Nghịch ngữ như một kiểu khởi tạo nguồn nghĩa

 

(Toquoc)- Trong ngôn ngữ tiếng Việt thường thấy kiểu diễn đạt: buổi sáng tinh sương/sớm tinh sương, và hiếm gặp cách nói: chiều/tối/đêm tinh sương. Bởi, từ tinh sương mang nghĩa tinh khiết, tinh tế, trong nguyên nghĩa của sự khởi đầu. Cho nên kiểu diễn đạt “tinh sương chiều” là nghịch ngữ từ hai phương diện: đảo ngữ (xét từ hình thức) và ẩn dụ (xét từ nội dung). Đó không chỉ là kiểu hành ngôn độc đáo, mà cao thâm hơn là kiểu tư duy mang tính khái quát cao, khi con người có một sự chín từ cảm xúc đến quan niệm. Trong tập thơ Tinh sương chiều1, theo chúng tôi, nghịch ngữ là một trong những phương thức tạo nghĩa cơ bản nhất và mang tính phổ quát.

Trước hết, chúng ta cần giới thuyết thuật ngữ nghịch ngữ. Trong các tài liệu phong cách học tiếng Việt, nghịch ngữ được xem như một phép tu từ gần gũi với phép tương phản, như quan niệm của Đinh Trọng Lạc, trong giáo trình Phong cách học tiếng Việt, nghịch ngữ (còn gọi là: nghịch dụ) là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa cốt ở việc kết hợp liền nhau hoặc gần nhau những đơn vị cú pháp đối lập nhau về nghĩa trong mối quan hệ ngữ pháp chính phụ (chúng tôi nhấn mạnh), để tạo nên sự khẳng định đôi khi rất bất ngờ, nhưng lại rất tự nhiên, thuận lý, biện chứng2. Như vậy, với Đinh Trọng Lạc, nghịch ngữ, xét về mặt cấu tạo ngữ pháp, chỉ được xác lập trên mối quan hệ giữa các đơn vị cú pháp (từ, ngữ, tiểu cú - cụm C-V); xét về mặt nội dung ngữ nghĩa chỉ xuất hiện trong mối quan hệ ngữ pháp chính phụ.

Khảo sát sự phong phú và đa dạng của nghịch ngữ chúng tôi nhận thấy nghịch ngữ mang ý nghĩa rộng hơn. Xét về cấu tạo ngữ pháp, nó còn vượt lên trên những đơn vị cú pháp (ngôn ngữ/langue) và vươn sang đơn vị văn bản (lời nói/parole, diễn ngôn/ discours). Ngôn ngữ và tư duy có mối quan hệ biện chứng, theo Saussure, ngôn ngữ và tư duy xuất hiện cùng một lúc và là một thể thống nhất. Hình thức của tư duy là khái niệm, phán đoán và suy lí. Khái niệm được biểu thị trong từ, ngữ; phán đoán được biểu thị trong câu; suy lí thường được biểu thị trong nhiều câu. Xét về mặt ngữ nghĩa, mặt logic, nghịch ngữ xuất hiện trong nhiều mối quan hệ ngữ pháp: đẳng lập, chính phụ, và hỗn hợp đẳng lập và chính phụ giữa các cụm từ, cụm câu.

Qua sự phân tích trên, ta thấy, nghịch ngữ có biên độ rất rộng xét về kết cấu lẫn quan hệ ngữ nghĩa. Trong bài viết này, chúng tôi hiểu nghịch ngữ theo cách dùng của Nguyễn Thế Truyền: Nghịch ngữ là phép tu từ kết hợp các khái niệm hoặc mệnh đề mâu thuẫn nhau về lôgic hình thức, biểu đạt một nghịch lý của cuộc sống hoặc của nhận thức, nhằm gây ấn tượng, tạo sắc thái biểu cảm và khêu gợi những suy nghĩ có tính chất trí tuệ lí thú về vấn đề trình bày từ những phương diện khác với quan niệm thông thường3.

Trong cách hiểu trên tác giả cũng chỉ ra giúp chúng ta, nghịch ngữ giống phép tương phản là đều được xây dựng trên cơ sở quan hệ đối lập, nhưng ở nghịch ngữ, quan hệ đối lập đã phát triển thành quan hệ mâu thuẫn (phủ định lẫn nhau). Nghịch ngữ chứa đựng yếu tố phi lý ở phương diện lôgic hình thức nên mỗi nghịch ngữ là một nghịch lý. Sự ráo rốt trong quan niệm ấy đã đem đến cho ta kết luận rằng, nghịch ngữ đã được sử dụng khá phổ biến từ xa xưa4, và nó thể hiện một sự nhận thức ở mức độ cao, và tạo ấn tượng mạnh mẽ đối với người tiếp nhận.

Nghịch ngữ như một kiểu khởi tạo nguồn nghĩa  - ảnh 1

Tinh sương chiều ­là tác phẩm thứ 49 của Trịnh Bửu Hoài. Con số ấy chứng tỏ niềm đam mê mãnh liệt, nỗ lực lớn lao và thành công viên mãn của một đời người và một đời thơ/văn. Con số ấy cũng thể hiện niềm tự hào, vinh dự của tác giả, người thân, bạn hữu và ở giới trẻ nó phóng chiếu một niềm thán phục và nung nấu chinh phục những đỉnh cao mới (trong đó có tác giả bài viết này). Nhưng điều cốt lõi không nằm ở con số mà nằm trong ý nghĩa những ấn phẩm được đánh số ấy. Tác phẩm thứ 49 là một tập thơ rất nền nã, từ hình thức đến nội dung. Tập thơ trên dưới 30 bài thơ, bên cạnh đó là tranh ảnh, thư pháp, viết lại một số câu thơ của tác giả, các bài nhạc, ca cổ phổ thơ… Điều này thể hiện Tinh sương chiều đã tạo được sự đồng cảm cho nhiều thế hệ bạn đọc, hơn thế, lại là nguồn cảm hứng thăng hoa những mộng mơ nghệ thuật.

Trong lòng mỗi bạn đọc, thơ Trịnh Bửu Hoài có khuôn mặt riêng, nhưng đằng sau gương mặt tinh thần ấy, họ đều nhìn thấy nhà thơ có một đôi mắt tinh tế, một con tim nhạy cảm, một tấm lòng luôn thiết tha với đời. Với Trần Xuân An, thơ Trịnh Bửu Hoài có tâm thành, tình thật và nó được phát tiết một cách hồn nhiên. Trúc Linh Lan bị cuốn hút bởi những con chữ mang đậm tình người cứ lấp lánh suốt trang thơ. Còn Mang Viên Long có phần ngạc nhiên (với chính mình) bởi sức sống luôn dồi dào bền bỉ của thơ Trịnh Bửu Hoài nảy nở trong lòng anh, trong lòng bạn đọc: Thơ Trịnh Bửu Hoài vẫn thường cho tôi những phút giây đồng cảm bất ngờ như thế, bởi tâm hồn nhà thơ quá rộng mở để cuộc sống xung quanh - đời sống, quê nhà, tình yêu, bằng hữu, quá khứ, tương lai… có thể đi về, và mỗi lần trong hành trình vô thường ấy, chú có cách đón nhận riêng, nhưng cốt lõi vẫn là sự tỉnh táo, chân thật, thâm trầm. Có lẽ điều này cũng gieo vào lòng Ngô Nguyên Nghiễm hình ảnh về một nhân cách thơ thấm nhuần đạo lý phương Đông. Tinh sương chiều là tập thơ thể hiện rất rõ cái nhìn thâm trầm, cái tình chân chất, cái hồn thơ đạo lý phương Đông ấy. Song, chúng ta không dừng lại ở chỗ nhận ra mà còn có mong muốn biết rằng, bằng cách nào nhà thơ nói những điều vừa giản dị vừa lớn lao, vừa quen thuộc vừa mới mẻ đến như vậy ngay trong một lần phát âm nhẹ nhàng. Với tôi, có được điều đó là nhờ sự đa âm trong cách cộng hưởng nhiều nghịch ngữ. Đó là cái duyên rất riêng của trang thơ Trịnh Bửu Hoài, rất mộc mạc, với những vẫn đề không mới và cũng không cũ bao giờ, nhưng lại dạt dào thấm đượm một trí tuệ hiền minh.

Chính xác tập thơ có 37 bài, theo khảo sát, chúng tôi nhận thấy, có 20 bài sử dụng phép nghịch ngữ, trong đó có nhiều bài sử dụng với một tần suất dày đặc. Chính nghịch ngữ đã đem lại cho Tinh sương chiều vẻ đẹp chín chắn, nền nã, một giọng điệu triết lý nhưng không phải là một sự lên gân mà rất tự nhiên, một sự nhận thức chín muồi từ bên trong.

Chúng tôi chia nghịch ngữ trong tập thơ ra làm hai dạng: nghịch ngữ ở phương diện cú pháp (từ, cụm từ, tiểu cú - các dòng thơ trong một đoạn), tức là sự mâu thuẫn ở cấp độ khái niệm; và nghịch ngữ ở phương diện văn bản, nội dung bài thơ là lời đối thoại dài với tiêu đề, hoặc một vài câu thơ dung chứa một tư tưởng khác, một cách nhìn khác, qua đó thể hiện sự mâu thuẫn về mặt tư tưởng, bắt buộc người đọc phải đọc lại và nhận chân lại vấn đề. Trong 20 bài sử dụng phép nghịch ngữ thì có 5 bài (Phù du, Thứ sáu ngày bảy tháng tám năm lẻ chín, Trên đỉnh núi Cấm, Mê, Thực) có cả hai dạng nghịch ngữ. Song, chúng tôi không thể thống kê, liệt kê hết nghịch ngữ trong từng câu thơ, ý thơ, mà chỉ đi vào một số hiện tượng (theo tôi) độc đáo, tiêu biểu.

Như chúng ta đã biết, nghịch ngữ là cách nói đa âm, dung chứa nhiều giọng điệu, nhiều ý tứ dựa trên sự mâu thuẫn, phủ định giữa các khái niệm, các mệnh đề. Phải có một thuận ngôn (cách nói, kiểu tư duy thông thường) nào đó rồi mới có nghịch ngữ (sự phủ nhận thuận ngôn, kiểu tư duy, điểm nhìn dựa trên một hệ quy chiếu khác). Phần lớn nghịch ngữ trong Tinh sương chiều là sự nhận thức ở cách nhìn nhị nguyên luận về những vấn đề muôn thủa của cuộc sống, con người: sống/chết; thường hằng/hữu biến; vĩnh cửu/khoảnh khắc; mê/ngộ; tốt/xấu; thiện/ác; ngày/đêm…. Đó là những vấn đề muôn thuở nên cũng rất gần gũi, nó vừa xưa như trái đất nhưng cũng mới như địa cầu, quyết định là ở điểm nhìn, cách nhìn.

Điều được láy đi láy lại như một sự nuối tiếc khôn nguôi trong Tinh sương chiều là thời gian. Có lẽ đây cũng là câu đố hóc búa mà con quái vật Sphinx đã đặt ra cho tất cả chúng ta. Từ thời cổ đại Heraclitus đã phải ngậm ngùi thừa nhận: không ai tắm hai lần trên một dòng sông. Thời gian là vô tận và cũng là hữu hạn. Thời gian có thể là vĩnh cửu đối với vũ trụ, nhưng với mỗi sinh thể/con người lại là hữu hạn. Điều này là hiển nhiên nhưng không phải lúc nào/ai cũng nhận ra. Có lẽ phải đến xế chiều ta mới nhận ra sắc hồng rực rỡ của nắng trưa?

Mở đầu tập thơ là câu thơ chứa nghịch ngữ để lại nhiều dư âm trong lòng người:

Ta sinh ra vào cõi phù du

Nên mãi đi tìm vĩnh cửu

 (Phù du)

Phù du/vĩnh cửu là một cặp đối lập: phù du là kiếp sống ngắn ngủi sớm nở tối tàn; vĩnh cửu là bất biến. Hai mặt đối lập ấy không chỉ là sự phản ánh hiện thực thuần túy của thời gian dưới những giác độ khác nhau, mà quan trọng hơn là nói cái nghịch lý trong khát vọng của con người. Câu thơ như đúc kết cái phúc và cái phận của thân phận người. Đam mê và khát vọng là ý chí sống/máu sống, nhưng sự phá sản của ý chí niềm tin là hố thẳm tuyệt vọng. Cái được và cái mất chỉ trong gang tấc, vinh quang và cay đắng chỉ lìa một bước chân. Quá trình tìm ra bản lai diện mục của mình là vấn đề nan giải, và chủ nghĩa hiện sinh ra đời như một hy vọng tìm thấy ý nghĩa cuộc sống qua việc khảo sát miền bí ẩn của cuộc sinh tồn, nhưng Soren Kierkegaard - ông tổ của học thuyết ấy, đã cùng một lúc tuyên bố sự thành công và phá sản của mình: nghịch lý lớn nhất của toàn bộ tư tưởng là cái nỗ lực khám phá một điều gì đó mà tư tưởng không thể nghĩ ra5. Sự vén màn một nghịch lý và sự đóng đinh một tư tưởng không thể vén màn nơi thân phận người là bởi con người, theo Freud, bị điều khiển bởi vô thức, nhưng bản chất của vô thức là gì, thì đến nay vẫn là ẩn số vĩ đại của tự nhiên.

Hai câu thơ trên của Trịnh Bửu Hoài, nói đến bản năng Eros (bản năng sống). Đó là khát vọng vượt lên chính mình, tìm đến một thế giới khác ngoài mình, nhưng khi chạm đến cái thế giới ngoài mình ấy, vô tình, đến ngõ bản năng Thatanos (bản năng chết).

Ý thơ trên lại được lộn trái khi tác giả tác giả đứng trước ngưỡng cửa của Năm mới:

Đến khoảnh khắc về trăm năm

Quá dư cho một kiếp tằm buông tơ

Hay trong Hoài niệm: Một ngày ví với thiên thu

Một đời ví với phù du thật buồn

…. Kiếp người từ tỉnh sang mê

Chỉ là chớp mắt bên lề tử sinh.

 (Phù du)

Trong cái nhìn nhị nguyên nhuốm màu sắc Phật giáo, bằng nghịch ngữ, nhà ta đưa ta đến cái nhìn huyền đồng6 trong triết học Lão Tử. Để ta nhận thấy rằng đến cũng là về trong một cuộc hành trình; chớp mắt/khoảnh khắc/một ngày/phù du cũng trong cùng một địa hạt với một đời/kiếp người/thiên thu/trăm năm…; tỉnh và mê đỗ cùng một bến trong hiện tồn của thân phận; trăm năm là ngắn, một ngày lại quá dư… vậy chúng ta chọn cho mình cách sống như thế nào sau sự nhận thức ấy?

Trịnh Bửu Hoài không chỉ đắm chìm trong những vấn đề siêu hình mà còn lắng lòng nghe những va đập của cuộc đời, và tác giả dùng nghịch ngữ như một kiểu phản tỉnh, phản tư sâu sắc. Quan tâm và có trách nhiệm với đời, nhà thơ nhận thấy những nghịch lý, những trái tai gai mắt, sự xuống dốc của đạo đức…: con người sẵn sàng bước qua lòng nhân đạo, tình yêu thương, lương tri, đức tin… để leo lên đỉnh cao của tham vọng; nền tảng đạo đức truyền thống bao nhiêu đời nay bây giờ như những xác ướp thuật ngữ trong cuộc sống kỹ trị này, cuộc sống với triết lý cái búa của Einstein: Tiến bộ kỹ thuật như một cái rìu nằm trong tay kẻ bị bệnh tâm thần:

Về đâu về đâu về đâu

Khi tên sát nhân được sung bái

Kẻ nhân từ bị bĩu môi

Người hành khất bị nghi ngờ

Gã xảo trí được niềm tin

Thánh hiền phải sợ quỷ thần

Người thân dè dặt lẫn nhau

Như con thiêu thân, họ bất chấp tất cả:

Ai nhanh chân chạy trên con đường danh vị

Đạp lên xác kẻ thù

Đạp lên xác người ơn

Sẽ sớm đến vầng hào quang đang vẫy gọi

Cứu cánh không sợ gì tội lỗi.

(Thứ sáu ngày bảy tháng tám năm lẻ chín)

Đứng bên/trên sự thị phi bon chen ấy, nhà thơ buông một tiếng thở dài ẩn một sự thức tỉnh:

Ai kia chạm bến bờ sinh tử

Mới biết rằng trắng cả hai tay

Và giữa cuộc sống ấy, Trịnh Bửu Hoài chọn cho mình cách hành xử đúng với đạo đức và bản tính của mình:

Hạnh phúc hóa nở giữa vườn triền phược

Hạt an vui gieo xuống bãi ưu phiền

Ta bình yên giữa chốn chẳng bình yên

Ta thánh thiện dù không là thần thánh

 (Trăng của nghìn thu)

Phải chăng vì con người và nhân cách cao đẹp ấy nên thơ Trịnh Bửu Hoài vẫn ánh lên niềm tin yêu giữa sự vây bủa của những bế tắc?

Vẫn xanh một niềm hy vọng, vẫn yêu đời yêu người da diết khôn nguôi, bởi nhà thơ biết chắt lọc, biết gạn đục khơi trong, biết tự làm mới mình và nhận thức lại dù chỉ là những chuyện nhỏ nhặt, ai cũng trải qua hằng ngày như một lần qua sông, một ban mai trước biển, một lần về Hà Nội, một lần sống lại những kỷ niệm xưa… Và con người thủy chung nghĩa tình ấy luôn giữ cho mình một bầu trời kỷ niệm luôn rưng rức một màu hoa như một bến đỗ giữa cuộc đời nhiều biến thiên, thay đổi:

Biển vẫn xanh hoài vị mặn

Với đời mãi mãi không vơi

Em là những cơn gió trắng

Cuộn thành lượn sóng hồn tôi

 

Ban mai tôi đi biển nhớ

Dấu chân sóng xóa tan rồi

Chỉ còn trái tim kín ngỏ

Trăm năm giữ bóng một người.

 (Ban mai trước biển)

Nếu màu xanh của biển là vĩnh cửu, vị mặn của biển là muôn đời, thì em chỉ là cơn gió vô hình thoáng qua đời tôi. Sóng biển đã xóa tan dấu chân em, thời gian làm mờ nhòe hình ảnh em. Nhưng cái hay ở nghịch lý: biển là hiển hiện ngàn năm, là bất biến nên lại là bình thường, còn em trong tôi chưa đến đã vội đi, như một ảo ảnh nên muôn đời vẫn còn là khoảng trống, vẫn còn luôn mong mỏi, vẫy gọi khát khao…

Mỗi con người là một ẩn số đối với chính mình, và chúng ta sinh ra để giải tìm ẩn số ấy. Phải chăng vì thế mà Lão Tử khẳng định: thắng nhân giả lực, tự thắng giả cường. Trịnh Bửu Hoài làm thơ là một hành trình tự giải phẫu mình đau đớn trong hạnh phúc như vậy.

Dạng nghịch ngữ thứ hai trong Tinh sương chiều có chung một kiểu kết cấu: tác giả đưa ra một quan niệm, lối sống, một vấn đề… nhưng kết thúc lại mở ra cho ta một con đường khác, một cách nhận thức khác, độc giả phải tự đặt lại vấn đề và trả lời câu hỏi ấy theo cách riêng.

Mở đầu là bài Phù du, cho ta một quan niệm về một kiếp sống ngắn ngủi, chật hẹp… nhưng kết thúc bài thơ là cõi bao la của kiếp phù du nào đã ai sống đủ, sống hết?

Đứng giữa bao la trời đất

Sống hoài chẳng hết phù du

Trong mạch vận động ấy, Mê và Thực được cấu trúc như hai mặt đối lập và thống nhất từ hình thức tổ chức đến nội dung tư tưởng. Hai bài thơ nằm đối diện nhau mà đường biên của trang sách là chiếc gương phẳng, nếu là vật thì Thực là ảnh và ngược lại, song vật hay ảnh thì cũng chỉ là một mà thôi, một trong hai mất đi thì cái kia cũng không còn tồn tại.

Về tư tưởng, đọc xong thì chúng ta thoát khỏi bến mê và đạt đến một sự nhận thức tỉnh táo về cuộc đời, ngược lại đọc xong Thực lại thấy nhân vật rơi vào cõi vô minh, mù quáng:

Gió không sắc hương mà thổi thành nỗi nhớ

Rượu không ngọt bùi lại rót mút cơn say

Ta mê mải đi tìm muôn thuở

Giữa cuộc đời chỉ một gang tay

 

Thực

Đêm nằm mộng tưởng là cõi thực

Ngày loay hoay đuổi bóng phù du

Đời là tạm sao ta ngây ngất

Cứ yêu người bất chấp thực hư

 

Vậy thực hay mê, mê hay thực? Hai trạng thái ấy khiến ta liên tưởng đến giấc mộng hồ điệp của Trang Chu xưa kia, không biết Trang mơ thấy mình thành bướm hay bướm biến thành Trang? Người thành bướm hay bướm thành người cũng chỉ là giấc mộng, mê hay thực, thực hay mê cũng khởi tạo từ nhất nguyên.

Nghịch ngữ là một phép đạo hàm tư tưởng, một kiểu lộn trái cảm xúc, để ta nhận chân vấn đề đầy đủ đúng đắn hơn.

Trong 5 bài thơ có dạng nghịch ngữ thứ hai mà chúng tôi khảo sát, thì bài thơ Thứ sáu ngày bảy tháng tam năm lẻ chín có cấu trúc nghịch ngôn hơi khác, bởi nghịch ngôn ở đây được tạo tác trong mối liên hệ tư tưởng giữa khổ thơ đầu với toàn bộ phần còn lại của bài thơ:

Một ngày trôi qua ngỡ như bình lặng (1)

Mặt trời vẫn mọc hướng đông và lặn ở phía tây (2)

Đốt tuổi bao người xế theo bóng nắng (3)

Thắp lớn vạn người dưới rặng tinh anh (4)

Nghịch ngôn ở bài thơ này được sử dụng tối đa, gần như ở câu thơ nào chúng ta cũng tìm được nghịch ngôn. Ở câu (1) có một tiền giả định, dự báo cho ta rằng: một ngày trôi qua là không bình lặng. Nhưng câu (2) lại là sự phủ nhận triệt để tiền giả định trên qua từ vẫn. Câu (3), (4) là sự diễn giải cụ thể của câu (2), nhưng nội tại chúng đã nảy sinh mâu thuẫn, Mặt Trời đối với người này là đốt tuổi thì với người khác là thắp lớn, đối với người này là một sự trừng phạt thì đối với kẻ khác lại là một sự gia ân… Song, về đại thể, toàn bài thơ thể hiện sự đối lập giữa cái bình thường và cái bất thường. Tưởng rằng Mặt Trời vẫn mọc, tưởng rằng không có gì mới dưới ánh sáng Mặt Trời, nhưng biết bao điều đã thay bậc đổi ngôi, người anh hùng bây giờ chỉ tìm thấy trong truyện cổ tích và kẻ sát nhân lên ngôi, ánh sáng đạo đức bị bóng đêm tội lỗi bao phủ, sự lạnh giá đông cứng của thói vô cảm đang bung nở một cách sống động trong ánh hoàng hôn le lói lụi tàn trong trái tim nóng bỏng yêu thương ngày xưa, giờ đang dần khô héo. Hiện thực cuộc sống hôm nay mang màu xám tối qua sự phản quang của nghịch ngữ lại càng rõ nét. Nhưng không phải vì thế mà ta chìm ngập trong bóng đen của đêm tối, với sự minh triết tự thân, chúng ta có quyền lạc quan tin tưởng: bóng tối là cửa ngõ của ánh sáng, như 6 sẽ bị 7 phủ định và 8 sẽ bị 9 bước qua.

Trên đỉnh núi Cấm đưa lại cho ta một màu sắc khác, một ý vị khác. Khác theo nhiều chiều, nhiều hướng. Nếu những bài thơ trên, nghịch ngữ được tổ chức theo kiểu diễn dịch thì ở đây câu cuối lại là tiếng chuông đời đánh động cả cõi Phật và cõi lòng người. Cả bài thơ được chia làm bốn khổ, mỗi khổ sáu câu, thì ba khổ trên và năm dòng đầu của khổ cuối chìm trong sắc màu Phật, ý vị thiền, trong niềm an vui phúc lạc của giải thoát, của cõi Niết-bàn, cảnh vật và lòng người như đã nhập tịch và thăng thiên, trên đỉnh cao - đỉnh núi Cấm. Nhưng từ trên đỉnh cao của sự nhập đạo/đạt đạo ấy tiếng động đời lại vang vọng: Rơi về cõi phù du.

Nghịch ngữ ở đây còn được quy chiếu trong mối liên hệ với quan điểm tư tưởng khác. Người ta đến cửa chùa cõi Phật chìm đắm trong vị thiền, ý đạo là lẽ đương nhiên, Trịnh Bửu Hoài lên đỉnh núi Cấm - nơi có bức tượng Phật Di Lặc lớn nhất châu Á trên đỉnh Thiên Cấm sơn hùng vĩ nhất của vùng Thất Sơn huyền bí và linh thiêng, nơi bầu trời cảnh bụt mà tâm tưởng lại vọng tiếng đời, mà quay về cõi phù du mới là đại đạo. Đó là cảnh giới cao nhất của nhà Phật, với huệ nhãn thì cái nhìn mới trở lại bình thường, núi lại là núi, sông lại là sông…

Nghịch ngữ là biện pháp độc đáo được nhà thơ sử dụng phong phú, đa dạng và đem cái nhìn, giọng điệu rất riêng cho Tinh sương chiều. Phải có một độ chín cả đường thơ lẫn đường đời mới mong hun đúc cho mình được nhãn giới như vậy.

Tinh sương chiều là tên bài thơ khép lại tập thơ như trong một sự mở đầu, và mỗi bạn đọc yêu thơ Trịnh Bửu Hoài đều tin tưởng và hy vọng những cách cửa thơ sẽ luôn còn mở ra…

Nguyễn Thị Tuyết

----------------

Tài liệu trích dẫn:

(1) Trịnh Bửu Hoài, (2012), Tinh sương chiều, Nxb Hội Nhà văn, Hội LH VHNT An Giang.

(2) Đinh Trọng Lạc, (1999), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, tr. 267 - 268.

(3) Nguyễn Thế Truyền, Nghịch ngữ - phép tu từ của những mâu thuẫn thống nhất

(4) Ở đây chúng tôi chỉ trích dẫn một vài dẫn chứng, người cổ đại như Lão Tử (Đạo khả đạo phi thường đạo/ Danh khả danh phi thường danh); Khổng Tử (Tri chi vi tri, bất tri vi bất tri, thị tri); ca dao: Đàn ông nông cạn giếng khơi/ Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu; cho đến những ngày nay người ta vẫn sử dụng nghịch ngữ như một cách sử dụng ngôn ngữ tinh tế, như Shakespear (Dường như thượng đế làm lung lay đức tin của tôi để tôi đồng ý với Pythagoras); như Albert Einstein (Tiến bộ kỹ thuật như một cái rìu nằm trong tay kẻ bị bệnh tâm thần); Freud (Nền văn minh và sự bất mãn của nó)…

(5) Bryan Magee, (Phan Huỳnh Anh, Mai Sơn dịch) (2003), Câu chuyện triết học, Nxb Thống kê, Hà Nội, tr.268.

(6) Thu Giang Nguyễn Duy Cần (2013), Lão Tử tinh hoa, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, tr. 165-166 Giải phân kỳ - bỏ phân chia, giải thoát tâm hồn trí não của ta ra khỏi cái óc phân chia sự vật.

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác