Người thương binh hát


 

Đã từng đi qua bao nhà tù của đế quốc Mỹ, mang nhiều thương tích trên người và những đòn roi tra tấn dã man của kẻ thù, nhiều lần chết đi sống lại, nhưng người nữ thương binh nặng Trần Duy Phương, vẫn giữ đức tính khiêm nhường chỉ “Tôi nghe tôi hát”(*). Thực ra chính chị đã, đang và sẽ hát cho tất cả chúng ta nghe, bởi nghị lực sống phi thường của một người chiến sĩ Cộng sản kiên trung.

 

Cầm cuốn sách trên tay, tôi đọc một mạch hết hơn 200 trang. Bỏ sách ra tôi cứ loay hoay đi tìm lời giải vì sao ở thời buổi này, công việc tối mắt tối mũi mà có một cuốn sách cứ giữ chặt lấy tôi, không chịu rời ra. Thế rồi, vài ngày sau khi đọc xong, tôi cũng tự tìm cho mình câu trả lời. Đấy chính là sự hấp dẫn của nội dung cuốn sách cùng cách kể chuyện của tác giả, nhưng cái chính là chuyện kể không bằng cách kể.

Tôi đã từng đọc Nhật ký Đặng Thùy TrâmNhật ký chiến tranh của Chu Cẩm Phong đều rất hay bởi vị thế của tác giả đều là những người lính trên mặt trận chống quân thù và trước khi hy sinh anh dũng, họ đã viết ra những điều mắt thấy tai nghe trong những năm tháng chiến tranh chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta cách đầy gần nửa thế kỷ qua.

Tuy nhiên ranh giới giữa ba thể loại: nhật ký, hồi ký và tự truyện có những phân biệt nhất định. Nhật ký, tự mình ghi chép những công việc xảy ra hằng ngày. Hồi ký là nhớ lại những gì mình đã từng chứng kiến trước đây. Tự truyện là kể lại câu chuyện của chính đời mình. Hai thể loại trước chuộng việc hơn. Còn thể loại sau chuộng chuyện hơn. Dù chuộng gì thì cả ba thể loại đều rất tôn trọng sự thật và thuộc vào nhóm chung là loại văn chương phi hư cấu, mà giới lý luận, phê bình văn học gọi là thể cận văn chương.

Displaying bia sach4.jpg

Bìa sách


Trở lại với tự truyện Tôi nghe tôi hát của nữ thương binh nặng Trần Duy Phương, tác giả đã chọn đúng tên thể loại: tự truyện, tức là tự kể ra những chuyện đã xảy ra trong cuộc đời mình, nên chi tiết cần được chọn lọc kỹ hơn nhằm phục vụ cho câu chuyện mình đang kể. Còn những chi tiết nào không tham gia vào câu chuyện ấy thì có thể bỏ qua. Với một lối kể dung dị, gần như thấy gì viết nấy. Nhưng những điều mà Trần Duy Phương mắt thấy, tai nghe và trải nghiệm vừa gần gũi thân quen, lai vừa cao cả đến phi thường, khiến nhiều người chưa trải qua chiến tranh và tù ngục khó có thể hình dung nổi vì sao chị ấy lại có thể như vậy. Đến lúc này tôi mới biết rõ mình bị thương vào cột sống. Tôi đã cố cử động những ngón chân nhưng không thể được. Chả lẽ vết thương của tôi cũng giống như chị Thu Hà, một người bạn rất thân của tôi đã hy sinh vì bị thương vào cột sống. Chị Hà dù bị liệt tứ chi nhưng vẫn cười, vẫn hát đến những giây phút cuối của cuộc đời… Tôi bị ám ảnh về vết thương mà chị phải chịu đựng và rất sợ phải bị thương vào cột sống. Nhưng giờ lại đến lượt tôi. Một sự thật quá khủng khiếp, quá sức chịu đựng của tôi. Sao lại oái oăm thế này? Chị Hà hy sinh trong vòng tay đồng đội, còn tôi đang nằm trong tay kẻ thù. Tôi biết làm sao bây giờ. Đã thế này chỉ có cái chết mới sớm giải thoát cho tôi. Nhưng chết bằng cách nào đây? Trong tận cùng của sự đau đớn, tôi mong cái chết sớm đến với tôi từng giây, từng phút ... (tr. 81).

Rõ ràng ở đây Trần Duy Phương đã kể về một chuyện có thật trăm phần trăm, dù đấy là chuyện chị từng chứng kiến (chị Thu Hà) hay chính sự trải nghiệm bản thân. Phía sau câu chuyện có thật mà chị Phương kể, còn có một câu chuyện khác cũng thật không kém, nhưng mà lớn và khủng khiếp hơn. Đấy là sự khốc liệt của cuộc chiến chống Mỹ sau Tết Mậu Thân 1968, Mỹ- Ngụy ra sức đàn áp phong trào cách mạng miền Nam và tăng cường chế độ hà khắc hơn trong các nhà tù.

Trong chiến tranh, nam giới được mệnh danh là phái khỏe, khi bị thương cũng còn cảm thấy đau đớn ê chề, huống gì đấy lại là những người phụ nữ, hiện thân của phái đẹp, chân yếu tay mềm mà bị thương còn đau đớn biết chừng nào. Trên cơ thể người ta, trừ bị thương vào tim là có thể chết ngay, còn hai vị trí não và cột sống, nếu bị thương, dù nhẹ hay nặng, mà còn sống sót cũng kéo theo bao hệ lụy. Nặng thì không bị điên cũng bò lê bò càng, nằm suốt đời, sống thực vật. Nhẹ cũng thành người ngớ ngẩn, đau đầu, chóng mặt, hoa mắt, ù tai mỗi khi trái gió trở giời. Chị Trần Duy Phương thuộc loại bị thương nặng, gần như trường hợp chị Thu Hà, nên cái chết cầm chắc trong tay.

Thế nhưng Chị Hà hy sinh trong vòng tay đồng đội, còn Duy Phương lại đang nằm trong tay kẻ thù. Đấy là điều trăn trở nhất của Duy Phương lúc này. Lẽ ra tình thế ngược lại là chị Thu Hà dễ có cơ hội sống hơn, còn Duy Phương thì cơ hội ấy dường như không có, hoặc nếu có cũng rất hiếm hoi. Vậy mà chị Hà đã hy sinh, còn Duy Phương lại không thể. Điều này chỉ có thể lý giải được bằng sự kỳ diệu ngoài sức tưởng tượng của chúng ta về khả năng chịu đựng của con người trong chiến tranh. Đúng vậy, chiến tranh có nhiều cái tưởng chừng như vô lý, nhưng thực chất lại rất có lý. Những chiến sĩ Cộng sản như Duy Phương mà chết trong tay kẻ thù là điều rất khó chấp nhận, thậm chí là không thể, mà chị cần phải sống cho mình, cho đồng đội, người thân và cho cả dân tộc. Đấy chính là cái lý của chiến tranh.

Dẫu biết rằng sự sống của những người tù Cộng sản dưới chế độ Mỹ- Ngụy cách đây gần 40 năm luôn song hành với những đòn thù tra tấn cực kỳ dã man về thể xác và sự sỉ nhục về tinh thần, trà đạp lên nhân phẩm bất cứ lúc nào. Tôi đã gặp nhiều anh ở Phú Quốc về bị những tên giám thị khát máu bẻ gẫy cùng lúc hai, ba cái răng cửa. Bẻ răng tù là việc làm thường ngày của những tên đồ tể ở Phú Quốc. Đấy là chưa nói đến những trò tra tấn man rợ như thời Trung cổ: đóng đinh vào đầu gối, vào đầu, vào mười đầu ngón tay, thả vào nước sôi,… (tr. 165)

Còn một sự thật nữa mà trong những năm tháng chiến tranh, khi ấy không phải ai cũng biết, mặc dù bây giờ mọi người thấy rất bình thường. Đấy là chuyện không ai biết có trại giam nữ tù binh, mà chỉ biết có trại giam nữ tù chính trị ở Phú Quốc, nên khi chị em được trao trả tự do ở sân bay Lộc Ninh, Bình Phước (1973), người ta phát cho 904 chị mỗi người một bộ quần áo nam giới, rộng thùng thình. Chúng tôi được cấp phát tại chố mỗi người một bộ quân phục nam để thay thế bộ quần áo tù binh. Chẳng hề câu nệ, chúng tôi xúng xính trong bộ quần áo nam mà lòng vẫn thấy vui sướng, tự hào. Hỏi ra mới hay bên ngoài không hay biết có một trại giam nữ tù binh nên không chuẩn bị quần áo nữ cho chị em… (tr. 162-163)

Trần Duy Phương sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước và cách mạng ở Quảng Nam. Bố Phương là Trần Duy Tường, người chiến sĩ Cộng sản kiên cường đã hy sinh ở nhà tù Côn Đảo sau những đòn tra tấn dã man của kẻ thù, khi chị mới lên năm. Cũng từ đấy, chị đã xa gia đình, mẹ và hai em đến sống với một người họ hàng ở Hội An. Tuổi thơ của Duy Phương là những tháng ngày thiếu tình cảm gia đình, nhưng lại thừa đòn roi và những lời mắng nhiếc, cùng những công việc quá nặng nhọc so với những bạn học cùng trang lứa. Nhiều lúc Phương thèm được như các bạn, nhưng dường như số phận đã sắp đặt bắt Phương phải trở thành một đứa trẻ to gan, gớm mặt. Có thể từ môi sinh ấy, cùng với truyền thống gia đình và quê hương đã tạo nên tính cách một Trần Duy Phương kiên trung bất khuất, không khi nào chịu khuất phục trước kẻ thù, ngay cả khi nhiều năm liền cuộc sống của chị gắn liền với chiếc băng- ca, vì bị thương vào cột sống, bại liệt hai chân không thể đứng lên và đi được.

Sau khi bị thương, rồi bị địch bắt giam và nhất là trong những năm tháng tù đầy Trần Duy Phương là người thích hát và hay hát những ca khúc cách mạng. Hát để động viên bạn tù, những người cùng cảnh ngộ hãy lạc quan trong cuộc chiến đấu một mất một còn với kẻ thù. Hát để cảm hóa những người tên thị, cảnh vệ, quân cảnh trong trại giam cho chúng biết rằng những người chiến đấu vì lý tưởng độc lập tự do dân tộc không bao giờ chịu bi lụy, van xin kẻ thù. Hát để quên đi những khổ đau cả về vật chất lẫn tinh thần mà những tù binh như chị hằng ngày phải hứng chịu.

Và chính cuộc đời của các chị là bài ca bất diệt trong những tháng năm gian khổ nhất của cả dân tộc. Bài ca ấy, Trần Duy Phương đã, đang và sẽ hát lên cho tất cả chúng ta nghe, nhất là đối với thế hệ trẻ hôm nay. Nếu ai đó khi nào muốn khóc thì hãy nhìn vào các chị mà hát lên tiếng hát lạc quan yêu đời, sống để cống hiến cho cộng đồng, dân tộc./.   

Đỗ Thanh

--------------------------------

(*) “Tôi nghe tôi hát” - Tự truyện của Trần Duy Phương, Nxb Hội Nhà văn, 2013. Giải thưởng Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các hội VHNT Việt Nam.  

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác