Người đương thời thơ mới bàn về thơ Anh Thơ


(Toquoc)- Nhân 80 năm phong trào Thơ mới (1932-2012), chúng tôi xin giới thiệu ý kiến của chính những người đương thời, người trong cuộc, xuất hiện ngay ở giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám 1945 như Lê Tràng Kiều, Trương Tửu, Mộc Khuê (Kiều Thanh Quế), Lương Đức Thiệp, Hoài Thanh - Hoài Chân, Diệu Anh (Đinh Gia Trinh), Vũ Bội Liêu, L. H. V (Lê Huy Vân), Vũ Ngọc Phan… cùng bàn luận về thơ nữ sĩ Anh Thơ.

Người đương thời thơ mới bàn về thơ Anh Thơ - ảnh 1
Nữ sĩ Anh Thơ khi còn trẻ (ảnh Internet)
Nhà thơ Anh Thơ tên thật là Vương Kiều Ân (còn có các bút danh Hồng Anh, Tuyết Anh, Hồng Minh), quê ở thành phố Bắc Giang, sinh tại thị trấn Ninh Giang (Hải Dương), đến tuổi thiếu niên lại trở về sinh sống ở Bắc Giang. Trong phong trào Thơ mới (1932-1945), nữ sĩ từng có thơ in trên các báo Ngày nay, Phụ nữ, Tiểu thuyết thứ Năm, Hà Nội báo, Đông Tây…; được nhận giải khuyến khích bản thảo tập thơ Bức tranh quê của Tự lực văn đoàn (1939), hai năm sau (1941) mới xuất bản (có 41 bài); đồng thời in chung tập thơ Xưa (1941), trong đó Anh Thơ góp 10 bài, Bàng Bá Lân 15 bài; đến hai năm sau lại cùng Vân Đài, Hằng Phương, Mộng Tuyết in chung tập Hương xuân (NXB Nguyễn Du, Hà Nội, 1943)…

Khi giới thiệu khúc ca Hoàng hoa của Bích Khê Lê Mộng Thu trên báo Tiểu thuyết thứ Năm (số 30, ra ngày 11-5-1939), Lê Tràng Kiều đã đặt Bích Khê trong tương quan với phong vị thơ của Quỳnh Dao, Đỗ Huy Nhiệm, Thanh Tịnh, Nguyễn Bính, Phạm Quang Hòa, Lê Thanh Xuyên, Xuân Khai, Yến Lan, Tchya, Phạm Huy Thông, Lưu Trọng Lư và với cả thơ Anh Thơ:

“Chưa bao giờ, các bạn mến thơ yêu thơ đã được vừa lòng, đã được say sưa như bây giờ, khi giở những trang thân yêu của tờ báo thân yêu này, nó đã lần lượt trình bầy không biết bao nhiêu là tác phẩm giá trị:

Những vần mơ màng của Quỳnh Dao, những vần nhẹ nhàng của Anh Thơ, những vần trong sáng của Đỗ Huy Nhiệm.

Những vần diễm ảo của Thanh Tịnh.

Những vần thành thựcgiản dị của Nguyễn Bính, Phạm Quang Hòa, tha thiết của Lê Thanh Xuyên.

Những vần dồi dàohuyền diệu của Xuân Khai.

Những vần đầy mộng ảnh đầy âm nhạc của Yến Lan (Yến Lan, Ôi trần đời, làm gì có hai Yến Lan). Và những vần đặc biệt của Tchya, của Phạm Huy Thông, của Lưu Trọng Lư”…

Trong bài báo Tính sổ mười năm văn học (1930-1940) in trên tập san Mùa gặt mới (số 2, tháng 11-1940), nhà phê bình Trương Tửu ghi nhận vai trò nữ sĩ Anh Thơ đặt trong mạch tiếp nối và phát triển của phong trào Thơ mới:

Thơ Thế Lữ là thể ca trù phục hưng lại, thơ Lưu Trọng Lư có cái vẻ phóng túng của các thể cổ phong, từ khúc; thơ Nguyễn Vỹ phỏng theo thể cách Pháp văn. Thơ Thái Can theo cái ý kiến dung hòa của André Chénier. Thơ Thế Lữ chú trọng về âm, thơ Lưu Trọng Lư chú trọng về điệu, thơ Nguyễn Vỹ chú trọng về tứ, thơ Thái Can chú trọng về hình tượng.

Bốn trường thơ ấy đều có ảnh hưởng tới các thi sĩ đến sau. Trong số thi sĩ trẻ này, đã thấy ít nhiều người đặc sắc: P. N. Khuê, Mộng Sơn, Phạm Huy Thông, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Anh Thơ”...

Trong công trình tổng kết Ba mươi năm văn học (NXB Tân Việt, H., 1942), nhà phê bình Mộc Khuê (Kiều Thanh Quế) đã thống kê và chơi chữ trong cách định danh nội dung tập thơ:

“Làng thơ mới (mới lẫn cũ) của văn học quốc ngữ trong vòng mười năm nay đếm được:

… Lắng nghe Tiếng thông reo (1934), Bàng Bá Lân cùng Anh Thơ gảy khúc đàn Xưa (1941).

… Cô Anh Thơ mộc mạc vẽ Bức tranh quê (1941)”…

Tiếp đến trong chuyên khảo Việt Nam thi ca luận (Khuê Văn xuất bản cục, H., 1942), Lương Đức Thiệp phân tích, so sánh thơ Anh Thơ với thơ Bàng Bá Lân và thẳng thừng qui lối thơ này thuộc dòng thơ “tả chân”:

“Sóng đôi chủ nghĩa tả chân có tính cách tranh đấu, một chủ trương tả chân khác quyến rũ một số thi sĩ không sắc mầu chính trị. Ông Bàng Bá Lân - hơn nữa - cô Anh Thơ đứng ra thay mặt cho phái này, dẫu hữu ý hay vô tình. Tập Bức tranh quê của nữ thi sĩ đầy chặt những bức họa thô sơ về một phương diện sinh hoạt của dân chúng:

… Làm giật mình một cô nàng yếm thắm,

Cúi cuốc cào cỏ ruộng sắp ra hoa…

… Cùng mấy cậu áo là, quần lụa mới,

Tập lê giầy như tập nhấc chân đi…

… Chợ đông quá! Chỗ này vài chiếu bạc,

Những chàng trai ô mới mở giương vây…

… Mụ bán cá đặt thúng ngồi chửi đổng,

Chị hàng rau mất chỗ chạy lon ton…

… Yên ổn nhất trong gian chuồng êm cỏ,

Lũ lợn nằm mát mẻ ngủ quên trưa.

 (Anh Thơ)

… Nét bút của cô Anh Thơ, của thi sĩ họ Bàng chưa đủ linh động. Cảnh với tình còn rời rạc hay tê cứng trong những câu mà nhạc điệu còn thô kệch.

Quan niệm về thơ đã mơ hồ (hay sai lạc) không giúp tài nghệ phái này phát triển được. Con đường bế tắc đã vẽ ra trước mắt mọi người: thơ khô khan như những bức ảnh chụp bằng chiếc máy kính mờ…

Đã phóng ảnh một cách máy móc, thi sĩ không truyền sang cảnh vật được nguồn rung động của tâm hồn mình”...

Đến công trình tổng thành Thi nhân Việt Nam (Nguyễn Đức Phiên xuất bản, Huế, 1942), Hoài Thanh - Hoài Chân chọn in của Anh Thơ 4 bài, đồng hạng với Tế Hanh, Đoàn Văn Cừ, J. Leiba, Đông Hồ, Vũ Hoàng Chương; số lượng vượt trên cả Vũ Đình Liên, Huy Thông, Nguyễn Vỹ, Yến Lan, Bàng Bá Lân, Bích Khê, Nguyễn Nhược Pháp… Trong phần bình luận, trước hết hai ông dẫn giải khái lược: “Một hôm tôi nhận được bức thư đề: M. Hoài Thanh, professeur, L’instituteur Thuận Hóa. Tôi đã không dám khinh thường người viết thư mà lại còn kính phục thêm nữa. Vì tôi biết người viết thư là một nữ thi sĩ có danh: Anh Thơ. Đã đành hay thơ Việt không cần phải giỏi tiếng Pháp. Nhưng trong tình thế nước ta bây giờ một người thiếu niên muốn có một nền học vấn vừa vừa mà không cần đến tiếng Pháp quả là một điều thiên nan vạn nan. Cứ xem văn của Anh Thơ ai cũng phải bảo là người có học. Thế mà cái lối viết rõ ràng và chắc chắn ấy, Anh Thơ không từng học được trong tiếng Pháp. Càng kính phục người, ta càng mừng cho nền quốc văn. Quốc văn ta ngày một thêm phong phú và hiện nay đã có thể làm lợi khí đào luyện tinh thần cho một người như Anh Thơ”…

Rồi từ đây hai ông đi sâu phân tích, lý giải:

“Tôi vừa nói đến lối viết của tác giả Bức tranh quê, tập thơ này cũng thuộc về lối thơ của người có học. Vẫn biết làm thơ đạo tình không phải bao giờ cũng là người ít học, nhưng thường người ít học chỉ có thể làm thơ đạo tình. Phải là người có học mới có thể đưa vào thơ cái cảnh:

Chó lè lưỡi ngồi thừ nhìn cũi đóng,

Lợn trói nằm hồng hộc thở căng dây.

Anh Thơ từ lâu chỉ chuyên lối thơ tả cảnh, mà lại tả những cảnh rất tầm thường: một phiên chợ, một đứa bé quét sân, một vài mụ đàn bà ngồi bắt chấy. Thơ của người biệt hẳn ra một lối. Có kẻ sẽ cho Anh Thơ là người vô tình. Nhưng có thiếu nữ nào hai mươi tuổi mà lại vô tình? Anh Thơ bắt đầu cũng đã làm những bài kể nỗi lòng mình. Hẳn người đã tập luyện nhiều lắm mới có thể đi đến cái thản nhiên, cái dửng dưng mà độc giả Bức tranh quê ắt phải lấy làm lạ. Nhiều lúc tôi tưởng người đã đi quá xa. Tranh quê có bức chỉ là bức ảnh; cái thản nhiên hàm súc của nghệ sĩ đã nhường chỗ cho cái thản nhiên trống rỗng của nhà nghề. Theo gót thi nhân đến đó, ta thấy uất ức khó thở: người dẫn ta vào một thế giới tù túng rồi không cho ta mơ tưởng đến một trời đất nào khác nữa.

Không, thơ phải là một tia sáng nối cõi thực và cõi mộng, mặt đất với các vì sao. Thơ không cốt tả mà cốt gợi, gợi cảnh cũng như gợi tình. Cho nên mỗi lần Anh Thơ chịu đi ra ngoài lối tù túng đó để nhìn cảnh vật một cách sâu sắc hơn, lời thơ bỗng trở nên rộng rãi không ngờ và ta thấy khoan khoái biết bao. Sau câu thơ ta mơ hồ thấy một cái gì: có lẽ là hồn thi nhân. Như khi người tả cảnh bến đò trưa hè:

Mây đi vắng, trời xanh buồn rộng rãi...

Sông im dòng đọng nắng đứng không trôi.

hay tả cảnh một buổi sáng trong trẻo:

Gió man mát bờ tre rung tiếng sẻ,

Trời hồng hồng đáy nước lắng son mây.

Làn khói xám từ nóc nhà lặng lẽ,

Vươn mình lên như tỉnh giấc mơ say.

Cảnh trong thơ cũng bất tất phải mênh mông. Một cái vỏ ốc đủ khiến ta nghe cả tiếng sóng biển rào rạt. Chỉ có ít bông hoa mướp, một lũ chuồn chuồn mà Anh Thơ gợi nên cả cái không khí thu:

Hoa mướp rụng từng đóa vàng rải rác;

Lũ chuồn chuồn nhớ nắng ngẩn ngơ bay.

Thường người cũng không cần đến những cảnh vốn sẵn nên thơ như thế. Với một vài điều nhỏ nhặt hầu như thô lậu, người hé mở cho ta một cảnh trời.

Chỗ này, giữa đám người ồn ào và đông đúc, vài ông thầy bói lặng lẽ đi,

Bước gậy lần như những bước chiêm bao.

Chỗ kia, đêm ba mươi Tết, chung quanh nồi bánh chưng sôi sùng sục:

Đĩ nhớn mơ chiếc váy sồi đen nhức,

Bà lão nằm tính tuổi sắp thêm năm.

Cho hay, vô cùng chỉ có thế giới bên trong. Và hình sắc đẹp là những hình sắc khéo dẫn người ta vào thế giới ấy”...

Đóng góp của nữ sĩ Anh Thơ với nền Thơ mới nước Việt và với riêng nền Thơ mới miên quê trung du Sông Thương - Bắc Giang đã được Hoài Thanh - Hoài Chân ghi nhận trong lời Nhỏ to cuối sách Thi nhân Việt Nam:

“Những thơ ra đời trong mười năm nay đã nhiều lại nhiều khuynh hướng. Tôi cố đưa một tí trật tự vào chỗ vốn chẳng có trật tự gì. Tôi chia làm ba dòng: dòng Pháp, dòng Đường và dòng Việt. Ấy cũng là liều. Tôi đã phân vân nhiều lắm trước khi dám liều như vậy. Bởi người ta có thể tìm thấy trong làng thơ những xóm như:

Xóm Sông Thương: Bàng Bá Lân, Anh Thơ.

Xóm Tự Lực: Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận.

Xóm Phương Đông: Lưu Trọng Lư, Thái Can...

Xóm Huế: Phan Văn Dật, Nam Trân, Nguyễn Đình Thư...

Xóm Bình Định: Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên...

Xóm Hà Tiên: Đông Hồ, Mộng Tuyết, v.v...

Nhưng trong các xóm dân ngụ cư nhiều quá không có gì thuần nhất. Và đã chia xóm, rồi lại phải đặt “trùm xóm”, cũng lôi thôi”...

Nhân việc viết “báo cáo thường niên”, Diệu Anh (Đinh Gia Trinh) trong bài Hoạt động văn chương Việt Nam trong năm vừa qua in trên báo Thanh nghị (số 10, tháng 3-1942) cũng nhấn mạnh đóng góp của nữ sĩ Anh Thơ đặt trong tương quan với nhiều danh thủ làng Thơ mới đương thời: “Thơ của Huy Cận thường thiên về diễn ý; về nhạc điệu thì có lẽ hơi nặng nề hơn thơ của Thế Lữ; về sôi nổi và thơm mát trong thi tứ thì có lẽ kém Xuân Diệu, nhưng về tư tưởng thì trong ít bài ông Huy Cận đã đi khá sâu xa và ta có thể đặt vào nghệ thuật của ông nhiều hy vọng. Gần đây cô Anh Thơ và ông Bàng Bá Lân có xuất bản chung tập thơ Xưa. Ông Lân là một nhà thơ có thể tiến bộ hơn nữa về nhạc điệu; ông ưa tả những niềm tình của thời xưa, những tâm lý đơn giản ở thôn quê và thi vị của đồng nội. Cô Anh Thơ không ưa diễn những mơ mộng và những tình cảm lãng mạn; cô muốn là một nhà thi sĩ tả chân và cô ưa làm sống lại những hoạt động của thời xưa, tả thực những cảnh sống nôm na ở thôn quê”…

Đặt vấn đề so sánh những hình ảnh trong văn thơ Pháp - Việt, trong tiểu mục Những cách tạo nên hình ảnh ở bài viết trường thiên Mỹ từ pháp trong văn chương Pháp và Việt Nam in trên báo Thanh nghị (số 20, ra ngày 1-9-1942), Vũ Bội Liêu xác định “hình ảnh nhiều khi là một bức tranh phác họa rất có tinh thần và linh động”, từ đó dẫn chứng thơ của nhiều thi nhân, trong đó có Anh Thơ:

“Có khi chỉ một chữ khéo dùng, một vài câu điêu luyện là ta đã có một “hình ảnh” sán lạn, một bức tranh đầy đủ và vô cùng linh hoạt…

Dưới đây là ít “hình ảnh” lượm lấy được trong thi ca hiện đại:

- Sáng hôm nay sương biếc tỏa mờ mờ,

Như hương khói đượm đầu cau mái rạ.

Ánh hồng tía rắc hạt châu trong lá,

Trời trong xanh chân trời đỏ hây hây.

(Thế Lữ)

- Hôm qua đi hái mấy vần thơ,

Ở mãi vườn tiên gần Lạc hồ.

Cảnh tĩnh trong hoa chim mách lẻo,

Gió đào mơn trớn liễu buông tơ.

(Thế Lữ)

- Mây đi vắng trời xanh buồn rộng rãi,

Sông im dòng, đọng nắng đứng không trôi.

Làn khói sám từ nóc nhà lặng lẽ,

Vươn mình lên như tỉnh giấc mơ say.

(Anh Thơ)

- Ánh sáng ôm trùm những ngọn cao,

Cây vàng rung nắng lá xôn xao.

Gió thơm phơ phất bay vô ý,

Đem đụng cành mai sát nhánh đào.

(Xuân Diệu)…”

Trong mục Đọc sách mới trên báo Thanh nghị (số 38, ra ngày 1-6-1943), L.H.V (Lê Huy Vân) đã giới thiệu tập thơ Hương xuân của bốn nhà thơ nữ (Vân Đài, Hằng Phương, Mộng Tuyết, Anh Thơ) và phác vẽ phong cách của từng người, trong đó chú ý biểu dương những dấu hiệu tự đổi mới của Anh Thơ:

“Các nhà thơ đàn bà ở xứ này hãy còn hiếm mà đã bị ở vào một thế bất lợi do sự cạnh tranh ráo riết của các nhà thơ đàn ông gây ra. Cứ giở một quyển thi tuyển của nhà văn hiện đại thì rõ. Bao nhiêu những đầu đề dễ dàng đều bị phái tu mi tranh lấy đã từ lâu. Tình âu yếm đều đều của vợ chồng, tình giai gái yêu nhau vừa vừa đều bị họ ca hát mất cả. Cho đến những chuyện rất son phấn họ cũng không ngần ngại. Ví dụ như tâm trạng cô gái sắp về nhà chồng hay nỗi rạo rực của thiếu nữ nghe pháo cưới nổ bên ngoài. Chết một cái là những tình cảm đó không có gì là sâu sắc cho lắm, thành ra các nam thi sĩ họ mới tưởng tượng được ra rất rõ ràng.

Cho nên khi đọc Hương xuân - là một cuốn sách nhỏ góp nhật thơ của mấy nữ sĩ Vân Đài, Hằng Phương, Mộng Tuyết, Anh Thơ - thì tôi thấy như đi vào chỗ đất quen

… Anh Thơ đã đổi giọng: lối thơ văn xuôi làm cho nàng được giải thưởng nay không còn nữa, giọng văn đã có vẻ bác học hơn nhiều:

Trời ửng hoa đào, đất sáng mai,

Vàng trong hoa cải, bướm bay dài”…

Thêm nữa, nhà phê bình Vũ Ngọc Phan tuy không xếp Anh Thơ thành một mục tác giả riêng nhưng trong phần khái quát Các thi gia ở sách Nhà văn hiện đại, Quyển ba (NXB Tân dân, H., 1943) cũng rất chú trọng đến tên tuổi Anh Thơ và đặt trong mối liên hệ với phong cách thơ làng quê của Nam Trân, Đoàn Văn Cừ:

“Còn Nam Trân (Tác giả tập Huế, Đẹp và Thơ, 1939), Đoàn Văn Cừ (Thơ đăng ở Ngày nay - Hà Nội), Anh Thơ (Tác giả tập thơ Bức tranh quê (Đời nay - Hà Nội, 1941) và Xưa (viết chung với Bàng Bá Lân - Sông Thương - Bắc Giang, 1941) và những thơ đăng trong Hương xuân (Hà Nội)… đều là những nhà thơ chuyên về mặt tả cảnh. Nếu trong ấy có chút tình thì cũng là thứ tình nhẹ nhàng như gió thoảng.

Nam Trân là nhà thơ của đất Huế, những cảnh ông tả đều là cảnh đế đô, lời thơ êm ái, hợp với cả người lẫn cảnh do ông tả. Còn Đoàn Văn Cừ và Anh Thơ đều theo một lối, lối tả chân và tả những cảnh vật hầu hết bằng thơ tám chữ.

Thơ của Đoàn Văn Cừ tả những cảnh chợ Tết, cảnh đám hội, đám cưới, thì thơ của Anh Thơ cũng tả những cảnh chợ, nào họp chợ, nào chợ ngày xuân. Những cảnh bến đò hoặc lúc trưa hè, hoặc ngày phiên chợ. Thơ của Anh Thơ trong tập Bức tranh quê đã toàn một lối tả cảnh, lại bài nào cũng tám chữ, mười hai câu, trong chỉ rặt những cảnh, không tình, không tứ, nên không tránh được sự khô khan. Bởi vậy, những bài thơ hay nhất của Anh Thơ cũng chỉ là những bức họa đẹp về nét vẽ, ngoài ra không ngụ một ý gì để cảm người ta. Những thơ hay, như thơ đời Đường, sở dĩ hay và đời đời truyền tụng là vì hễ có cảnh tất có tình, thường thường nhà thơ lại gợi cảnh ra để gửi vào đó ít nhiều tâm sự. Không bao giờ có thể dùng thơ để viết lối tả chân triệt để và cũng không bao giờ nhà thơ có thể đứng vào địa vị khách quan mà thơ lại có thể cảm người ta được.

Về những thi gia tôi vừa kể, tôi mới chỉ tỏ bày một chút ý kiến rất sơ lược, chưa hẳn là phê bình. Vả đây là một quyển phê bình văn học, không phải một quyển văn học sử, nên tôi chỉ lựa một ít thi gia có nhiều những cái đặc biệt - cố nhiên cả về hay, lẫn về dở - để xem trong những áng thơ mới bây giờ, có những cái gì là những cái có thể tồn tại và những cái gì là những cái sẽ phải mai một với thời gian”...

Từ nhiều điểm nhìn khác nhau, thơ Anh Thơ giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám đã được những người đương thời Thơ mới ghi nhận và luận bàn sôi nổi. Có thể nói mọi phương diện “hay” và “dở” trong thơ Anh Thơ đã được người đương thời phân tích, lý giải, đánh giá căn bản là chuẩn mực, xác đáng. Từ bến sông Thương, thơ Anh Thơ đã được Tự lực văn đoàn chắp cánh, nhập cuộc vào làng Thơ mới ở tầm quốc gia, dân tộc. Có được điều này là nhờ không khí dân chủ, đa phương trong hoạt động sáng tác và phê bình một thời mà bản thân công việc luận bình thơ Anh Thơ cũng không ra ngoài thông lệ.

PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác