Nhà thơ Nguyễn Hoa: Thơ phải nói được bản thân mình

(Tổ Quốc) - Nhà thơ Nguyễn Hoa đã bày tỏ quan niệm của ông về thơ “… Tôi quan niệm về thơ rất giản dị. Thơ phải nói được chính bản thân mình, tức là thơ phải có cái tôi, đọc phải nhận ra được, nếu chỉ là màu sắc chữ nghĩa ồn ào thì nó sẽ chóng tàn”.

Nhà thơ Nguyễn Hoa có tên khai sinh là Nguyễn Hoa Kỳ, sinh ngày 12/02/1947 tại xã Nhật Tân, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Ông tham gia Quân đội nhân dân Việt Nam lúc 19 tuổi và tại ngũ 23 năm từ 1966 đến 1989. Ông rời quân ngũ với quân hàm Đại uý. Trong quân đội thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Nguyễn Hoa là nhân viên kỹ thuật ngành Quân giới. Với bản tính đam mê văn chương, nhất là thơ, sau hòa bình lập lại ông làm phóng viên, rồi biên tập Chương trình phát thanh Quân đội, biên kịch Xưởng phim Quân đội nhân dân. Năm 1979, ông được Quân đội cử đi học Trường viết văn Nguyễn Du khóa I, cùng với các nhà thơ, nhà văn nổi tiếng như Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Trọng Tạo, Phạm Hoa... Năm 1989, Nguyễn Hoa được chuyển ngành về công tác tại cơ quan Hội Nhà văn Việt Nam. Tính đến nay ông có hai năm liên tục làm công tác ở Ban Tổ chức hội viên của Hội. Ông được bầu vào Ban Chấp hành Hội Nhà văn việt Nam khóa VIII (2010- 2015).

Nhà thơ Nguyễn Hoa: Thơ phải nói được bản thân mình - ảnh 1

Nhà thơ Nguyễn Hoa và tập thơ "Thành phố tôi đang sống" (*)

Qua một số tập thơ của nhà thơ Nguyễn Hoa, tôi nhận thấy thơ Nguyễn Hoa có một vài đặc điểm rất khó trộn lẫn với thơ của những người khác, mà người ta thường nói thơ hợp với tạng người, còn ngôn ngữ của các nhà chuyên môn gọi là phong cách thơ.

Đối với người làm văn chương, nghệ thuật nói chung và thơ nói riêng, dù mới tập làm hay làm cả đời mà không tạo được phong cách, tức là dấu ấn riêng của chủ thể sáng tạo trong từng tác phẩm của mình thì coi như chưa thành nhà thơ mà cùng lắm cũng chỉ là người viết thơ. Nhà thơ là một giá trị khu biệt và sang trọng, không trộn lẫn với bất cứ ai, cũng như không bao giờ cho phép được lặp lại chính mình. Đây là một đòi hỏi nghệ thuật không những nghiêm túc, chính đáng mà còn khắt khe, không phải ai cũng vươn tới được. Nói như vậy để thấy rằng để có thể trở thành một nhà thơ đích thực người cầm bút phải nỗ lực không ngừng nghỉ ở nhiều phương diện, khía cạnh khác nhau trong suốt cả cuộc đời. Vinh quang ấy chỉ dành cho những ai dám hy sinh vì nghệ thuật thi ca chân chính, không dành cho những người ăn xổi, ở thì, ồn ào và háo danh.

Chính người bạn gần gũi nhất của nhà thơ Nguyễn Hoa là nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo và một số người đọc nhiều thơ ông đều có chung nhận định, Nguyễn Hoa là người rất kiệm lời trong thơ. Trong 15 tập thơ mà ông đã xuất bản chỉ có khoảng trên dưới trăm bài thơ trung bình và dài, còn lại đều là thơ ngắn, thậm chí có bài không thể ngắn hơn nữa, chỉ có 8 chữ: Em là muối/ ướp nỗi đau/ tươi mãi.

Đối với những người không quen đọc và bình thơ, rất khó để xác định đây là một bài thơ hoàn chỉnh hay chỉ là một câu thơ.

Do “tạng” của mỗi cá nhân mà có người thích viết thơ dài và trường ca. Có người thì làm thơ ngắn dài lẫn lộn tùy theo cảm hứng. Có người chủ yếu làm thơ ngắn và rất ngắn như Nguyễn Hoa. Tuy nhiên, độ ngắn dài của một bài thơ, thậm chí là cả đời thơ của một ai đấy, chưa nói lên nhiều giá trị nghệ thuật đích thực của thơ. Quan trọng là bài hay tập thơ ấy có đem lại giá trị tư tưởng và thẩm nghĩ đối với người thưởng thức thông qua cảm xúc, cách thức tổ chức câu, tứ thơ, giọng điệu, cách sử dụng ngôn ngữ thơ của chủ thể sáng tạo. Tôi cho rằng, thơ ngắn cũng có hay, có dở và thơ dài cũng vậy. Với riêng trường hợp của nhà thơ Nguyễn Hoa, có nhiều bài thơ ngắn, rất ngắn mà vẫn hay, thậm chí rất hay, như bài vừa dẫn trên.

Đây là những suy tư của ông về đất, lửa, mặt trời và người lính chiến, những yếu cơ bản làm nên và bảo vệ sự sống trên trái đất này: Mặt trời lặn xuống đây/ Thức suốt đêm trong ngọn lửa/ Chúng tôi ngồi cùng đất/ Xòe ngắm hai bàn tay/ Chưa ai nói hết với ai/ Cái phập phồng trong đêm không ngủ/ Chúng tôi ngồi tâm sự với đất đai. (Những người đi về phía mặt trời).

Theo tôi, thơ ngắn mà nói đủ cái mình cần nói với bạn đọc, thì hà cớ gì phải viết dài. Ngược lại nếu viết ngắn mà không thể chuyển tải hết được những điều mà nhà thơ cần nói với độc giả của mình thì hà cớ gì không viết dài hơn. Có lẽ đấy cũng là quan niệm về thơ của Nguyễn Hoa chăng: Sự chân thật/ Con đường thẳng nhất/ Của ngôn từ/ Tới thơ. (Tới thơ).

Mùa thu của anh, cũng là của em, của tôi và của tất cả chúng ta. Đơn giản và ngắn gọn là vậy mà đâu đã có mấy người nghĩ ra và viết nên những câu thơ như Nguyễn Hoa: Chót hè, quả na mở mắt/ Ngây nhìn sớm chớm heo may/ Tiếng chim ngất trời trong vắt/ Rung rinh chạm cánh mây bay. (Mùa thu của anh).

Suy tư về những điều tưởng như là hiển nhiên của đất trời, vạn vật, nhưng chưa hẳn đối với con người dễ dàng mà có được. Bằng mấy câu thơ thật sự ngắn gọn, Nguyễn Hoa đã khái quát nên điều ấy một cách khá tinh tế: Sóng dạt dào: biển lớn/ Thông vi vu: thông cao/ Cỏ rì rào: cỏ bén/ Tôi làm sao/ Có: - biển lớn - thông cao - cỏ bén trong hồn? (Trong hồn).

Và đây lại là một sự khám phá bất ngờ thú vị khác, khiến người đọc phải suy ngẫm về những điều thật sự cay nghiệt, tưởng vậy mà không phải vậy. Vào ban đêm, những hôm trời quang mây tạnh, sao trên trời tỏa sáng, vào ban mai trong lành chim sơn ca hót vang chào bình minh ngày mới. Điều ấy như một lẽ tự nhiên của vạn vật, muôn loài. Nhưng cuộc sống có nhiều cái, nhiều khi lại không diễn ra theo lẽ tự nhiên ấy, mà theo một trật tự bất bình thường khác. Đấy chính là cơ hội làm bật nhú những giây phút mặc khải cho những thi tứ phát lộ. Nhà thơ Nguyễn Hoa là người khá tinh nhạy trong việc nắm bắt những khoảnh khắc ấy như một nghệ sĩ nhiếp ảnh lành nghề để làm nên một bức ảnh - thơ tuyệt đẹp và đầy bất ngờ:

Bình minh/ Chim sơn ca mải mê cất cao tiếng hót/ Chùm lá biếc rung rinh/ Người đi săn giương súng lên rình/ Mà không biết/ Chim sơn ca vẫn hót/ Cả cho số phận mình! (Chim sơn ca)

Những bài thơ ngắn như thế này không nhiều người có thể đạt đến cái ngưỡng ấy của Nguyễn Hoa, đặc biệt là những bài ông viết về những suy tư lẽ đời, lòng người thường ngắn, rất ngắn và mang tính triết lý rõ rệt.

*

Đặc điểm thứ hai của thơ Nguyễn Hoa chính là ông chủ yếu làm những bài thơ đọc để ngẫm cái lý lẽ ở đời hơn là để cảm thụ theo kiểu “vỗ đùi đánh đét” một cái, xong rồi thôi, tưng hửng, chẳng có gì để bàn, để nghĩ tiếp. Đây chính là căn cốt qui định độ dài ngắn bài thơ của ông. Mục đích là để rút ra một điều gì đấy về triết lý nhân sinh hay qui luật vần xoay của vũ trụ đất trời, vạn vật thì người ta không thể cứ dây cà ra dây muống, tràng giang đại hải nhiều trang giấy rồi mới nói đến cái mình muốn nói. Vậy nên buộc nhà thơ phải dụng công chọn lọc thật sự kỹ càng từng chi tiết, ý tứ và ngôn ngữ thể hiện, cốt là để bày tỏ quan niệm của mình trước cuộc đời này càng nhanh càng tốt, càng ngắn càng hay. Có lẽ vì thế mà thơ Nguyễn Hoa thường ngắn. Liệu có phải vì thế mà một số người bảo thơ ông khô khan, khó đọc. Tôi chia sẻ ý kiến này của Phó Giáo sư - Tiến sĩ Hồ Thế Hà: Thơ Nguyễn Hoa không mới về thể thơ và hình thức biểu đạt, nhưng lại có thế mạnh về vốn sống và sự ám ảnh lớn về nhân sinh, kiếp người do anh biết lọc từ hiện thực những sự việc và kinh nghiệm quan hệ giàu tính triết ly, chiêm nghiệm thông qua cách tổ chức tứ thơ, hình ảnh thơ và liên tưởng thơ gần gũi mà bất ngờ.

Điều này đúng đối với phần đông những người đọc thơ để thưởng lãm, tiêu dao. Còn đối với giới chuyên môn, những người làm phê bình chuyên nghiệp không có thơ nào là “khô khan, khó đọc”. Có lẽ hầu hết các bài thơ của Nguyễn Hoa mà tôi đã đọc cuối cùng là để rút ra một điều gì đấy mang tính triết lý về nhân sinh. Ngay cả những bài thơ Nguyễn Hoa viết về mẹ, một đối tượng rất giàu tình cảm, nhưng ông cũng đã cố gắng nén lại để rồi cuối cùng rút ra một điều gì đấy gửi tới bạn đọc yêu quí thơ mình: Mẹ ơi!/ Mẹ mặc áo tứ thân/ Đầu đội khăn mỏ quạ/ Ba ông đầu rau chụm đầu giữ lửa/ Nhà lối ngõ đi bên/ Mẹ cấy gặt một đời chẳng đủ/ Những đồng xu đầy bụng chú lợn đất đựng tiền/ Cây lúa cấy chìm/ Đồng Ao Sung, Ao Vối.../ Mẹ thân cò lặn lội năm vận đói/ Bỏ tổng, bỏ làng/ Bao nhiêu người kiến vỡ tổ lang thang... (Mẹ)

Bài thơ như một câu chuyện về người mẹ nông dân suốt đời lam lũ, gắn chặt với làng quê nghèo khó quanh năm. Mẹ chính là cái hàn thử biểu đo tất thảy những biến cố lịch sử của làng. Mẹ yêu thương con, điều ấy mấy ai không biết. Nhưng người mẹ của nhà thơ Nguyễn Hoa yêu thương con theo cách riêng của bà. Ấy là vào những năm thiên tai, giặc giã, bao người bỏ làng ra đi còn mẹ vẫn kiên trì bám trụ, nuôi con khôn lớn, dẫu cả đời mẹ cấy gặt mà chẳng đủ ăn. Mẹ ơi!/ Con là đứa trẻ trở về/ Như trưa nào tan học/ Da xanh mét, sốt rừng ngã nước/ Nhưng con đã đi suốt mười năm đánh giặc/ Mẹ ơi!/ Tóc mẹ bay trắng một khoảng trời/ Khoảng trời đời con xa mẹ/ Áo nâu ngày ấy/ Tay mẹ gầy ống áo có chùng ra.../ Con biết bao năm qua/ Mẹ gánh trên vai tất cả/ Bởi mẹ là Mẹ.

Một cái kết thật đơn giản, nhưng không khỏi bất ngờ khiến ai cũng rưng rưng và tự hào về người mẹ rất đỗi kính yêu của mình bởi chỉ vì mẹ là Mẹ, chứ không phải là ai khác. Có vậy thôi, nhưng tất thảy chúng ta, những người con của mẹ hãy tự soi mình vào tấm gương của mẹ mà sống sao cho xứng đáng. Đấy là một triết lý nhân sinh tích cực mà nhà thơ Nguyễn Hoa đã rút ra và muốn trao gửi cho tất thảy mọi người.

Khách quan mà nói, đây là một bài thơ rất giàu cảm xúc, nhưng Nguyễn Hoa đã biết dồn nén chúng đến mức tối đa, thậm chí không còn được thể hiện ở tầng ngôn ngữ văn bản, mà dường như chỉ thấy nhà thơ nói về sự vất vả của người mẹ nghèo hai sương một nắng chốn quê làng, lặn lội thân cò kiếm ăn để nuôi con khôn lớn. Những câu như: Tóc mẹ bay trắng một khoảng trời hay tay mẹ gầy ống áo có chùng ra... là những câu thơ hay, đầy cảm xúc mà vẫn chứa đựng một điều gì đấy, mang tính tất yếu, tiệm cận với chân lý: Tay mẹ gầy, ắt tay áo phải rộng ra.

Trong bài thơ này và nhiều bài thơ khác nữa, người đọc rất ít khi thấy nhà thơ có những câu, chữ mang tính chất đưa đẩy làm mềm hóa câu thơ, như là những phút giây “thư giãn” hay “giải lao” cho người đọc mà chủ yếu là ông nghĩ. Nghĩ đến cùng, khi không nghĩ được nữa thì bật ra thơ. Và mỗi con chữ trong thơ ông buộc phải gánh trên vai một sứ mệnh nhất định, không có nhiều chữ sinh ra để “làm màu”, “làm hàng” như một số cây viết trẻ hiện nay.

Điều ấy thể hiện khá rõ trong quan niệm về thơ của nhà thơ Nguyễn Hoa qua bài Quả tim lành mà ông đã lấy cảm hứng từ bai thơ của nhạc sĩ, nhà thơ Văn Cao: Không phải vì tứ lạ/ Vì những kỹ thuật điêu luyện nghề thơ/ Mà ở đây, bây giờ/ Tôi nhận ra/ Cái giá/ Đã trả/ Cho những bài thơ: “Những con người có thật của chúng tôi”/ ...Sống không cũ/ Bền trong sổ…/ Sống mọc rễ/ Thành cây/ Tươi lá/ Từ một QUẢ TIM LÀNH/ Để cây xanh/ Lớn cao/ Không cầm được nó/ Bằng lưới vô hình!

Không biết có phải vì quan niệm quá nghiêm khắc về thơ hay không mà ông cũng đã từng không ít lần nếm trải những đắng cay, tê buốt tâm can cách đây nhiều năm về trước: Người ta quăng thơ tôi vào sọt giấy/ Và ngoảnh lại: một cái bĩu môi/ Tôi thì xin: trên tay run rẩy/ Những đứa con mồ côi. (Vô đề - 1981)

Nói như vậy không có nghĩa thơ Nguyễn Hoa không có những bài đầy chất lãng mạn như một bản tình ca đôi lứa. Ta hãy đọc một bài trong tập Thành phố tôi đang sống của ông để cảm nhận được một tâm hồn nhạy cảm trước sự vần xoay của thiên nhiên, trời đất: Trời bung ra như một chiếc ô/ Sau mưa đường mát như trải lá/ Em biếc xanh, cây thướt tha óng ả/ Bóng xôn xao tăm cá mặt hồ.../ Đôi mắt tôi sáng to trong mắt bạn bè/ Nghìn cửa sổ mở hồng trang sách/ Gió của trời hay là của đất/ Lá trên cành xanh mãi phố xanh ra.../ Em sau mưa - Em gần gụi nhường kia/ Vẫn sắc áo ngày thường tôi bỗng lạ/ Vẫn thành phố ngày thường sao mới mẻ/ Để bây giờ tôi có cả - sau mưa. (Sau mưa)

Có một thực tế rất khó chối cãi là thơ nghiêng về cảm xúc dễ dàng chia sẻ hơn là thơ nghiêng về trí tuệ. Nhưng như vậy, không có nghĩa thơ nghiêng trí tuệ không có chỗ đứng nhất định trong lòng bạn đọc từ trước đến nay. Minh chứng là hai cây đại thụ thi ca cùng trang lứa là Xuân Diệu và Chế Lan Viên. Thơ Xuân Diệu thường bày tỏ tình yêu đôi lứa, tình yêu đất nước, con người và cuộc đời. Còn thơ Chế Lan Viên thường luận lý về những vấn đề có tính chất “đại sự” quốc gia và nhân loại. Tuy chưa có một thống kê xã hội học đầy đủ và chính xác, nhưng tôi tin chắc rằng thơ của Xuân Diệu được nhiều người đọc và chia sẻ hơn thơ của Chế Lan Viên.

Thơ của Nguyễn Hoa có nhiều điểm tương đồng với thơ của Chế Lan Viên, tức là nghiêng về trí tuệ, dù khi ông viết về những vấn đề gần gũi, thân quen với cuộc sống thường nhật. Theo Nguyễn Hoa, bài thơ nhất thiết phải đem đến cho người đọc đằng sau những xúc cảm, giọng điệu và ngôn từ là một điều gì đấy về quan niệm nhân sinh hay về những điều tưởng như không thể mà vẫn có thể. Có lẽ vì thế, thơ ông không quá câu nệ về vần điệu, niêm luật như các thể loại thơ truyền thống, mà cũng không quá chú tâm đến việc tỉa tót hình thức ngôn từ biểu đạt như một số cây viết trẻ vài năm trở lại đây. Đối với không ít người chưa quen đọc và thẩm nghiệm loại thơ này chắc chắn sẽ cảm thấy không thích và có phần lúng túng khi nhận xét, phẩm bình. Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, người bạn thân với nhà thơ Nguyễn Hoa trên dưới 40 năm từng chia sẻ: Có lần tôi hỏi anh: Có cần làm lại thơ mình không? Anh trả lời tôi bằng câu thơ của Becton Brecht: “Nếu phải đi trở lại/ Tôi lại đi đường này”. Điều này tôi hoàn toàn có thể tin được qua đọc tập thơ gần đây nhất của nhà thơ Nguyễn Hoa vừa mới ký tặng.

Theo tôi, mỗi tác giả, tác phẩm, mỗi loại thơ đều có cái hay và cái chưa hay nhất định của nó. Vấn đề là người đọc hôm nay cần phải mở rộng quan niệm về thơ cũng như thay đổi cách đọc, cách cảm, cách nghĩ đối với mỗi loại thơ, ngõ hầu khi tiếp xúc với bất kỳ văn bản thơ nào cũng có thể tìm ra được những cái hay, cái đẹp còn ẩn chứa tiềm tàng trong đó, những mong làm thỏa mãn nhu cầu thưởng thức thơ ca của mỗi người.

Đỗ Ngọc Yên

---------------

(*) Thành phố tôi đang sống. Thơ. Nguyễn Hoa. Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2017

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác