Ngô Liêm Khoan - những trăn trở phận người


(Toquoc)- Tưởng như Ngô Liêm Khoan đang đục đẽo cho mình đầy ngập những chấm hỏi thế sự và rồi tự anh truyền cho anh những dấu chấm than vô bờ. Tưởng như Ngô Liêm Khoan đang ngồi giữa trưa ngậm đầy nắng và kể chuyện con người trên nẻo đường Thiện - Ác, rồi cấy những giấc mơ nhân bản trở đi trở lại trên dòng dòng bản tin thơ. Những câu thơ của anh không yêu đương trai gái, không bến bờ ủy mị, không diêm dúa mà nó ào ào như sóng vỡ, những kí tự thay nhau truyền tin nóng về phận người trên quả địa cầu này đang phải gánh lấy, phải đeo mang trong kiếp “người ăn thịt người”; dựng lại một vài dữ kiện lịch sử cũng đủ ấm lòng nhau và có lẽ một góc tối nào đó, anh đang giấu mặt mình mặc cho bàn sang ghế bóng của bao dáng người ngồi đó, anh khóc… cho câu thơ bay lên sáng ánh vàng ánh bạc của vầng nhật nguyệt.

Ngô Liêm Khoan - những trăn trở phận người - ảnh 1
Ngô Liêm Khoan và tập thơ “Những tấm ván trên cầu Hiền Lương”

Sau “Trở mình trong máng xối” (thơ, NXB Hội Nhà văn, 2007), nhà thơ Ngô Liêm Khoan đã gửi đến chúng ta một thông điệp mới, tập thơ “Những tấm ván trên cầu Hiền Lương”, NXB Trẻ quý I - 2014, khổ 12x22 cm. Gấp lại 100 trang sách ta thấy những con chữ kết thành bản đồ đất Việt đẹp, uy mãnh. Tác giả chia tập thơ làm ba mục nhỏ: Tầm biển (6 bài), Là chúng ta (13 bài), Suy tôn Tất Đạt Đa (17 bài). 36 bông hoa chữ ấy kết thành “Thơ là Binh Pháp của Hòa Bình” - lời đề từ mở đầu tập thơ đầy ấn tượng của tác giả.

Có ý thức công dân, có biết giá trị về hữu hạn cắm trên từng vuông đời người thì tác giả mới nâng niu từng giờ sống để dâng thơ bao ý niệm đẹp gửi đời. “Mỗi người đều có một năm sinh/ Và một năm mất/ Khoảng giữa là một dấu gạch ngang” (Dấu gạch ngang).

Tưởng như anh đang cầm một thanh long đao kiêu hãnh đứng giữa trời biển và hát thơ như:

Đất nước - một thanh đao

Vững sống Trường Sơn

Lưỡi mài duyên hải

Mũi Cà Mau nhọn hoắc phù sa

(Tầm biển)

Và hành động như ngàn ngàn trang lịch sử đã từng ghi về bao người con trai, con gái của đất nước này vì sự tồn vinh và hưng thịnh. Giữa đất trời ấy vang lời dõng dạc:

Ta vẫn nói với ta rằng có thể

Mỗi con sóng cuộn mình mang sắc chỉ nhà vua

(Tầm biển)

Chàng trai ấy một lần hay đã từng nhiều lần đi trong ngày hòa bình, đi trên cầu mát gió lồng lộng từ dòng sông thơ mộng nhưng nét suy tư hằn trên đôi mắt, thả lòng về tích xưa, chàng trai ấy đã thốt lên cùng vô vàn vô ngôn của những tấm ván trên cầu Hiền Lương năm nào:

Những tấm ván trên cầu Hiền Lương

Những tấm ván đã thành bụi thành tro thành rều thành rác…

Chúng có quên ánh mắt phía bên này

Chúng có nhớ chớp lửa phía bên kia

Chúng có nguôi ngoai vết cháy thẫm máu người

Hay chúng chỉ là gỗ thôi

Đã xong phận lát cầu

Hay chúng đâu chỉ là gỗ thôi

Vì còn thấm máu người

Vẫn day dứt khôn nguôi…

Nhịp cầu đã gãy…

Khi ngày cả nước kỉ niệm dấu mốc nối liền một dải, non sông thống nhất thì có lẽ tác giả đã đi lại trên chiếc cầu Hiền Lương vắt mình qua sông Bến Hải để nghe sông nói, để nghe cầu kể, để nghe lòng mình thêm nặng nợ mỗi mảnh đất quê hương nước non này.

Những lúc trở mình lại nhớ quê nhà, lại ngẫm ngợi và tự vấn mình:

Lẽ nào như một chuyến xe xa

Mỗi năm tạt ngang mái nhà xưa

Cuộn vài đám bụi…”

(Nhang lá)

Nghe cô đơn xa vắng.

Xâu chuỗi để lan tỏa, tự vấn để thấy tình yêu phun trào trong lòng người ấy. Nhà thơ so sánh liên tưởng thú vị, chua chát:

Từ vết thương

Con trai làm ngọc

Từ nhát chém

Con người làm nên hận thù

(Nơi biển xanh, dưới trời cao)

Bởi:

Chúng ta thấy tất cả là chính mình

Là kẻ thủ ác, là nạn nhân

Là kẻ mạnh, là người yếu hèn

Là kẻ truy lùng, là tên trốn chạy

Là quả phụ áo đen, là trẻ thơ đẫm máu

Là chúng ta

(Là chúng ta)

Vì thế giới luôn diễn tiến từng giờ:

Chiến tranh

Chưa bao giờ ngừng tay

Mũi tên vừa rút từ xác người này

Lại cắm phập lên thây người khác

Thanh đao vừa đâm vào yết hầu

Đã làm cú chọc thẳng vào cổ họng

Viên đạn vừa xoáy toạc sống lưng

Đã vu hồi nằm ngay giữa trán…”

(Những câu hỏi ngây ngô)

Để rồi “Chiến tranh ngược xuôi tiến hóa”:

Từ tảo tần hái lượm

Bà mẹ tiến hóa thành

Người đi nhặt xác con”

Nghe lạnh và chùng lòng

Lúc này đây thơ cảnh tỉnh, cảnh giác, là vũ khí cho Hòa Bình, cho tình người chảy tràn trên sóng mắt. Không chỉ thế mà tác giả còn đau cho những vật hiến thân cho những phát minh y học. Đó là “Vài dòng cho cừu Dolly”, “Những mầm bệnh nan y” rồi như bỗng thấy rằng: “Ta, những tên đồ tể mang danh con người, ta có thừa trí khôn để làm nên bữa tiệc, thịt của chúng ta tanh mùi đồng loại, máu của chúng rặt những tư duy, ta ứa nước bọt để tìm ra bản chất” (Thức ăn mục ruỗng của ngày hôm nay).

Tôi đã dừng lặng rất lâu sau khi đọc bài thơ “Cướp Phật”. Ở đó thấy đầy dẫy cái hư danh, cái bóng nhoáng vẻ ngoài mà con người mãi cướp giật rình mò lấy cho bằng được, để cho được của mình nhưng mãi chỉ là lớp ngoài, mãi không đọng lại nếu bản thân mỗi người chưa thực sự là chính mình. Thiện và ác dấy lên trong một sat-na… “Phật trơ lại hào quang / để rực lên / để rạng ngời / trên từng gương mặt của xác chết”.

Hay như bài thơ “Ngắm chuối” nhẹ nhàng mà thâm thúy gợi lay lòng người về một Ức Trai - Nguyễn Trãi:

Người dâng người

Một vài quả Lệ Chi

 

Chém treo ngành

Mủ chuối dấy tay đao”.

Nghe 2 dòng thơ cuối của “Ngắm chuối” thấy lởn vởn bóng đao phủ đâu đây trong bức tranh “chém treo ngành” mà Nguyễn Tuân từng phục dựng đầy kinh ngạc, tài hoa và kì dị…

Nhà thơ tìm gặp một tri âm, mừng mừng tủi tủi nhưng đó lại là “mai anh đào” trong bài thơ “Chuyến xe đêm thăm cây mai anh đào bên bờ hồ Xuân Hương”. Đó là những dòng thơ đẹp, nhẹ mà tình biết bao!

Ôi mai anh đào

Mầy vĩ đại làm sao

Chỉ lặng yên soi bóng xuống mặt hồ

Không cành nào giả dối

Cuối cùng rồi thì tất cả cũng phải một lần hoặc nhiều lần lọc thanh tâm mình và tìm về câu kinh, về nguồn bản thể, tự mình đốn ngộ thôi! Giữa một thế giới giờ giờ ngày ngày đầy ăm ắp những thông tin hiếm dần điều bình dị của tình thương yêu! Một trưa đầy chợt nghe: “Sấm rền thét một tiếng kêu/ Lời kinh dáng ếch lạy đều hai tay” (Vung nước - bài thơ lục bát duy nhất có trong tập thơ) nhẹ như không mà trùng trùng duyên khởi… Từ đó, tác giả bật thốt:

Tất Đạt Đa

Phải mất bao lâu

Khoảng cách bao xa

Từ Đản Sanh

Đến Niết Bàn?”

Để rồi thi sĩ đã thấy:

Tất Đạt Đa

Ngài cũng tầm thường thôi

Dù lúc Đản Sanh ngài cao quý bao nhiêu

Nếu không có chuyến đi mà người đời sau gọi là vi hành

Dạy ngài

Nỗi thống khổ tột cùng của đám dân đen

(Suy tôn Tất Đạt Đa)

Hình ảnh ba lô nặng mà nhà thơ gùi trên vai giữa trưa nhễ nhại và nắn nót kí tặng những bản thơ còn thơm mùi mực mới in, tôi chợt nghĩ, bản truyền tin ánh lửa nhiệt huyết, đang lần tìm về chính mình của một Ngô Liêm Khoan đang chìa ra cùng bạn, cùng tôi… và anh nói: “Nhà thơ, kẻ cần cù gieo khổ đau trên cánh đồng hạnh phúc, kẻ rèn gươm từ tủy não của mình…” sẽ đến lúc nào đó “Thanh gươm ấy không bao giờ chiến bại, nhà thơ trao cho mọi kẻ quanh mình”. Cho hết, cho không toan tính, tư lự để nhận lại những niềm vui sôi réo từ trái tim nhân hòa…

Trần Huy Minh Phương

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác