu vẻ; chú ý nêu gương người tốt việc tốt. Cả nhà thơ lẫn nhà văn đều thâm nhập thực tế để ghi chép lại những điển hình xã hội; đều lấy những nguyên mẫu ngoài đời để dựng lên hình tượng con người mới. Núp trong Đất nước đứng lên, chị Út Tịch trong Người mẹ cầm súng, Nguyễn Văn Trỗi ở tác phẩm Sống như Anh, chị Tư Hậu trong Một chuyện chép ở bệnh viện, chị Sứ trong Hòn Đất… đều có thật. Dĩ nhiên, để có được những thước phim chân thật về lịch sử, về sự đời, nhà văn ta đã phải đổ mồ hôi,và sôi nước mắt.

Văn học thực tế là thứ văn học ra đời sau, trong và nhờ những chuyến đi thực tế của nhà văn. Văn học thực tế là văn học coi nhẹ trí tưởng tượng, coi nhẹ cái tôi sáng tạo, độc đáo. Văn học thực tế là văn học minh hoạ cho lí luận. Thứ văn học mô phỏng, sao chép thực tế chứ không phải hướng tới sự sáng tạo ra một dạng thái sống mới mẻ, độc đáo của con người, của xã hội và nhân loại.

Thử ngược về văn học trung đại, thấy ở ta, tâm lí ưa thực tế cũng bộc lộ khá sớm ở nhà nho ẩn dật. Nếu nhà nho hành đạo ảo tưởng với những đòi hỏi về tu tề trị bình, nhà nho tài tử lãng mạn và phóng túng thì nhà nho ẩn dật lại rất thực tế trước chính trị, trước sinh mệnh và nhân cách của con người. Nguyễn Bỉnh Khiêm bảo: “Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ/ Người khôn người đến chốn lao xao/ Thu ăn măng trúc đông ăn giá/ Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”. Ở ta, người không thực tế, rất dễ mang tiếng dại. Chỉ có kẻ “nhập thế” và thức thời mới được tiếng khôn ngoan. Lịch sử ưu ái những người khôn ngoan.

Xưa nay, những người không thực tế thường rơi vào bi kịch. Ông Khuất Nguyên ở bên Tàu, vì không thực tế nên bỏ xác ở sông Mịch La. Ông Cao Bá Quát của ta, nghịch thế nên bị tru di tam tộc. Lí Bạch không thực tế cho nên đã ôm trăng thả mình xuống đáy sông. Nguyễn Trãi không biết cách thực tế, nên oan khiến khó tránh khỏi. Hồ Xuân Hương thực tế theo kiểu của đàn bà. Đào Tiềm thực tế theo kiểu của đàn ông. Nguyễn Công Trứ thực tế một cách thất thường, nên con đường công danh lận đận, khi thăng khi giáng. Nguyễn Du đi thực tế rất nhiều, mà vẫn lạc lối, nên phải long đong trốn chạy những mười năm trời. Nguyễn Khuyến thực tế theo kiểu cũ, nên chấp nhận tuổi làm quan rất ngắn ngủi. Tú Xương rất thực tế, mà vẫn thất bại, và cay cú. Nguyễn Đình Chiểu lúc đầu chỉ biết ôm khư khư trung hiếu tiết nghĩa; về sau đã thực tế hơn, và do vậy đã có những tác phẩm đáp ứng xuất sắc yêu cầu của thời đại. Vũ Trọng Phụng đặc biệt thực tế, nên mới phát hiện ra tính chất vô nghĩa lí và chó đểu ở xã hội đương thời. Nguyễn Công Hoan nhờ thực tế mà lần ra những tấn kịch. Lúc viển vông, Nam Cao chẳng làm ra ngô khoai gì. Chỉ đến lúc chủ trương văn học phải phản ánh hiện thực trên tinh thần nhân đạo chủ nghĩa thì Nam Cao mới ném ra kiệt tác. Mấy ông Nhân văn Giai phẩm bàn chuyện thực tế, nên chịu cái vạ miệng, vạ bút. Những người chả chơi với thực tế, nên thoát kiếp giời đày.

Chơi với thực tế vừa dễ, vừa khó. Khéo chơi thì ấm êm. Vụng chơi thì nhạt miệng, không khéo bị biếm trích. Lỗ mỗ thực tế rất dễ sa sẩy. Am tường lắm, cũng dễ thành quả trái mùa. Chẳng ai buồn ăn. Chơi với thực tế cũng cần có tài, và khả năng liên tưởng nhiều chiều, nếu kém tài và trường thẩm mĩ hạn hẹp thì văn chương sẽ khô khốc, trơ lì. Nhưng có tài chưa chắc đã đủ, chỗ này còn đặc biệt cần bản lĩnh, sự tinh nhạy và cá tính.

Theo thuyết đi thực tế thì nhà văn đi vùng nào sẽ cho ra đời tác phẩm về vùng ấy. Đi về vùng núi, có tác phẩm vùng núi. Đi ra biển, có tác phẩm về biển. Đi Tây có tác phẩm về xứ người. Đi Tàu, có tác phẩm về anh bạn láng giềng vừa thâm thuý vừa khó tính. Hồi kháng chiến chống hai đế quốc to, nhà văn ta đi thực tế khá nhiều. Ai cũng muốn đi. Sau mỗi chuyến đi, họ đều có những tác phẩm xuất sắc. Chẳng hạn, chuyến lên Tây Bắc những năm 50 đã giúp Nguyễn Tuân khám phá ra chất vàng mười của thiên nhiên, và con người Tây Bắc. Dĩ nhiên, nhờ có chuyến đi ấy, Nguyễn Tuân mới có tập tuỳ bút Sông Đà nổi tiếng. Một nhà văn trẻ hỏi Nguyễn Tuân: “Thưa bác, bác đã viết Sông Đà như thế nào ạ”. Nguyễn Tuân cười hóm hỉnh, rồi trả lời rất ngắn : “Tôi đi, tôi viết”. Nguyễn Huy Tưởng đi chiến dịch biên giới 1950, viết “Kí sự Cao Lạng”. Tô Hoài đi cùng bộ đội tham gia chiến dịch giải phóng Tây Bắc năm 1952, có điều kiện tiếp xúc với cuộc sống tủi nhục của đồng bào các dân tộc miền núi dưới ách phong kiến thực dân, nên viết thành công “Truyện Tây Bắc”. Khi Hà Nội sắp vỡ đê, Tô Hoài phải đi canh đê, đắp đê. Sau chuyến đó, ông đã viết truyện ngắn "Nước lên" gửi cho "Hà Nội tân văn". Nguyễn Khải nhiều lần đến Điện Biên, thâm nhập cuộc sông nông trường những ngày xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, nên đã có tập truyện Mùa lạc (1960).

Lại có chuyện, Chế Lan Viên chẳng cần đến Tây Bắc trong cuộc vận động lên Tây Bắc xây dựng kinh tế những năm 1958-1960, mà vẫn có Tiếng hát con tàu” tài hoa, sắc sảo. Trong khi đó, nhà văn Triệu Bôn chẳng hạn, lại muốn được đi tù để có vốn thực tế. Nhà thơ Nguyễn Anh Nông kể thế này: Sau chiến tranh, đất nước thanh bình, ngỡ cuộc sống rồi ra ai cũng hạnh phúc, đủ đầy, chẳng còn ngang trái, tai ương, ai ngờ cả xã hội ta lúc ấy lại đứng trước những vấn đề mới nảy sinh, không kém phần phức tạp. Một lần nhà văn Triệu Bôn tới thăm người bạn cũ, làm trưởng trại tù, ông thấy rất nhiều người từng làm cán bộ, sĩ quan, thủ kho, quản lý... bỗng trở thành: công dân hạng bét của xã hội. Lúc ấy, nhà văn Triệu Bôn tâm sự - tôi đã xin ông bạn trưởng trại tù cho được đóng giả tù nhân, để tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng, cuộc sống của những người đã mất quyền công dân này. Ông bạn của nhà văn Triệu Bôn đồng ý cho Triệu Bôn làm tù nhân không bản án.

 

Và chuyện đi thực tế của các nhà văn thời nay

Nhà văn ta ngày nay, đi thực tế nhiều vô kể. Đi Tây. Đi Tàu. Tự do đi, tự do viết. Riêng chuyện mở trại sáng tác, có thêm sự này: nhiều người cắp bản thảo về trại để sửa cái đã viết, chả có cái mới nào. Trừ những ông làm thơ giời cho làm toàn những thứ thơ kềnh càng hoặc thưa thớt. Đi theo trại vừa ngắn vừa nhạt, bảo họ viết mới làm sao đây.

Riêng nhà thơ Inrasara quan sát thấy một nghịch lí: hiện nay nhà văn của ta chưa thực sự dấn thân vào đời sống cộng đồng, một sống người còn tỏ ra quan cách trong các chuyến đi. Đối với họ, câu chuyện “ba cùng” với đồng bào (nhất là dân tộc thiểu số) thật xa vời và viển vông. Họ không đời nào chịu đặt bàn viết giữa cuộc đời phồn tạp. Chỗ làm việc của họ, phải ở những căn phòng tiện nghi, sang trọng. Nếu đem so sánh chuyện Nguyên Hồng đẩy xe goòng nhà máy xi măng, Võ Huy Tâm làm công việc của người thợ mỏ đầy vẻ gian nan, nhọc mệt, sẽ thấy việc đi thực tế của những nhà văn ta bây giờ, nhàn nhã mà vẫn được nhận tiền tài trợ. Chỉ buồn một nỗi, họ chẳng đẻ ra tác phẩm nào cho ra tấm ra món.

Nhà văn sáng tác có cần đi thực tế ?  - ảnh 2Nhà văn Trần Thuỳ Mai rất quan tâm đến chuyện thực tế, chị tâm sự với chúng tôi: “Tôi thích dùng từ “đi” hơn mấy chữ “đi thực tế”. Bởi mấy chữ “đi thực tế” gợi nhớ đến kiểu đi quan sát thực tế ở nhà máy, nông trường ngày trước, thời người ta còn khuyến khích viết về sản xuất, chiến đấu… Mấy chữ “đi thực tế” ... gợi cho mình một cảm giác không mấy dễ chịu. Còn nếu chỉ nói về những chuyến đi nói chung, thì rất cần cho tất cả mọi người chứ không riêng người cầm bút. Bởi vậy, du lịch mới trở thành quan trọng đối với cuộc sống hiện nay. Mọi chuyến đi đều mở rộng biên độ cuộc sống, mở rộng tầm nhìn, sự hiểu biết. Nói tóm lại, nó làm phong phú đời sống tinh thần của bạn”. Nhà văn Tô Hoài bổ sung thêm: “Mỗi nhà văn để đạt tới một tầm vóc nào đó, phải có một thực tế nhất định. Có thực tế cũng không nhất thiết phải đi thực tế trực tiếp. Có thể tìm ở sự quan sát. Có thể tìm trong báo chí”.

Vậy “sức sống và giá trị của tác phẩm văn học có quan trực tiếp với những chuyến đi thực tế của người viết không?”. Câu hỏi này đúng với một số trường hợp. Nhưng đa phần đều sai.

Từ góc độ của người sáng tạo, nhà văn Trần Thuỳ Mai khẳng định: “những chuyến đi giúp người ta mở rộng tầm nhìn, rất bổ ích cho người cầm bút. Nhưng không hẳn người ta sẽ viết về những điều trông thấy trong chuyến đi. Còn tác phẩm có hay và có sức sống hay không thì trước hết do tài năng của nhà văn chứ. Thêm một điều này nữa: không phải chỉ bằng cách đi người ta mới thâm nhập sâu sắc vào thực tế cuộc sống. Bởi vậy mấy chữ “đi thực tế” rất chệch choạc. Vấn đề ở đây không phải chuyện “đi” thực tế nữa, mà thành việc sống và cảm nhận thật trọn vẹn về cuộc sống”.

 

Trần Thiện Khanh
(Ảnh: Hoài Anh)

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác