Nguyễn Ngọc Tư - Từ ‘Cánh đồng…’ tới ‘Đảo’ (*)


(Toquoc)- Trước khi ra tập truyện ngắn Đảo (2014), Nguyễn Ngọc Tư đã từng ra tiểu thuyết đầu tay có tên là Sông (2012) và một tập thơ cũng đầu tay nốt có tên là Chấm (2013). Ấy là nói những cuốn sách gần đây nhất mà tên của nó duy chỉ một từ, còn những cuốn có tên từ hai từ trở lên, chị đã có cả hàng tá. Và Ngọc Tư đang dọa sẽ ra tập truyện ngắn thứ hai cũng trong năm nay có tên Trầm tích, in chung với Huệ Minh, Lê Thuý Bảo Nhi và Thi Nguyễn.

Có lẽ vì sau cái đậnCánh đồng bất tận” ẵm bộn cả tiền bạc lẫn tiếng tăm. Cụ thể là tính đến 2010, đã tiêu thụ hết 108.000 cuốn. Hơn thế nữa năm 2007, tác phẩm được dịch ra tiếng Hàn và được nhà xuất bản Seoul phát hành. Năm 2008, tập truyện được dịch qua tiếng Thụy Điển với tên Fält utan slut. Tác phẩm này cũng đã được dựng thành phim điện ảnh của đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình, khởi chiếu trên phạm vi toàn quốc từ 22/10/2010...

Thế là cứ tì tì mỗi năm một cuốn, có khi là hai, ba, Ngọc Tư ra sách đều khiến không ít người trong làng văn chương phải ghen tị. Chị viết nhiều thể loại từ truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, ký cho đến thơ và là một trong số những nữ văn sĩ thuộc loại đẻ khỏe.

Ngọc Tư xuất hiện trên văn đàn khá sớm. Kể từ năm 1996, truyện ngắn đầu tay Đổi thay của Nguyễn Ngọc Tư được đăng trên một tờ báo tỉnh, đã tạo cho cô một nhân viên tạp vụ ở Văn phòng Hội Văn nghệ Cà Mau một cú hích, như là định mệnh, dẫn dắt cô bé nông dân Nam Bộ xịn này đi theo con đường văn nghiệp lúc nào, mà ngay chính cô cũng không biết nữa. Thế rồi, thời gian qua mau, trong quãng 18 năm có lẻ, gia tài văn chương của Ngọc Tư đã lên đến hàng trăm truyện ngắn, tản văn, bút ký và gần 20 đầu sách. Chỉ với ngần ấy thôi, Ngọc Tư đã làm cho rất nhiều bậc lão thành trong làng văn và cả những nhà văn thành danh cũng phải thèm thuồng, trầm trồ và ngưỡng mộ về sức viết của cô gái đất Mũi này.

Truyện ngắn Ngọn đèn không tắt của Nguyễn Ngọc tư đã đoạt giải Nhất cuộc vận động sáng tác Văn học tuổi 20 lần II, năm 2000, do NXB Trẻ, báo Tuổi Trẻ và Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh phát động. Tiếp đến tác phẩm này của cô đã nhận được Giải B của Hội nhà văn Việt Nam, năm 2001, Giải thưởng của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn Học- Nghệ Thuật Việt Nam, năm 2001. Đến năm 2003, Nguyễn Ngọc Tư là một trong Mười nhà văn trẻ xuất sắc tiêu biểu của năm 2002. Năm 2006, với truyện ngắn Cánh đồng bất tận, Ngọc Tư nhận Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam. Sau đấy, tập truyện ngắn mang tên Cánh đồng bất tận và truyện ngắn Cuối mùa nhan sắc do Hội Nhà văn Việt Nam đề cử, đã được dịch sang tiếng Anh và nhận Giải thưởng văn học ASEAN tại Thái Lan, tháng 10/2008.

Cánh đồng bất tận người đọc dễ dàng nhận thấy cuộc sống của ba cha con ông Tư, hai chị em Nương và Điền thiếu vắng tình thương của người mẹ và cuộc đời phiêu bạt của người phụ nữ Sương. Những mảnh đời không lành lặn trôi dạt nay đây mai đó theo con nước bị số phận run rủi gặp nhau, tưởng rằng đã có thể nương tựa lẫn nhau nhưng lại không thể ghép lại thành một gia đình trọn vẹn vì những mặc cảm cá nhân và trái ngang của số phận.

Sương, người đàn bà có số phận như cái tên của mình, trôi dạt từ đất Sài Gòn về vùng sông nước làm gái nuôi thân thể hiện hình ảnh một phụ nữ thân phận tận cùng của xã hội nhưng sâu thẳm tâm hồn vẫn chỉ là người phụ nữ bình thường. Bị đánh ghen một cách kinh khủng nhất nhưng vẫn biết thân biết phận mà im lặng vì biết lý do chính đáng. Vẫn là một người phụ nữ đơn giản mơ ước một người đàn ông và một tổ ấm cho riêng mình với những đứa con, Sương yêu ông Tư trong từng ánh mắt trìu mến, cử chỉ trong mâm cơm, hay cách gục đầu tìm đôi vai nương tựa. Nương và Điền lớn lên với tâm lý và hành xử không ổn định vì thiếu sự chăm sóc của cha và tình thương yêu giáo dục của mẹ, đặc biệt là những kinh nghiệm sống và sinh hoạt vùng sông nước miền Tây.

Còn tập truyện ngắn Đảo mới xuất bản gần đây của Ngọc Tư, không dày, chưa đến 150 trang, gồm 17 truyện, nhưng vì kiêng con số 17, mất hên, nên chị chỉ ghi ở bìa 4 cuốn sách có 16 truyện thôi, trong đó phần lớn là những truyện khá ngắn, khoảng trên dưới 2.000 chữ, thậm chí có truyện chỉ trên dưới 1.000 chữ. Điểm khác biệt so với những truyện ngắn và truyện vừa trước đây, đặc biệt là truyện vừa Cánh đồng bất tận, ở tập tập truyện này số chữ ít đến mức không thể ít hơn được nữa, nhưng dường như tiếng vọng của hồn cốt câu truyện lại dài rộng ra trông thấy.  

Displaying photo0581.jpg

Bìa sách

Đảo người đọc cảm thấy dường như Ngọc Tư muốn làm một cuộc thám hiểm mới, không chỉ là đi ra đảo hoang ngoài trùng khơi, mà chủ yếu là lách vào những ốc đảo cô lưu của lòng người. Ngay ở truyện ngắn Đảo, chị kể lại chuyện một người đàn ông tên Sáng duy một mình ra đảo Hòn Trống, nơi mà chỉ có: Cái gọi là nhà lọt thỏm giữa những bãi đá và vài ba luống rau, những lùm bụi hoang dại. Từng ấy đất đá chỉ là chút bụi mờ trên mặt trùng khơi… Giữa trời và nước, nghe sóng vỗ miết đến người cũng mòn (tr. 33- 37). Ngay cả một người đàn bà được đưa ra Hòn Trống trong vòng 27 tiếng đồng hồ như một món quà từ trên trời rơi xuống, mà Sáng cũng chẳng hề bận tâm bất cứ điều gì, ngay cả việc tên của người đàn bà ấy là Đào, Mận hay Phượng mà gã cũng còn không biết, huống gì cuộc sống đi bụi chị ta. Cũng vậy, người đàn bà ấy cũng không hay biết Sáng là ai, làm gì và vì sao lại trốn ra đảo sống một mình. Họ đến với nhau rồi chia xa như bầy chim di trú một cách đầy ngẫu nhiên, mang tính bản năng vậy thôi, hỏi lấy đâu ra cuộc sống của một con người bình thường ở chốn hoang vu này.

Ở truyện Tro tàn rực rỡ, hai vợ chồng Tam và Nhàn sống ở xóm Thơm Rơm. Ông chồng suốt ngày say rượu và khi say ông chỉ có một thú vui duy nhất là đốt nhà để được ngắm những đốm tro tàn đỏ rực. Được biết, Tam đã không dưới năm lần tự tay đốt nhà mình để ngắm, cái mà phần lớn người đời vừa lo ngại, vừa hoảng sợ, còn Tam lấy đấy làm thú tiêu dao. Nhàn, vợ Tam thì cứ để mặc cho chồng đốt, vì cô nghĩ Tam sẽ ngồi im như khúc gỗ để ngắm ngôi nhà của mình đay cháy. Còn Nhàn lại chỉ cầu mong ngắm Tam, vì lão ta chẳng bao giờ để mắt đến mình từ sau cái đận sinh đứa con thứ hai bị chết lưu. Sau mỗi lần Tam đốt nhà, Nhàn lại cặm cụi đi kiếm từng bó lá, cây cọc về dựng lại để… cho chồng đốt. Lạ ở chỗ là lần thứ năm Tam đốt nhà, khi lửa cháy rừng rực mà Nhàn chẳng chịu chạy thoát ra khỏi đống lửa, để cuối cùng bị thiêu trụi. Còn mẹ cái Tý và bà con dân làng lần này cũng ùn ùn kéo đến để xem đám cháy, mà chẳng ai thèm cứu chữa vì: Xóm giềng hồi đầu còn xúm lại tát nước cứu nhà, rồi thấy thằng chồng say sưa đứng ngó mái lá bị lửa ăn rào rào, và con vợ thì đắm đuối nhìn chồng cả hai không có vẻ gì xa xót. Bà con nản, “thôi kệ cái tụi mắc đằng dưới, nghèo mạt rệp không lo, lại đốt nhà coi chơi…(tr. 140). Trước đấy, có người xui Nhàn bỏ quách Tam đi cho rồi, chứ hy vọng gì vào người suốt ngày say xỉn và hễ say lại tự mình châm lửa đốt nhà. Thế nhưng, Nhàn lại nghĩ khác, nếu bỏ Tam thì lấy ai làm nhà cho lão ta đốt! Một cảnh huống, đúng hơn là một sự thật trớ trêu hết chỗ nói.

Truyện Biến mất ở thư viện, cô thủ thư tên Hảo cứ đuổi theo cái bóng của anh chàng tên Sinh trong một thời gian dài mà chẳng bao giờ gặp. Còn tôi (người kể chuyện) thì chỉ mong cô thủ thư để mắt đến mình mà chẳng chẳng bao giờ: Một bữa sáng ở kệ sách tôn giáo, tôi giơ một cuốn lên vẫy vẫy gọi Hảo,cuốn này có nói về nghệ thuật buông bỏ nè”. Hảo ngẩng lên, hơi ngạc nhiên rồi quay lại với cuốn sách đọc dở trên tay, tìm kiếm trong đó một gã xấu xa hao hao một người đàn ông mất biệt từ lâu lắm. Hảo không biết đó là lần cuối cùng chhij nhìn thấy tôi. Hôm ấy, tôi mặc áo kẻ màu xanh xám, tóc tôi cắt cao. Vụt mất như một phụ diễn trong màn ảo thuật, tôi đi vào khe của những cuốn sách, náu mình trong thứ bóng tối trong veo (tr. 13).

Phần lớn những nhân vật nữ trong truyện của Ngọc Tư đều nghèo khó, nhếch nhác, còn các nhân vật nam thì ích kỷ, nghiện ngập, suốt ngày say xỉn, nhưng tất cả họ đều có chung một số phận của cuộc sống vô phương định. Người ra đi, kẻ trở về hoặc người ở lại đều dường như không thể nào vượt thoát ra khỏi cuộc sống túng quẫn. Cứ thế, những nhân vật trong các câu chuyện kể của Ngọc Tư ngày càng xoáy sâu mãi vào thân phận con người nhỏ bé, dưới đáy xã hội.

Những điều vừa nói trên cùng với một giọng kể tự nhiên với nhiều từ ngữ địa phương đặc trưng cho vùng đồng bằng sông Cửu Long đã góp phần đáng kể tạo nên sự hấp dẫn đối với người đọc. Nhưng cũng cần nói thêm điều này, từ sau thế hệ những cây bút gạo cội như Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức, Lê Văn Thảo, Mạc Can… những người viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ của đồng bào Nam Bộ khá thành công, thì công chúng dường như phải chịu nhịn vì thiếu vắng một đội ngũ những người viết về cuộc sống đời thường thời hậu chiến. Từ khoảng cuối những năm 90 của thế kỷ trước đến đầu những năm 2000, Nguyễn Ngọc Tư xuất hiện như là bù đắp vào sự thiếu hụt ấy, nên những trang viết của chị được độc giả phía Nam đón nhận hồ hởi. Còn ở phía Bắc, Nguyễn Ngọc Tư lại mang đến cho bạn đọc một tiếng nói mới lạ, mà hiện ngoài chị ra không mấy ai đạt đến phong độ văn chương ấy, nhất là các cây bút xuất thân từ miền Bắc.

Có người cho rằng ngôn ngữ địa phương, đậm chất Nam Bộ là một thế mạnh của Ngọc Tư. Tuy nhiên ở các truyện xuất bản trước đây, cũng như trong tập truyện Đảo, Ngọc Tư đã không ý thức được rằng thế mạnh ấy luôn là con dao hai lưỡi, nếu không biết tiết chế sẽ có khi cứa vào tay mình và cứa lan sang cả người khác, làm người đọc cảm thấy rất khó chịu, nhất là đối với người miền Bắc, khi phần lớn tiếng địa phương đã được Việt hóa từ hàng chục năm nay. Cũng vì thế mà sự hấp dẫn của những câu chuyện trong Đảo của Ngọc Tư giảm đi đáng kể.

Nhưng điều làm tôi băn khoăn và day dứt hơn là liệu chúng ta gia nhập không gian văn chương thế giới bằng những thứ hành trang nghèo nàn… để mong người đời cảm thông, sự chia sẻ đã thật sự ổn chưa, hay chúng ta còn cần mang theo cả một trí tuệ Việt Nam ngời sáng, cái mà bấy lâu nay chúng ta còn thiếu, để bạn bè quốc tế không cần phải cấp thêm bất kỳ một tấm thẻ ưu tiên nào đối với văn chương Việt Nam đương đại?

Ngọc Đỗ

--------------

(*) Đảo- tập truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, NXB Trẻ xuất bản tháng 3/2014

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác