Nguyễn Lương Ngọc và câu chuyện cách tân thi pháp


(Toquoc)- Nguyễn Lương Ngọc được nhiều người coi là một trong ba gương mặt cùng quê hương xứ Đoài tiêu biểu cho xu hướng cách tân thi pháp thơ thuộc thế hệ sau 1975 cùng với Nguyễn Quang Thiều và Dương Kiều Minh. Nói như vậy không có gì là sai và quá cả. Mỗi người một vẻ, ba ông đã tạo nên cho thơ ca sau 1975, chính xác hơn là sau 1986, một diện mạo mới, giống như một khối lồi tam diện, mỗi ông chiếm giữ một lãnh địa riêng của mình. Nguyễn Lương Ngọc có lẽ là người duy nhất trong thi ca Việt đương đại dám đem cả đời mình ra đánh cược với công cuộc cách tân thi ca, một cuộc chơi đầy phiêu lưu, mạo hiểm, nhưng ông đã thắng, chí ít là về thơ.

 Nguyễn Lương Ngọc và câu chuyện cách tân thi pháp - ảnh 1Nhà văn Hòa Vang, nhiếp ảnh gia Nguyễn Đình Toán, nhà thơ Nguyễn Lương Ngọc, nhà thơ Hoàng Cầm trong chuyến đi xuyên Việt (ảnh soi.com.vn)


Câu chuyện cách tân thi pháp

Cách tân thi pháp thơ, trước hết và cơ bản nhất, theo tôi là sự đổi mới về cảm quan thế giới, về quan điểm thẩm mỹ của chủ thể sáng tạo thi ca. Tuy nhiên, điều này nằm ngay trong bản chất của quá trình sáng tạo thi ca. Tùy vào hoàn cảnh lịch sử khách quan mà sự đổi mới ấy bộc lộ ra ít hay nhiều, sâu hay nông, róng riết hay từ từ, tiệm cận… Bởi lẽ, hơn bất cứ lĩnh vực nào khác, thơ, nếu không đổi mới có nghĩa là chết. Vạn vật, vũ trụ và sự sống luôn thay đổi theo quy luật tồn tại mang tính bản thể của nó và diễn ra không ngừng nghỉ, thì hà cớ gì thơ, với tư cách là một góc nhìn, một lát cắt về hiện thực ấy, một phần của vũ trụ NGƯỜI lại giậm chân tại chỗ.

Nếu vậy, ở nước ta, sự đổi mới thi pháp một cách bạo liệt nhất phải là Phong trào Thơ Mới (1932-1941), khi “làn gió lạ” từ phương Tây thổi vào thi đàn Việt. Từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp bắt đầu đặt chân tới nước ta, cùng với sự xâm lăng về mặt chính trị, kinh tế và xã hội, người Pháp không quên mang theo cả những sản phẩm văn hóa, trong đấy có thơ ca đến miền đất hứa này. Phong trào Thơ Mới với một loạt các tài năng thi ca như Thế Lữ, Vũ Đình Liên, Thanh Tịnh, Lưu Trọng Lư, Tế Hanh, Phạm Huy Thông, Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên... là minh chứng sinh động nhất cho sự ảnh hưởng về tinh thần dân chủ của văn minh tư sản phương Tây. Đồng thời Thơ Mới đã nhanh chóng trở thành một diễn ngôn của thời đại, mà ở đó, hầu hết thanh niên trí thức chịu ảnh hưởng của nền giáo dục phương Tây, vừa muốn từ bỏ cuộc sống chật chội, cũ mèm của kinh tế và văn hóa phương Đông, vừa muốn tân thời hóa theo mô hình kinh tế và văn minh phương Tây. Nhưng tất cả đều bế tắc, không tìm thấy hướng đi cho tương lai của mình cũng như của dân tộc, nhưng họ lại đã tìm thấy một hướng đi mới cho thi ca Việt truyền thống, trong xu hướng hòa nhập vào thế giới văn chương hiện đại của phương Tây.

Một trong những cái mà chỉ có Phong trào Thơ Mới làm được, và sau này, tôi đồ rằng sẽ không bao giờ lặp lại được giống như người ta không ai tắm hai lần trên một dòng sông, như Héraclit đã nói (1). Đấy chính là Phong trào Thơ Mới đã tạo ra được một đội ngũ đông đảo các nhà thơ hết sức tài năng, đầy nhiệt huyết, kiên quyết cự tuyệt với lối thơ cảm hoài, ảnh hưởng của thi pháp Trung Quốc thời Trung đại. Thay vào đấy, các nhà Thơ Mới muốn tạo lập nên một nền thơ ca cho riêng mình theo lối phản ánh sự vật, hiện tượng, tâm trạng như nó vốn có qua lăng kính thấu thị của chủ thể sáng tạo- nhà thơ.

Tiếp đến, sau Cách mạng tháng Tám, 1945, là thời kỳ thơ ca chống Pháp và kéo dài đến đầu những năm 60 của thế kỷ XX, trước khi giặc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, cả nước bước vào thời kỳ kháng chiến chống Mỹ trên cả hai miền Nam- Bắc. Trần Dần, Hoàng Cầm, Hữu Loan, Quang Dũng, Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu, đặc biệt là Lê Đạt đều là những gương mặt tiêu biểu của sự cách tân thi pháp trong thời kỳ thơ ca chống Pháp. Với những con người này, ngay từ ngày đầu cầm bút, bằng sức bật của tuổi trẻ, niềm đam mê sáng tạo, họ đã không những tiếp thu được hầu hết những tinh hoa của Thơ Mới, mà còn tạo ra cho mình một diện mạo thi ca riêng.

Đèo Cả của Hữu Loan, Tây tiến của Quang Dũng, Về Kinh Bắc của Hoàng Cầm… là những dẫn chứng sinh động cho xu hướng cách tân của các nhà thơ thời kỳ này. Trong Đèo Cả (1946), hình ảnh người lính Vệ quốc cùng đoàn quân Nam Tiến thuở ấy đã được nhà thơ Hữu Loan khắc họa một cách tài tình, hoàn toàn mới: “Núi cao vút/ Mây trời Ai Lao/ sầu/ đại dương/ Dặm về heo hút/… Bên quán/ Hồng Quân/ người/ ngựa/ mỏi/ Nhìn dốc ngồi than/ thương ai/ lên đường/.../ Rau khe/ cơm vắt/ áo/ pha màu/ sa trường/.../ Ngày thâu/ vượn hót/ Ðêm canh/ gặp hùm/ lang thang/.../ Giặc/ từ trong/ tràn tới/ Giặc/ từ Vũng Rô/ bắn qua/ Ðèo Cả/ vẫn/ giữ vững/ Chân đèo/ máu giặc/ mấy lần/ nắng khô,... Sau mỗi trận thắng/ Ngồi bên suối đánh cờ/ Kẻ hái cam rừng ăn nheo mắt/ Người vá áo thiếu kim mài sắt/ Người đập mảnh chai vểnh cằm cạo râu/ Suối mang/ bóng người/ Trôi những về đâu...”. Hình tượng người lính Vệ quốc sau khi thắng trận “đập mảnh chai vểnh cằm cạo râu” trong thơ ông thật sự ám ảnh và có chút kiêu hùng của những người trai đất Việt ra trận thời bấy giờ để bảo vệ nền độc lập non trẻ của dân tộc.

Thật sự Ðèo Cả là một trong những bài thơ mẫu mực về sự cách tân thi pháp thơ thời kỳ kháng chiến chống Pháp với thể thơ tự do, giọng thơ phóng túng, nhưng rất chân thật. Những thi phẩm thuộc loại này, lúc ấy không nhiều, chỉ đủ đếm trên đầu ngón tay, và chỉ mới như những đốm lửa giữa đêm đông u tối, lẫn vào trong một dàn đồng ca của thơ hô hào, mang tính chất tụng ca, tráng ca, chưa thể tạo nên một phong trào cách tân thi pháp thơ sâu rộng đều khắp trong nhân quần như các nhà Thơ Mới đã từng làm.

Tuy nhiên, nếu đặt vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể thì những cách tân của các nhà thơ chống Pháp rất đáng ghi nhận, như một sự nỗ lực thuần túy chủ quan, trong khi điều kiện khách quan của lịch sử lại chưa cho phép. Vì thế, những nhà cách tân thi pháp thơ từ thời kháng chiến chống Pháp và sau ngày hòa bình lập lại, nếu không chịu đổi chiều, tất sẽ rơi vào vòng lao lý. Bởi lẽ họ không thể nào chống lại được những tư tưởng bảo thủ lúc bấy giờ, nên buộc những thi phẩm của họ phải tồn tại như một mạch ngầm trong đời sống thi ca Việt hiện đại. Xu hướng cách tân thi pháp thơ chỉ được bộc lộ rõ từ sau 1986 khi điều kiện khách quan của lịch sử đã chín muồi cùng với sự sẵn sàng vào cuộc của một số nhà thơ, trong số đó có Nguyễn Lương Ngọc.

 

Giải minh sự đánh cược đời mình cho thơ của Nguyễn Lương Ngọc

Trong bài viết này, tôi dành riêng xem xét về Nguyễn Lương Ngọc với tư cách là một hiện tượng thi ca vào thời điểm lúc bấy giờ. Vả lại, thơ của Nguyễn Lương Ngọc chỉ xuất hiện từ sau năm 1990. Cụ thể là ông chỉ cho xuất bản các tập thơ Từ nước (Nxb Hội Nhà văn VN, 1991), Ngày sinh lại (Nxb Thanh niên, 1991) và Lời trong lời (Nxb Văn học, 1994). Còn tập Nguyễn Lương Ngọc- Thơ và Người (Nxb Hội Nhà văn 2006) không phải do ông công bố, mà do các bạn bè tập hợp lại, như một nén nhang tưởng niệm 5 năm, ngày ông lìa xa cõi đời này để trở thành người thiên cổ. Mặt khác, trong tập sách này không chỉ có thơ, mà phần 2 của cuốn sách, phần “Bình luận nghệ thuật”, là những bài viết chủ yếu về hội họa và âm nhạc của Nguyễn Lương Ngọc và phần 3 “Trong ký ức bạn bè” là những bài của thi hữu viết về ông.

Cần khẳng định một cách chắc chắn rằng, Nguyễn Lương Ngọc không phải là người đầu tiên khởi xướng cách tân thi pháp thơ Việt hiện đại. Điều đáng ghi nhận nhất ở Nguyễn Lương Ngọc không phải là ông đã làm được những gì trong diễn trình vận động cho sự đổi mới thi pháp thơ Việt đương đại, mà chính là một tinh thần dũng cảm, thái độ nghiêm túc và một bầu nhiệt huyết tràn đầy trong sự nỗ lực của diễn trình ấy. Có lẽ ở giai đoạn từ sau 1986 đến nay, ít thấy ai dám đem đời mình ra đánh cược với thơ như Nguyễn Lương Ngọc, khi ông dám tuyên bố: ... anh đủ sức đập vụn mình ra mà ghép lại/ Nung chảy mình ra mà tìm lõi/ Xé toang mình ra mà kết cấu... (Hội họa lập thể)

Chính ông nghĩ và tin rằng: Những quy tắc lên men/ Khi sự thật bị thay bằng cái giống như sự thật/ Có gì không ổn/ Có gì như bệnh tật/ Khi mồ hôi vã ê a thiên chức nghệ sĩ/ Anh không còn muốn nhìn những gì mình đã vẽ/ Chính nước mắt, hay máu tứa từ cái nhìn bền bỉ/ Đã cho anh chiếc lăng kính này đây... (Hội họa lập thể). Đối với ông, thơ ca của giai đoạn trước đấy, đến giờ chỉ là những khuôn mẫu hay “qui tắc lên men” chỉ có thể tạo ra những thứ “giống như sự thật”, chứ nhất quyết không phải là sự thật, thế thì buộc phải đập vỡ nó ra mà làm lại, còn để làm gì. Ông dứt khoát rằng: những con đã sinh ra thì đã chết/ những con chưa chết thì chưa sinh ra... (Gọi hạc).

Theo lời kể của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến thì một lần tại toà soạn Báo Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam, Nguyễn Lương Ngọc với ánh mắt thẳng thắn, đầy tự tin đã nói với một số nhà thơ thuộc thế hệ cũ một câu nói rất hồn nhiên, đại ý rằng: “Đã đến lúc chúng em phải quên các bác, phải quên ngay cái thứ thơ cũ rích của các bác để làm một cuộc thơ mới, các bác hãy tránh ra cho chúng em chơi cuộc chơi của thế hệ mình…(2).

Như vậy, Nguyễn Lương Ngọc đã ý thức một cách rõ ràng việc cần thiết phải tạo ra cho thế hệ mình một sân chơi thi ca hoàn toàn mới so với sân thơ truyền thống mà ông coi là những cái đã mốc meo, “lên men”, giả dối, không còn thích hợp với tâm thế của thi ca cũng như của công chúng thời đại mới. Vì lẽ đó mà ông luôn cảm thấy: Cuộc sống lạnh lẽo sao/ Cuộc chết ấm áp sao/ Em mỉm cười từ đâu/ đá Bay-on chao chát/ Đăm đắm nhìn từ đâu/ Sương Tây Hồ ngột ngạt/ Yêu không thể giải thích/ Chen chúc hoa lên tịch mịch/ Yêu không thể giải thoát... (Lời hát).

Vâng! Chỉ có tình yêu thôi, cái thứ tình cảm “không thể giải thích” thì làm sao lại có thể giải thoát được cho thơ. Trong bầu không khí của thơ cũ, mà lúc nào ông cũng cảm thấy ngột ngạt, đã có lần ông ước ao được một cuộc chết ấm áp để khỏi phải can dự vào cuộc sống “lạnh lẽo” của thơ cũ. Cả đến sương Tây Hồ ông còn thấy ngột ngạt và những bông hoa thi ca cũ cứ chen chúc mọc lên, nở ra trong cảnh tịch mịch thì còn đâu môi sinh dung dưỡng cho những tài năng thi ca mới đâm chồi, nảy lộc, nở hoa và kết trái được.

Dưới con mắt của Nguyễn Lương Ngọc, nền thi ca Việt đương đại giống như một đàn chim, trong đấy hạc trắng được coi là chúa tể, tượng trưng cho đức tính dũng mãnh và cao sang của những nhà thơ tiên phong trong công cuộc phong hóa thi ca nước nhà. Nhưng than ôi!... Ta hãy đọc trọn vẹn một trong những bài thơ hay nhất của ông, Gọi hạc để kiểm chứng điều ấy. Con cắt trắng/ xếp cánh/ khi gặp con khướu vàng/ Con khướu vàng/ khép mỏ/ khi gặp con hạc đỏ/ Con hạc đỏ/ nức nở/ nhìn con hạc trắng/ Hạc trắng!/ Hạc trắng!/ những con đã sinh ra thì đã chết/ những con chưa chết thì chưa sinh ra.

Soi mãi vào bầu không khí u ám của thơ ca truyên thống, cái mà ông cho là cũ, nhưng dường như Nguyễn Lương Ngọc không tìm thấy cho mình bất kỳ một khe hở nào để vượt thoát. Ông quay sang tự cật vấn mình và những người bạn cùng chí hướng. Bài thơ Lý do, mà Nguyễn Lương Ngọc viết gửi người bạn đồng hương, đồng tuế, cùng chí hướng của ông là nhà thơ Nguyễn Quang Thiều cho thấy rõ nhất sự hoài nghi dường như đến mức bế tắc của ông. Ông căn vặn đủ điều để tìm ra lý do tồn tại của mọi thứ ở đời, trong đó có thi ca và cả chính con người nhà thơ cách tân nữa.

Theo tôi, có thể nói Lý do là bài thơ đạt đến độ chín nhất về cảm quan thế giới, cũng như quan điểm thẩm mỹ của Nguyễn Lương Ngọc: “Chúng ta, tôi, anh, em và ít người, tìm mãi lý do./ Lý do của đất, của bùn, lý do nước sông về biển và biển tan nát mà không tan nát được./ Không, vâng, tìm lý do của các loài cây, các loài thú, các loài đá, địa y và nấm mốc, tìm lý do của máu, một loài máu tự cho là cao quý bởi thực không gì làm cho nó bẩn được nhưng có thể làm cho nó biến mất./ Cũng như ta chưa bao giờ sinh ra, trên đời./ Lý do của những con chuột tủi hổ với những chiếc răng cứ mọc không ngừng,... và lý do của lưỡi khô trong miệng không cho một người tốt nói lời từ giã cuộc đời lẽ ra tuyệt vời mà chỉ còn ngậm ngùi nỗi niềm của nước lọc./ Và lý do của địa ngục trong lòng bàn tay mịn màng làm tôi nghẹn ngào./ Lý do của đàn kiến bu quanh xác một con mèo không hỏi vì sao con mèo phải chết...”

Khát khao đến phát cuồng, say mê đến vật vã cho quá trình đổi mới thi ca Việt đương đại của Nguyễn Lương Ngọc và một số người khác là một sự nỗ lực rất đáng ghi nhận, trong điều kiện tinh thần dân chủ đã được khai thông từ chủ trương đổi mới nền kinh tế của đất nước để hội nhập và phát triển trong các nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhà nước từ cuối những năm 80 của thế kỷ trước. Thế nhưng, trớ trêu thay đời sống thi ca bao giờ cũng có sức ì, độ trễ nhất định phụ thuộc vào nhận thức, thói quen tâm lý, gu thẩm mỹ của đại bộ phận công chúng yêu thích thơ ca cũng như những người trực tiếp quản lý và lãnh đạo văn nghệ, tại mỗi thời điểm lịch sử cụ thể, nên Nguyễn Lương Ngọc và những nhà cách tân chưa làm được là bao cũng là điều dễ hiểu.

Theo tôi, có thể do tham vọng quá lớn, nhưng sức còn trẻ, chưa đủ kinh nghiệm và bản lĩnh vượt qua, lại do gặp hiểm nạn, nên khoảng 5 năm cuối đời, sức khỏe của Nguyễn Lương Ngọc ngày càng suy giảm và ông đã ra đi ở tuổi 43 để lại niềm tiếc thương cho những người yêu thích thơ ông, cũng như sự nghiệp đổi mới thi pháp thơ còn dở dang, thậm chí mới chỉ là bước đầu phát lộ một khuynh hướng thơ mà ông đã rắp tâm theo đuổi từ cuối những năm 80 của thế kỷ trước.

Nhưng, có một thực tế khác không thể phủ nhận được là dường như trong căn số của Nguyễn Lương Ngọc phát lộ qua thi tứ, thì ngay từ những tập thơ đầu, khi ông mới ngoài 30 tuổi, đã có những dấu hiệu mang tính chất tiền định, báo trước những điềm gở đối với ông. Nguyễn Lương Ngọc thường hay nói về chốn nương thân cuối cùng, cái chết hay đại loại một cái gì đó nói về chỗ tận cùng của cuộc đời: Những con đã sinh ra thì đã chết/ Những con chưa chết thì chưa sinh ra (Gọi hạc); Ai bắt anh chăm chút cái chết ngày mai/ từ gói kẹo cho con hôm nay (Viết cho mình); Lý do của đàn kiến bu quanh xác một con mèo không hỏi vì sao con mèo phải chết (Lý do); Cuộc sống lạnh lẽo sao/ Cuộc chết ấm áp sao (Lời hát); Từ nước sinh ra/ Mai có nước ta về (Từ nước); Anh không thể cất mình lên nổi/ Hay chọn đây làm chỗ gửi thân (Tìm gặp); Tôi của em hay của cỏ? (Tỉnh rượu); Một tảng thịt tươi nguyên/ Cánh chim đã nghỉ ngơi/ Sau đường dài (Cứu vớt),…

Theo các nhà tâm lý học, nếu một người quá chú tâm vào một điều gì đấy, dễ tạo nên ảo giác, sự ám ảnh chi phối cuộc sống hàng ngày. Những xung chấn tâm lý thái quá như trên, không chỉ riêng trong lĩnh vực sáng tạo thi ca, mà ngày trong đời thường, nhất là đối những gì liên quan đến thơ, Nguyễn Lương Ngọc thường có những biểu hiện quá khích như nói nhiều, nổi nóng… và thậm chí có những việc làm chẳng giống ai hay không ai có thể làm được như ông. Chẳng hạn như hành trình đi bộ xuyên Việt của ông cùng nhà văn Hòa Vang, có thể nói là chuyến đi lịch sử của giới văn chương Việt đương đại. Chuyến đi ấy không nhằm mục đích gây chấn động dư luận báo giới và bằng hữu văn chương lúc bấy giờ về hình ảnh con người cá nhân của hai ông, mà quan trọng hơn là một chiến dịch tuyên truyền, quảng bá cho tiến trình cách tân thơ trên phạm vi toàn quốc, cái mà ông và một số người đang cố gắng theo đuổi. Nhưng tiếc thay kết quả chưa được là bao.

 

Tạm khép

Hơn 40 năm tồn tại trên cõi đời này, Nguyễn Lương Ngọc đã làm được hai điều mà cho đến nay ít ai làm được như ông. Một, ông đã đem tất cả sức lực, trí tuệ, tình cảm, lòng nhiệt thành của mình ra cho sự cách tân thi pháp thơ. Hai, đi bộ xuyên Việt để PR cho diễn trình cách tân ấy. Có lẽ vì thế, ông đã để lại dấu ấn rất khó phai mờ trong lòng thi hữu./.

Đỗ Ngọc Yên


-----------------------

(1) Héraclite, khoảng 535 TCN - 475 TCN, là một triết gia vĩ đại của Hy Lạp cổ đại, là cha đẻ của quy luật “dòng chảy”. Nội dung cơ bản của luận điểm có thể hiểu như sau: Tất cả mọi sự vật và hiện tượng luôn luôn biến đổi và phát triển không ngừng, cũng như dòng sông kia nước luôn luôn vận động chảy trôi không bao giờ đướng lại. Đây có thể coi là một trong những luận điểm thể hiện quan điểm biện chứng đầu tiên trong lịch sử Triết học. Xem: Wikipedia- Từ điển bách khoa mở, tiếng Việt

(2). Xem: Nguyễn Quang Thiều và Nguyễn Lương Ngọc, hành trình qua sa mạc thơ. Nguyễn Việt Chiến/ tonvinhvanhoadoc.vn

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác