Người viết nào chịu “sức ép” từ độc giả?

(Toquoc)- Trong hai bài phỏng vấn về “Cảm hứng sáng tác” kỳ trước, chúng tôi có đặt ra câu hỏi cho tất cả các nhà văn là: “Nhu cầu của độc giả có tác động đến nhà văn không?” để thử đưa ra một mối liên hệ “cầu nào cung ấy” giữa độc giả và nhà văn. Mọi chuyện tưởng như rất đơn giản theo quy luật thị trường để nhà văn có thể yên tâm ngồi cầm bút viết theo những nhu cầu đã được “gạch đầu dòng”. Tuy nhiên, các câu trả lời khác nhau đã cho thấy cái thứ hàng đặc biệt “văn chương” ít khi tuân theo quy luật nào.

Đầu tiên là các nhà văn, nhà thơ khẳng định: “Nếu một nhà văn sáng tác mà còn nghĩ đến độc giả có thích thứ này hay không, thứ mình viết có hợp thời không, thì chỉ là… nhà văn hạng hai. Tác giả trước hết là viết cho cõi lòng mình, viết những gì không thể không viết, vì những thôi thúc, những dồn nén nội tâm của chính mình” (ý kiến nhà thơ Nguyễn Thị Ánh Huỳnh).

Nhà lý luận phê bình Bùi Việt Thắng thì lại trả lời: “Như kinh nghiệm của bản thân tôi hơn 30 năm viết lý luận - phê bình, là rất ít lệ thuộc bởi độc giả hay tính thời sự của văn bản hay học thuật hiểu theo nghĩa hẹp.”. Theo cách hiểu “rất ít lệ thuộc” nghĩa là “có” ở mức độ phần nào đấy. Điều này đã cho thấy giữa nhà văn, nhà thơ và nhà lý luận phê bình là khác nhau.

Còn dịch giả Lê Bá Thự lại khác hơn nữa, ông khẳng định: “Độc giả là một nhân tố quan trọng tác động, chi phối sự lựa chọn của tôi. Bởi vì độc giả chính là đối tượng phục vụ của dịch phẩm, là “đầu ra” của tác phẩm dịch. Đầu ra mà không suôn sẻ, không thuận buồm xuôi gió thì người dịch chẳng vui tí nào. Cho nên tôi thường chọn tác phẩm tôi cho là vừa thỏa mãn chính tôi, vừa thỏa mãn độc giả của tôi. Cũng cần phải thấy rằng, có những tác phẩm văn học hay, nhưng lại rất kén người đọc. Trong trường hợp như vậy thì người dịch phải cân nhắc giữa cái được và cái mất, và nhất là cuốn sách sắp dịch định nhằm vào đối tượng nào, để đưa ra quyết định chuẩn xác”.

Tại sao lại có sự khác nhau như vậy?

Bởi vì nhà văn, nhà thơ là người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm mang giá trị tinh thần. Mà bản chất của sáng tạo là nhu cầu tự thân. Các nhà văn đều được quyền tự lựa chọn đề tài cũng như cách viết, và đôi khi sự lựa chọn này lại do yếu tố vô thức quyết định. Còn nhà lý luận phê bình, dịch giả ít nhiều bị tác động bởi nhu cầu độc giả vì trước khi thực hiện công việc của dịch giả và lý luận phê bình họ đã là độc giả. Họ tiếp cận tác phẩm với tư cách là độc giả nên có thể hiểu phần nào về độc giả hơn. Trao đổi thêm về sự khác biệt này, dịch giả Lê Bá Thự cho rằng: Nếu chỉ quan tâm đến độc giả không thôi thì rất dễ bị sa đà vào những cái tầm thường. Tôi chọn tác phẩm dịch trước hết là vì tôi, tôi cảm thấy nó hay, tôi thích và tôi nghĩ rằng độc giả cũng sẽ thích. Cái tôi thích là yếu tố “rằng buộc”, “đảm bảo” để tác phẩm tôi chọn đem đến cho độc giả không phải là thứ văn chương tầm thấp hay hạng hai. Nhưng muốn được như thế thì dịch giả trước tiên phải là một “độc giả thông thái”. Không thể trông chờ vào sự may mắn ngẫu nhiên chọn dịch quyển này lại phù hợp với độc giả, bán chạy. Tất nhiên, cũng có yếu tố may mắn nhưng nó không nhiều và dịch giả nghiêm túc không làm như vậy được.

Thực ra mỗi nhà văn đều có lớp độc giả riêng của mình. Khó mà đưa ra một vài trường hợp nhà văn Việt Nam và thế giới có lượng độc giả đông, nhìn vào lượng sách xuất bản khiến nhiều người cầm bút muốn đó là tác phẩm mang tên mình. Tuy nhiên, mọi cuộc mổ xẻ và tranh luận dù đến mức rạch ròi có thể trở thành công thức cũng không là lý do để các nhà văn đồng loạt thay đổi. Trong một thảo luận giữa các nhà văn Đan Mạch với các cây bút viết cho thiếu nhi của Việt Nam do Nhà xuất bản Kim Đồng tổ chức có đưa ra cách viết cho thiếu nhi là “Hay viết những gì nhìn thấy, đừng kể và đừng tả” thì câu chuyện sẽ sinh động, ngắn gọn hơn… Lấy ví dụ trường hợp nhà văn Nguyễn Nhật Ánh không những có lượng sách xuất bản kỷ lục mà còn được tái bản liên tục được lý giải là do cách viết trong sáng, dí dỏm, phù hợp với tâm lý của thiếu nhi… nhưng chúng ta không thể có thêm một Nguyễn Nhật Ánh thứ 2 hay một phiên bản tương tự. Rồi lại có ý kiến, giữa sách hay và sách bán chạy chưa chắc đống nhất. Không sai. Nhưng trường hợp nhà văn Nguyễn Nhật Ánh thì tác phẩm bán chạy cũng nằm trong số tác phẩm được giải thưởng.

Nhà văn Nguyễn Hiệp tiết lộ, mỗi đầu sách của anh khi xuất bản dù chỉ 1000 - 2000 cuốn nhưng sẽ không vì thế mà viết theo “hàng chợ” để tăng lượng phát hành và thu nhập. Cũng có lúc vì áp lực cơm áo gạo tiền, vì sự gợi ý của một số Nhà xuất bản, nhà văn định viết những tác phẩm hàng chợ, theo đơn đặt hàng như thế. Nhưng anh đã dừng lại và không thể bắt tay vào viết. Theo anh việc nhà văn viết vì nghệ thuật hiện nay cũng là một thách thức trước câu hỏi nhà văn làm sao sống bằng ngòi bút? Họ có đủ dũng cảm để vượt qua những cám dỗ vật chất hay không? Họ có đủ khả năng để có thể làm một nghề khác mà nuôi mộng văn chương hay không?

Một minh chứng thể hiện quan điểm “viết theo nhu cầu bản thân” là trường hợp các nhà thơ hiện nay. Nhà văn viết văn xuôi bán được sách và có nhuận bút (dù rất ít so với công sức bỏ ra) đã đành, nhưng nhà thơ thì hầu như ra sách chỉ để đi tặng, cho dù là nhà thơ tên tuổi.

Nhà văn, nhà thơ là người chủ động tạo ra tác phẩm nhưng lại có phần bị động trong vai trò độc giả. Còn nhà lý luận phê bình và dịch giả có phần lợi thế trong vai trò độc giả, ngoài khả năng chuyên môn với sự tìm kiếm, phát hiện.

Trước khi qua cửa ải trở thành Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, nhà văn ít nhất cũng có 2 đầu sách. Vì thế, chỉ cần 2-3 đầu sách xuất bản là mỗi nhà văn đều có thể tạm định hình được gu độc giả của mình; ít hay nhiều, họ quan tâm đến vấn đề gì, đồng cảm với tác giả ra sao. Do đó chính những nhóm độc giả tâm huyết với nhà văn sẽ tạo “sức ép” cho nhà văn. Đó là sức ép vì nghệ thuật xuất phát từ mong muốn tác phẩm sau phải hay hơn tác phẩm trước. Đó là sức ép khiến nhà văn không thể “Ăn mày dĩ vãng” mãi.

Thế nên câu trả lời cho vấn đề “Người viết nào chịu sức ép từ độc giả?” thì chỉ có những nhà văn là người trong cuộc mới trả lời được. Họ sẽ đánh mất bản thân mình nếu chạy theo sự dễ dãi của số đông. Họ sẽ chẳng chịu sức ép nào nếu tự mãn, hoặc có thể chấp nhận sức ép như một động lực để tác phẩm vươn xa.

Hiền Nguyễn

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác