Người “thợ cày” trên cánh đồng chữ nghĩa

 

(Toquoc)- Những tưởng, mảnh đất văn chương cổ nói chung và cổ thi nói riêng đã có tới hàng trăm người cày đi, xới lại hàng nhiều thế kỷ nay. Vậy mà, nhà văn Vũ Bình Lục vẫn thấy còn điều gì đấy chưa thật thỏa trí tò mò, sở thích tìm kiếm, những mong đem lại cho mảng thơ này một hình hài, diện mạo mới gần gũi với bạn đọc hơn, nhất là bạn đọc trẻ hôm nay. Sau 5 tập trước, lần này “Hồn thiền trong thơ Lý- Trần(1) là tập thứ 6 của ông về mảng đề tài cổ thi đã ra mắt bạn đọc. Và dường như ông vẫn còn “dọa” cho ra đời tiếp vài tập nữa mới thôi. Ấy za za! Quả là “Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh! ” (Truyện Kiều - Nguyễn Du).

 

Sự dũng cảm và tính kiên trì

Tôi thật sự cảm thấy phát ngốt về cánh đồng chữ nghĩa vừa bề bộn, ngổn ngang, lại vừa thanh cao, ý vị trong “Hồn thiền trong thơ Lý- Trần” của nhà văn Vũ Bình Lục, nên phải thừa nhận ông thực sự là người dũng cảm dám xông vào một nơi vừa như khô cằn, vì nhiều thế kỷ nay đã có không biết bao nhiêu các bậc tài danh đã cày xới, vừa như hoang phế, vì thời buổi bây giờ rất ít người thích “xài” món cổ thi này, nhất là đối với giới trẻ. Nói vậy, trước hết, theo tôi là để ghi nhận phẩm chất đầu tiên tối quan trọng cần phải có đối với bất kỳ một nhà lý luận, phê bình, dịch thuật hay một người sáng tác nào, đặc biệt là đối với người làm nghiên cứu và biên soạn sách, khi đã vướng bận vào chướng nghiệp văn chương.

Bởi lẽ, người không có sự dũng cảm, làm sợ sai, sợ khó, sợ thiên hạ cười chê, thì chẳng bao giờ có thể làm được bất kỳ việc gì.

Lại nữa, dịch văn chương cổ, nhất là cổ thi là công việc đòi hỏi trước hết người ta phải có tính kiên trì, có khi mất cả ngày, cả tuần, thậm chí cả tháng, cả năm trời mới tìm được một chữ ưng ý, vừa đảm bảo sát nghĩa với văn bản gốc, vừa chuyển tải được cái “hồn” chứa trong từng câu chữ của các bậc tiền nhân, lại vừa làm sao để bạn đọc, nhất là bạn đọc trẻ có thể lĩnh hội được. Với ba yêu cầu ấy, đủ biết người “thợ cày” Vũ Bình Lục vất vả biết nhường nào trên mênh mang cánh đồng bất tận của chữ nghĩa.

Ngặt thay, nhiều tác giả và tác phẩm cổ thi của tiền nhân đã bị “tam sao thất bản” nên việc truy tìm một số văn bản gốc cực kỳ khó khăn.

May mà, phần lớn tác phẩm đã được những người đi trước phiên âm, dịch nghĩa và dịch thơ sang các thể luật Đường như “thất ngôn tứ tuyệt”, “thất ngôn bát cú” hay “ngũ ngôn”, “lục ngôn”… nên khi chuyển sang thể lục bát, được xem là một lợi thế của Vũ Bình Lục, cũng bớt đi phần nào khó khăn.

Hồn thiền trong thơ Lý- Trần” có tổng số trên 700 trang, bìa cứng, giấy trắng, in rõ và đẹp. Cuốn sách ngoài các phần tổng quan, lời nói trước, danh mục sách tham khảo, chiếm khoảng trên 30 trang, còn lại được chia làm 2 phần: Thơ đời Lý và Thơ đời Trần. Mỗi bài thơ đều có phần phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ và bình giải.

Thơ đời Lý có 26 tác giả, với 35 bài, phần lớn mỗi tác giả có một bài, số ít người có hai bài. Điều này nói lên một thực tế là, thơ đời Lý chưa phát triển như các thời đại sau này; mặt khác, có thể điều kiện lưu giữ các tác phẩm thời kỳ này còn hạn chế hoặc bị thất lạc qua các cuộc binh biến như thời Hậu Lê, khi quân Minh sang xâm lược nước ta, chúng đã tiêu hủy một khối lượng lớn văn bản tác phẩm văn chương của cha ông ta trong các thời đại trước đó.

Thơ đời Trần gồm 37 tác giả với 130 tác phẩm, trong đó có người được Vũ Bình Lục tuyển chọn tới 15 bài như nhà thơ Nguyễn Ức. Ở thời kỳ này, có 9 tác giả được tuyển chọn một bài gồm có: Trần Thái Tông với “Ký Thanh Phong am Tăng Đức Sơn”; Trần Quốc Tảng với “Phóng cuồng ca”; Đỗ Tử Vi với “Quá Việt tỉnh”; Pháp Loa với “Thị tịch”; Phạm Nhữ Dực với “Lý Hạ Trai lai phòng”; Vũ Mộng Nguyên với “Hàm Tử Quan”; Trần Lâu với “Quá Hàm Tử Quan”; Vũ Thế Trung có “Lan cốc”; và Đặng Dung có “Cảm Hoài”, số người còn lại đều có từ hai bài trở lên.

Điều ấy, riêng trong “Hồn thiền trong thơ Lý- Trần” đã phát lộ cho chúng ta thấy hai điều, một là, lực lượng sáng tác thơ thời Trần đông đảo hơn và số lượng tác phẩm cũng nhiều hơn và dường như các nhà thơ đã bắt đầu ý thức được quá trình “chuyên nghiệp hóa” của hoạt động sáng tạo đặc thù này; hai là, khâu lưu giữ văn bản tác phẩm thời kỳ này đã có bước phát triển hơn so với thời Lý.

Tuy vậy, các vấn đề vừa nêu trên lại chưa nói được là bao phẩm chất “hồn thiền” trong sáng tác của các tác giả ở hai thời đại Lý- Trần.

Có thể nói “hồn thiền” hay “chất thiền” đối với bất kỳ người thơ nào, trong mọi thời đại phần lớn phụ thuộc vào khả năng “nhập thiền” của chủ thể sáng tạo, chứ không phải “chất thiền” hàm chứa trong vạn vật. Đời Lý, Phật giáo là quốc giáo, với tư cách là tôn giáo độc tôn, người thơ chủ yếu là các nhà sư, thầy tu, tăng ni, phật tử, và phần lớn đều là những người học rộng, có kiến thức uyên thâm, nên hẳn là bản vị của họ ngay từ trong máu đã có “hồn thiền” và “chất thiền” rồi, miễn bàn. Cái cần bàn là ở chỗ diễn dịch cái “hồn thiền” và “chất thiền” ấy từ văn bản tiếng Hán ra/ thành ngôn ngữ văn bản thơ tiếng Việt không chỉ được phổ dụng trong nhà chùa như những bản kinh kệ có tính chất giáo lý đối với các con nhang, đệ tử, mà sau khi chúng được phổ dụng ra cõi đời này, lại có sức sống bền lâu đến tận hôm nay.

Đến đời Trần, vấn đề sẽ có những khác biệt, khi mà Phật giáo không còn độc tôn và xu hướng tam giáo đồng nguyên ngày càng thể hiện rõ hơn trong đời sống chính trị- xã hội lúc bấy giờ và tất yếu điều ấy sẽ hắt vào đời sống thơ ca để lại một vết hằn khá đậm nét theo một hướng khác...

Sau khi dẹp xong quân Chiêm Thành ở phía Nam và đánh thắng quân Tống và quân Nguyên Mông ở phía Bắc, cảm hứng anh hùng ca với âm hưởng tráng ca dường như lấn át “hồn thiền” trong thơ ca thời thịnh Trần. Thay vì các nhà sư, tăng ni, phật tử là lực lượng chủ yếu của thơ ca thời Lý, đến thời Trần, lực lượng sáng tác chủ yếu lại là các tướng lĩnh, vua quan hoặc chí ít cũng là những nhà nho học rộng, biết nhiều nên “chất nho” lấn át “chất thiền” cũng là điều dễ hiểu.

Tuy nhiên, tôi không quá chú tâm cho việc phân tích bối cảnh lịch sử chính trị, xã hội tạo nên “hồn thiền” trong thơ ca của hai đời Lý- Trần, mà chỉ muốn ghi nhận công sức của tác giả tập sách dành cho công việc này, trong khi không phải ai muốn cũng có thể. Thay vì việc phân tích trên, tôi dành sự quan tâm đáng kể để xem xét việc tinh tuyển và dịch chuyển “hồn thiền” của nhà văn Vũ Bình Lục từ văn bản cổ thi, chủ yếu chịu ảnh hưởng của thơ luật Đường- Trung Quốc, sang thể lục bát thuần Việt, để xem ông “thợ cày” này xới xáo ra làm sao.

 

Vấn đề cốt lõi vẫn là “hồn thiền”

Ghi nhận những nỗ lực cá nhân của nhà văn Vũ Bình Lục trong “Hồn thiền trong thơ Lý- Trần” và 5 tập sách trước, cũng là để thấy những “rào cản” thực tế rất khó vượt qua, không chỉ riêng đối với ông, mà là chung cho tất cả những người đã, đang và sẽ làm công việc biên dịch mảng cổ thi này.

Rào cản thực tế rõ nhất mà ai cũng có thể thấy được là giữa tiếng Hán thuộc hệ ngôn ngữ tượng hình và tiếng Việt thuộc hệ ngôn ngữ la- tinh. Sự khác biệt về hệ ngôn ngữ này, dù có cố gắng đến mấy, người biên dịch cũng khó mà “đọc hết” được “cái hồn” chứa trong ma trận chữ nghĩa của các bậc uyên nho. Nếu biên dịch theo kiểu chữ ra chữ (word by word) thì chưa thể gọi là thơ được, nên buộc người biên dịch thơ phải tìm cho mình chiếc “chìa khóa” khả dĩ nhất để chuyển tải cho được “hồn thiền” chứa trong mỗi câu chữ của tiền nhân. Điều này, trong giới hạn của mình nhà văn Vũ Bình Lục đã làm khá tốt đến mức có thể, nhất là ở phần thơ đời Lý. Chẳng hạn bài “Ngôn hoài” của Dương Không Lộ:

Trạch đắc long xà địa khả cư

Dã tình chung nhật lạc vô dư

Hữu thời trực thượng vô phong đỉnh

Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư

Bản dịch thơ của Vũ Bình Lục:

Long xà đất tốt ở ngay,

Tình quê vui suốt cả ngày chưa thôi.

Có khi lên đỉnh non côi

Kêu dài một tiếng lạnh trời… đã ghê

Nhưng vấn đề khó nhất là sự khác biệt giữa quan điểm mỹ học thời Lý, chủ yếu bị chi phối bởi các triết thuyết của Phật giáo, còn thời Trần, bị chi phối bởi các triết thuyết của cả ba tôn giáo Nho- Phật- Lão, mà Nho giáo đang có xu hướng khuynh loát hơn, nhưng cả ba đều có nguồn gốc từ phương Đông. Lại nữa, đến thời đại mà nhà văn Vũ Bình Lục bắt tay thực hiện công trình “Hồn thiền trong thơ Lý- Trần” lại chủ yếu bị chi phối bởi hệ quan điểm mỹ học Mác- Lê Nin, tức là từ phương Tây. Vậy nên, dường như vấn đề bắt đầu nảy sinh từ đây.

Tại công trình này, người đọc rất khó nhận thấy một sự minh định cụ thể của tác giả về “hồn thiền” là cái gì và nó biểu hiện ra sao trong cổ thi, trong khi thơ ca Lý- Trần chỉ là đối tượng để khảo cứu. Tức là cái “hồn thiền” không được giới thuyết rõ ràng, chí ít là để phân biệt với “hồn nho” và “hồn lão” đều có trong thơ đời Trần. Không ai có thể phủ nhận “chất thiền” trong cổ thi thời Lý. Nhưng đến thời Trần, đặc biệt là thời “thịnh Trần”, như cách phân chia của tác giả, không thể nói tất cả thơ ca đều chịu sự chi phối bởi chỉ riêng cảm quan thẩm mỹ của Phật giáo.

Khi đất nước có ngoại xâm, trong suốt thời kỳ Lý- Trần, khoảng 400 năm, chí ít là có họa Chiêm Thành ở phía Nam và giặc Tống, giặc Nguyên Mông ở phía Bắc, nên vua quan các triều đại Lý- Trần không thể nương nhờ vào triết thuyết xuất thế của Phật giáo được, mà phải viện tới triết thuyết nhập thế của Nho giáo mới có thể giữ yên được non sông, bờ cõi, mà bài thơ “Nam quốc sơn hà”, tương truyền là của Lý Thường Kiệt đọc tại phòng tuyến sông Như Nguyệt trước khi khởi binh đi dẹp quân Tống ở phương Bắc đang tràn xuống nước ta là một minh chứng rất cụ thể.

Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

Bài thơ này được nhà văn Vũ Bình Lục xếp vào phần “Thơ đời Lý”, thực chất chỉ thỏa mãn được một tiêu chí thời gian của đối tượng khảo cứu là thơ ca giai đoạn Lý- Trần, còn tiêu chí “hồn thiền” ở đây dường như không có. Cảm hứng anh hùng ca mang âm hưởng tráng ca có tính chất tuyên ngôn, bố cáo và sẵn sàng chấp nhận cuộc chiến một mất một còn để giữ cho được non sông Đại Việt là chủ đạo của bài thơ. Điều ấy chỉ có thể tìm thấy “hồn nho”, ở các bậc hiền nhân quân tử, chứ không hề có “hồn thiền” ở các bậc tăng thống. Do đó, bài thơ thể hiện rõ cảm quan của người anh hùng theo quan điểm của Nho giáo lúc bấy giờ. Có thể nói bài thơ mang rất ít dư vị của “hồn thiền”, nếu không muốn nói là không có mảy may nào theo triết thuyết Phật giáo. Vì thế khi dịch sang thơ lục bát, Vũ Bình Lục đã có thể tạm coi là chuyển tải khá sát nghĩa, nhưng lại chưa làm toát lên khẩu khí của một khúc tráng ca, một bài tuyên ngôn, bố cáo bằng thơ:

Núi sông đây, có chủ rồi

Biên cương bờ cõi sách trời đã ghi

Lũ giặc kia xâm phạm ư?

Chúng bay chờ đấy, có đi không về!

Cái có thể coi là “hồn thiền” ở bài thơ này khi được dịch sang thể lục bát đã đánh mất toàn bộ âm hưởng tráng ca của một bố cáo bằng thơ. Nếu có thể gọi là sát ý, chẳng qua chỉ là cách dịch chữ sang chữ, hơn là chuyển tải cáo hồn của bài thơ.

Câu thứ ba, trước đây có bản dịch: Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm (xâm phạm tới). Tức là quân giặc làm một việc vừa vô lý, lại vừa vô cớ, không thể chấp nhận được, nên ắt là chúng bay sẽ bị đánh tơi bời, tan xác, chứ không chỉ “có đi không về” (có thể do bị bắt giam làm tù binh). Thực tế, bản dịch của nhà văn Vũ Bình Lục đọc lên có cảm giác nhẹ bẫng bởi hư từ “ư” và cụm từ “có đi không về”. Đấy là chưa nói đến việc hợp vần hai chữ “ghi” ở câu 2, chữ “đi” ở câu 4 với chữ “ư” ở câu 3 thật sự không còn đâu là hơi hướng của lục bát nữa. Bởi danh- động “ghi” và “đi” rất khó hợp, thậm chí không thể hợp vần với một hư từ “ư” được. Đây là điều tối kỵ trong hợp vần của các thể thơ luật Đường của Trung Quốc trước đây, cũng như thể lục bát, được coi là thuần Việt của dân tộc ta. Câu thứ tư, là câu kết của bài thất ngôn tứ tuyệt mang tính chất tuyên ngôn cần phải dứt khoát, rõ ràng, thì ở bản dịch thơ của Vũ Bình Lục có vẻ như nghiêng về lời khuyên giải, bày tỏ bởi 6 chữ “chờ đấy, có đi không về!”.

Có thể nói đây là bài thơ khó dịch, mặc dù đã cố gắng đến mức có thể, nhưng Vũ Bình Lục chưa chuyển tải được “hồn nho” được coi là khẩu khí không chỉ của bài thơ, mà là sự quyết chí đến cùng của cả dân tộc ta giữ cho bằng được giang sơn bờ cõi, chứ chưa nói “hồn thiền”.

Nhưng tôi tạm gác sang một bên câu chuyện về dịch thơ đạt đến mức nào, mà chuyển sang câu chuyện chọn thơ để dịch theo tiêu chí “hồn thiền” thì dường như đây là một trong số không ít những bài thơ có vẻ như bị lạc “địa chỉ”. Bài thơ thể hiện rất rõ khẩu khí của một nhà nho vẫn còn “ưu thời mẫn thế”, chứ chưa hề có ý định thoát tục, quy thiền, càng không hàm chứa mảy may một chút “hồn thiền” nào, mặc dù tác giả của bài thơ sau này là một trong tam tổ của Phật giáo Việt, người đứng đầu của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Vẫn biết rằng vị Phật Hoàng này có bài phú rất nổi tiếng là “Cư trần lạc đạo”:

“Cư trần lạc đạo thả tùy duyên.

Cơ tắc xan hề, khốn tắc miên.

Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch;

Đối cảnh vô tâm mạc vấn Thiền”.

Tạm dịch:

“Ở đời vui với đạo hãy tùy duyên.

Đói thì ăn, mệt thì ngủ.

Của báu có sẵn trong nhà khỏi phải đi kiếm ở đâu xa.

Vô tâm trước cảnh vật, còn hỏi gì đến thiền”.

Nhưng đây là bài phú khi ngài đã lên Yên Tử sáng lập ra “Hội cư trần lạc đạo” ở Trúc Lâm, Yên Tử, Quảng Ninh, mà sau này người đời thường gọi là Thiền phái Trúc Lâm.

Còn bài “Ngày xuân yết Chiêu Lăng” của Trần Nhân Tông được viết khi ngài về thăm Chiêu Lăng, nơi có mộ của vua Trần Thái Tông. Tuy nhiên cảm thức thiền toát lên qua bài thơ không nhiều, nếu không muốn nói là không có, mà chủ yếu là khẩu khí của nhà nho. Bởi lẽ, trước khi trở thành Phật Hoàng, Trần Nhân Tông đã là một nhà Nho, tài cao, học rộng tứ thư, ngũ kinh của Khổng Tử và các những môn đệ của Ngài và đã làm vua nước Đại Việt độc lập, nhưng lại theo hình mẫu nhà nước phong kiến Trung Quốc, lấy Nho giáo làm quốc giáo:

“Tì hổ thiên môn túc,

Y quan thất phẩm thong.

Bạch đầu quân sĩ tại,

Vãng vãng thuyết Nguyên Phong”.

Bản dịch thơ của Vũ Bình Lục là:

“Oai nghiêm giáo mác lính canh,

Những quan thất phẩm áo khăn chỉnh tề.

Lính già đầu bạc say mê,

Kể Nguyên Phong với hả hê tự hào”.

Dù rằng Phật giáo Việt Nam, trong một chừng mực nào đấy, ở vào những thời điểm lịch sử nhất định, có xu hướng nhập thế theo kiểu “tu tại gia” và cũng không thiếu những vị sư, tăng ni, phật tử tham gia diệt ác, từ tà, phục thiện, nhất là khi đất nước có họa xâm lăng. Họ là những người cùng lúc vừa lo cả việc đạo lẫn việc đời, nên rất khó phân biệt đâu là Phật, đâu là Nho. Vả lại thời bấy giờ, không có bất kỳ một vị tăng thống nào lại không tinh thông Nho giáo. Nhưng việc tiễu trừ, diệt ác đối với các vị ấy cũng là một điều gì đó “cực chẳng đã”, nhưng mà vẫn theo cách “cải tà quy chính” của nhà Phật, dùng giáo lý “từ bi hỉ xả”, “cứu một người phúc đẳng hà sa” của nhà Phật để cảm hóa lòng người hơn là đem khí tiết của người quân tử tòng đạo Nho gia để trừng phạt kẻ gian tà. Họ không coi việc giết chóc, cảnh đầu rơi máu chảy làm trọng. Đây là một trong những đặc điểm để phân biệt cách hành xử giữa người với người, với đời và với vạn vật của Phật giáo và Nho giáo.

Nhìn chung, ở thời “thịnh Trần” phần lớn vua quan vẫn còn “say” với chiến công chống giặc ngoại xâm, đam mê chuyện giết chóc, lấy chiến công diệt giặc, thực chất là “sát nhân” làm tiêu chí để đánh giá đức tài của người quân tử, nên cảm hứng Phật giáo, “hồn thiền” ở trong họ chưa có là bao, mà chủ yếu là cảm hứng Nho giáo, nên “hồn nho” mới là cái chiếm ưu thế. Có chăng phải chờ đến thời “vãn Trần” mà khởi phát là vua Trần Nhân Tông và một số người khác khi tìm đường lên Yên Tử (Quảng Ninh), Quảng Lâm (Hưng Yên), Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang) để theo nghiệp tu hành, thì “hồn thiền” mới có đất để phát lộ, hoặc chí ít cũng là thời tao loạn, các nhà chân nho có khí tiết, mới tìm đến cõi tĩnh lặng của Phật giáo để giữ sạch thanh danh của mình, thì khi ấy thơ ca của họ mới phát lộ ít nhiều “hồn thiền” được.

Theo tôi, nên chăng cuốn sách được chọn lọc kỹ, theo tinh thần “tinh tuyển” như tác giả đã ghi ở bìa thì cần nên bớt đi khoảng một phần ba mới hợp lẽ, đảm bảo được cả hai tiêu chí về đối tượng khảo cứu cũng như phẩm chất cơ bản là “hồn thiền” trong thi ca giai đoạn này.

Huyền Vân

………………….

(1)Hồn thiền trong thơ Lý- Trần”- Vũ Bình Lục, Nxb Hội Nhà văn, 2013

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác