Nghiên cứu Tâm thức sáng tạo

(Toquoc)- Phóng chiếu từ ý niệm tâm lý học vào chiều sâu bản chất của sáng tạo, trong một ý nghĩa nhất định đưa lại thị kiến: Tâm thức sáng tạo như là cuộc rong chơi giữa hai bờ dục tính và tình yêu.

 

Để trả lời cho câu hỏi:

“Làm sao, nơi nào và khi nào tất cả đều phối hợp

Tại sao tất cả lại trao đổi yêu đương ân ái”

(G.A.Burger - Tuệ Sỹ dịch)

Nhân loại 5000 năm văn minh đã không ngừng nỗ lực nhằm tìm kiếm câu trả lời.

Ngay từ cổ xưa, trong kinh nghiệm thần thoại, Eros (Tây) và Kama (Đông) đều là những nguyên lý có tính nước đôi, lấp lửng, hai mặt (ambivalent): vừa là tính dục lại vừa là tình yêu. Nếu như con người đã trở nên chính nó nhờ giải mã được câu đánh đố hóc hiểm của con quái vật Sphinx, vượt thoát ra khỏi thân phận nửa người nửa vật (dẫu là nhân sư), thì câu hỏi Eros hay Kama, thoạt kỳ thủy và cho đến bây giờ vẫn tồn tại ý nghĩa bí mật, là cái gì không thực rõ ràng (thế lưỡng trị). Eros hay Kama vẫn là, và sẽ mãi là một câu hỏi lớn có tính vĩnh cửu treo lơ lửng trên thân phận làm người, vì nếu trả lời rốt ráo được câu hỏi này, con người đã phong Thánh cho chính nó.

Do đó, mỗi khi con người thấy sống động trong tâm thức sáng tạo một dự phóng truy tầm chân lý, dẫu điên rồ và phiêu lưu như chàng Don Quichotte, thì ngay lập tức, giá trị làm người lại can trường nắm chặt lấy ngọn giáo tri thức, thúc giục con ngựa đức tin lao vào chinh phục những gã khổng lồ giới hạn trong tư tưởng. Dẫu rằng, lần nào cũng vậy: thất bại; và cuộc chiến ấy thường khi vẫn diễn ra trong tưởng tượng, thì với chúng ta - những CON NGƯỜI, điều quan trọng là đã thành toàn những giá trị hiện hữu trong cái đẹp và cái thiện, vì cái đẹp và cái thiện mà hành động. Bởi thế, không lạ gì ngay từ khởi thủy, con người đã dũng cảm xác quyết dấn thân vào cuộc lữ kiếm tìm bản chất nguyên thủy bất tận của kết hợpsinh thành.

Muốn thế, cần phải tư tưởng và sáng tạo.

Ở khắp nơi trên mặt đất, con người vẫn không ngừng suy tưởng về tình yêu và hơn thế: hoạt động yêu.

Nên sáng tạo, về bản chất, là hình thức suy tư ở mức cao nhất của con người về các kinh nghiệm siêu hình, trong đó có tình yêu: “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu?” (Xuân Diệu). Khi hiện thể (être-là) của tình yêu chỉ phát lộ trong thể nhập nhằng với thể tính dục, tình yêu như thế đã xô sang địa hạt của mộng ảo: cái gì đó không thực rõ ràng. Nietzsche cho rằng, sáng tạo (thi ca) khi cố gắng diễn tả những điều mộng ảo ở đời, lại có khả năng đưa con người đến gần chân lý toàn diện. Trước đó Platon, và sau này là Heidegger cũng thừa nhận duy nhất có thi ca mới đứng trên cùng một bình diện với triết lý và suy tư triết lý, bởi cả hai đều hướng đến những hiểu biết chân lý tối hậu. Con người vì thế không ngừng hiện thể trong hệ thi pháp của mơ mộng (Bachelard) như là cách thế ưu việt để tri giác về thế giới bằng cách mơ về (rêver à). Ở phương Đông, thầy Trang khi luận về vật dạy: ta bảo nhà ngươi chiêm bao cũng là chiêm bao nốt (Nam hoa kinh). Thế nên, Pedro Calderon de la Barca viết:

“Tất cả cuộc đời là giấc mộng và

những giấc mộng là những giấc mộng”

(Phạm Công Thiện dịch)

Sau đây, hãy nghe một người thơ nói về một người thơ: “Thi sĩ Bích Khê là người có đôi mắt rất mơ, rất mộng, rất ảo, nhìn vào thực tế thì sự thực sẽ trở thành chiêm bao, nhìn vào chiêm bao lại thấy xô sang địa hạt huyền diệu...” (Hàn Mặc Tử - Bích Khê, nhà thơ thần linh). Người thơ, vì thế là kẻ mộng hóa những cảnh đời rất thực, xóa nhòa đi biên giới thức nhận của lý trí phân biệt, đối đãi giữa hai bờ đúng và sai, khôi phục lại mộng mơ cho tri kiến đã đi vào xơ cứng, hiểu biết đã trở nên lầm lạc vì sự lọc lừa của phương pháp, sự lỏng lẻo của ngôn từ, ném trả lại sự vật về thủơ ban đầu uyên nguyên, nơi sự vật còn tươi non sắc màu, sinh động, tiết trinh và nguyên lành. Người thơ do đó là kẻ truy nhận chân lý ngược trở lại từ mộng mơ. Người đọc thơ, vì thế muốn hiểu thơ (lĩnh nhận những chân lý từ thơ) thì phải biết mộng mơ sự đọc khi đi vào văn bản thơ (1).

Đấy cũng là mảnh vỡ ý nghĩa “mộng giữa lúc thức” như quan niệm về bản chất sáng tạo của Sigmund Freud, bởi đứng trước sáng tạo, thân phận nhà thơ giống như là con trẻ chơi đùa, khi: “mọi trẻ em chơi là ứng xử của một nhà thơ, ở chỗ nó tạo ra cho mình một thế giới, hoặc nói đúng hơn, nó hoán vị các vật của thế giới nơi nó sống sang một trật tự mới hoàn toàn thích hợp với mình” (2).

Nhưng để chơi đâu có dễ! Biết làm sao để trở thành hài nhi? Vì sáng tạo khi đạt tới cảnh giới tâm như đồng ấu là đã nhập vào tột cùng của thiên tài. Sáng tạo là linh thánh. Mà tâm đồng ấu đó là con đường lớn, trực chỉ, tham nhập thẳng vào trong tự tánh chân như (cái bản lai diện mục hay cùng đích bản nguyên chân thực của sự vật), đạt đến vị cao nhất: hiểu biết tận cùng (3).

Tâm đồng ấu ấy, ở phương Tây, Karl Jaspers coi như là tính thiên bẩm, trời trao. Nhờ tính thiên bẩm trời trao ấy nên thơ ấu thì bao giờ cũng dễ tham thông vào Hữu nguyên thủy (thoạt kỳ thủy có Hữu). Còn với Nietzsche, cụ thể hơn, tâm đồng ấu được ông gọi là giai đoạn trẻ con - giai đoạn cao nhất trong quan niệm về ba biến thể của sáng tạo khét tiếng, được trình bày qua mật ngôn của người siêu nhân Zarathustra. Theo đó, sáng tạo là con đường của cô đơn và kiên trinh, phải trải qua ba hoá thân, Nietszche gọi là ba biến thể.

Biến thể đầu tiên là biến thể lạc đà. Giai đoạn này sáng tạo phải mang trên lưng gánh nặng trầm tích ngàn năm trong tư tưởng, đây là thời kỳ tích hợp tinh hoa truyền thống. Nhưng với tinh thần dũng mãnh thì có gì là nặng nề đâu, tinh thần quỳ xuống như lạc đà, can trường mang trên lưng kinh nghiệm ngàn năm chồng chất; và giống như lạc đà, khi kiện hàng đã ứ đầy trên lưng, tư tưởng thẳng tiến vào sa mạc.

Nhưng trong cùng thẳm của sa mạc, hư vô đã mở ra vực thẳm, ở đó lạc đà giãy chết trong những thiết định. Và chính khi lạc đà dám tận kết đời mình, nó viên thành biến thể thứ hai, lạc đà trở thành sư tử. Sư tử, con vật chúa tể và bạo tàn, nó muốn làm chủ sa mạc, muốn đập phá tất cả những nhà tù cùm nhốt sáng tạo trong tư tưởng. Sư tử, nó muốn tranh thắng với con rồng vĩ đại - người thầy cuối cùng của nó. Sư tử muốn trở thành chúa tể trong ý hướng tính sáng tạo tuyệt đối.

Muốn thế, sư tử phải trở thành trẻ con; sáng tạo phải tiến đến cùng đích linh thiêng, cao cả nhất, gọi là biến thể trẻ con. Nhưng làm sao sư tử tàn bạo và chúa tể còn phải trở thành hài nhi? Vì, chỉ có ở hài nhi sáng tạo mới được là chính nó, không cần phải nổi loạn, không cần phải phá phách, gào thét, đập phá thần tượng. Đứa trẻ sáng tạo trong từng giây phút, với nó thế giới là say mê, tiết trinh và nguyên lành, là tiếng Vâng linh thiêng. Mỗi trò chơi của đứa trẻ là đồng hoà trong sáng tạo ở từng thời khắc mỏng manh nhất. Đứa trẻ là sáng tạo tuyệt đối bởi nó không bao giờ tỏ ra mình sáng tạo, nó chính là sáng tạo, trong mỗi khoảnh khắc, ung dung và thanh khiết (4).

Vì thế, sáng tạo thiên tài phải là sáng tạo anh nhi, sáng tạo của sự hợp nhất lý tưởng và tình cảm. Là anh nhi thì mới có thể chơimộng trong nguyên nghĩa thâm mật của nó; tức là được trẫm triệu trong niềm yêu bất tuyệt với tâm thức lóe sáng những giờ phút tạo tác không để lại dấu vết dụng công, đó là sáng tạo đã đạt đến cực độ trong bão hòa tư tưởng được hướng dẫn bởi cảm xúc. Lưu Trọng Lư diễn đạt trạng thái anh nhi của sáng tạo như một “hững hờ”:

“Thơ ta cũng giống tình nàng vậy

Mộng, mộng mà thôi mộng hững hờ”

Chàng Lưu bằng linh giác của Người thi ca (Chantre) vô thức cảm nhận sáng tạo (thơ) khi chìm vào “hững hờ” không chút dụng công thì sẽ tri giác thế giới qua nhãn mộng, ở đó có một thế giới đẹp như “tình nàng vậy”; thế giới đó là thế giới của mỹ cảm.

Chặt chẽ hơn chàng Lưu, Milan Kundera khi bàn về logic nội tại của tiểu thuyết (cũng như quá trình sáng tạo tiểu thuyết) đã khái quát nên bốn nguyên lí (mà Kundera gọi là bốn “tiếng gọi” tiểu thuyết), trong đó đứng đầu là hai tiếng gọi của chơimộng (5) (hai tiếng gọi tiếp là tư duythời gian). Đi trước và đi xa hơn Kundera rất nhiều, Wittgenstein là người đem quy tắc trò chơi để phân tích ngôn ngữ, văn hóa và xã hội. Còn hiện tượng luận thông diễn Gadamer thì nhìn văn bản (và do đó là thế giới) như là qui tắc trò chơi mang tính tự trị quy định người chơi.

Nhưng để nói về chơi (một cách chơi nhất và sớm nhất có lẽ) phải kể đến thiên Tiêu dao du lừng lẫy, siêu thoát và thống khoái của thầy Trang mà mắt xanh Lâm Tây Trọng bình rất hay ở điểm này: ““Tiêu dao” là vẻ ung dung tự thích ý mình. Còn “chơi” tức là ý “lòng chơi với trời”. Ba chữ đó là bản lĩnh lớn của cả một đời cụ Trang, cho nên bài này đặt đứng đầu Nội Thiên” (6). Phải chăng vì quá thích ý với sự chơi: cưỡi lẽ chính của Trời Đất, chế ngự sự biến đổi của sáu khí, để sang chơi cõi vô cùng của thầy Trang mà Thánh Thán xếp Kinh Nam Hoa (vốn là một tác phẩm triết lý lại) đứng đầu bảng phong thần văn học là lục tài tử thư? Hay do quá khâm phục về sự chơi ngôn ngữ tài hoa để bàn về lẽ hữu hạn của chính ngôn ngữ trong Kinh Nam Hoa? Thật là nói không hết lời. Chỉ biết Thánh Thán cũng là một tay chơi đích thực. Trong đoạn kết cho Tựa Mái Tây, Thánh Thán tuyên ngôn: viết (sáng tạo) là chơi, đọc (tiếp nhận) là chơi, phê bình cũng là chơi. Rồi Thánh Thán tự nhủ: “Tôi tự hiểu sâu rằng: mình lầm cũng là một cách chơi, không lầm cũng là một cách chơi; không lầm nhưng cứ lầm cũng không sao, cũng lại là một cách chơi...” (7).

Vì thế, quy luật nghệ thuật là quy luật trò chơi. (Và quy luật của đời sống liệu sẽ là gì nếu chẳng phải cũng chỉ là một trò chơi?!) Nhưng hãy nhớ: “Nghề chơi cũng lắm công phu” (Truyện Kiều). Vậy nên, với riêng nghệ thuật, nói trò chơi thì phải hiểu thêm rằng đó là trò chơi bị ném vào trường quy định của cái đẹp.

Bởi thế, trong mắt của chàng đang yêu thì cái đẹp tối thượng đó là “tình nàng vậy”, đúng như thi ca của chàng mộng mơ họ Lưu đã tri cảm ở trên. Đến đây, cần nhảy vượt vào trong một thị kiến mới: khám phá sáng tạo và tư tưởng như khám phá một người đàn bà. Nên quảng diễn từ ý nghĩa thi ca chàng Lưu, có cả một diễn ngôn nam quyền trong sáng tạo và tư tưởng về việc: vén mở bí mật nghệ thuật như là vén mở trái tim người đàn bà (nàng nghệ thuật). Từ lời cổ nhân “thư trung hữu nữ nhan như ngọc”, đến “gái muôn đời” (Đinh Hùng), “phố đùi dài” (Trần Dần), “người nữ kỳ diệu” (Hoàng Cầm), “nàng gái thơ” (Nietzsche), “đàn bà chân lý trần truồng” (Baudelaire); “tính thể thiên thu đàn bà dìu dắt ta lên tầm cao” (Goethe - Bùi Giáng dịch)... Thế nên Nietzsche mới quan niệm tư tưởng khi chinh phục chân lý cũng giống như đàn ông chinh phục đàn bà, trong đó, những tay triết gia giáo điều thì tất yếu thất bại khi ve vãn chân lý (8).

Nhưng bản thể của nàng nghệ thuật là gì? Ấy là người phụ nữ khó chiều!

Nên hãy nhớ kỹ lời Nietszche căn dặn: khi đến với đàn bà, đừng quên mang theo roi! Thế nên, này kẻ sáng tạo, khi mi muốn cầu hôn nàng nghệ thuật thì hãy trao nàng quà cưới là cây roi của lý trí lạnh lùng bọc trong quả tim của xúc cảm nồng cháy. Nóng và lạnh phải như đôi rắn ái ân, trườn về trong một thể, ấy mới là bản mệnh của tác phẩm thiên tài - đứa con linh thiêng của cuộc giao hoan giữa trí tuệ và xúc cảm trong sáng tạo.

Do đó nếu “đọc” tư tưởng và sáng tạo như “đọc” diễn ngôn tình ái (discour de l’amour), thì có thể nói (trong đôi mắt mơ mộng), tư tưởng và sáng tạo là cuộc rong chơi giữa hai bờ dục tính và tình yêu. Sử tính của tâm thức sáng tạo, vì thế trở thành cuộc xô dạt bất tận giữa dòng thời - không dâmtình.

Trên đôi cánh của sáng tạo, dục tính và tình yêu không ngừng hiện hữu, khi thì tách rời riêng rẽ, khi thì hòa nhập vào nhau, khi thì song song đồng hiện. Nghệ thuật và tư tưởng vì thế là hình thức siêu phóng những thị kiến khi trí tưởng tượng tập trung ý hướng vào minh giải hữu thể dục tính và ái tình:

“Rồi Tình yêu đầu tiên xuất hiện

Tình yêu là mầm mống ban sơ của tinh thần

Các thi nhân tìm thấy trong suy tư

Mối liên hệ trong vô có hữu.”

(Rig Veda -Nhật Chiêu dịch)

 Nguyễn Mạnh Tiến

---------------------

(1) Do đó, để trả lời cho câu hỏi: “Đâu là quyền lực của thi ca?” Triết gia Henri Bergson mới viết rằng: “Thi sĩ là con người mà tình cảm khai triển thành hình ảnh và hình ảnh thành lời, lời với nhịp điệu để phô bày (...) Nhưng các ảnh tượng ấy sẽ không thể hiện một cách mãnh liệt như thế nơi chúng ta, nếu không có những chuyển động điều hoà của nhịp điệu, vì nhờ nhịp điệu ru ngủ, tâm hồn chúng ta như lãng quên trong mơ mộng để cùng suy tư và nhìn ngắm với thi gia (nv nhấn mạnh)” [Henri Bergson (Cao Văn Luận dịch) (1962), Ý thức luận, Nxb Đại học Huế, tr15.]

(2) Đỗ Lai Thuý biên soạn (2004), Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật, Nxb VHTT, Hà Nội, tr32.

(3) Do đó, Lão Tử mới nói: người ngậm đức dày giống như con đỏ (hàm đức chi hậu, tỉ ư xích tử); côn trùng, thú độc, chim dữ không xâm hại được...mà tinh khí thì cường kiện, điều hòa viên mãn (Đạo đức kinh; chương LV). Mạnh Tử thì viết: bậc đại nhân thì giữ được bản tâm mình như con đỏ (đại nhân giả, bất thất kỳ xích tử chi tâm giả giã - Ly lâu chương cú hạ).

(4) Xem Friedrich Nietszche (Trần Xuân Kiêm dịch) (2008), Zarathustra đã nói như thế, Nxb Văn học Hà Nội, tr48-51.

(5) Milan Kundera (Nguyên Ngọc dịch) (2001), Tiểu luận (Nghệ thuật tiểu thuyết - Những di chúc bị phản bội), Nxb VHTT, Hà Nội, tr23;24.

(6) Xem Trang Tử (Nhượng Tống dịch) (2001), Nam hoa kinh, Nxb Văn Học, Hà Nội.

(7) Vương Thực Phủ (Nhượng Tống dịch), Tây Sương Ký (Mái Tây), Nxb Tân Việt, Sài Gòn.

(8) Friedrich Nietzsche (Nguyễn Tường Văn dịch) (2008), Bên kia thiện ác, Nxb Văn hoá thông tin Hà Nội, tr8. Đến như Kant, nổi tiếng là khô khan cũng từng nói những câu rất “ướt át” về tư tưởng rằng tôi đã để lòng yêu siêu hình học như yêu một người đàn bà, và tìm đến với siêu hình học như trở lại với người tình cũ.

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác