Ngày xuân đọc “Về Côn Sơn” cùng Nguyễn Duy

Những ngày cuối năm được ngồi uống trà và đàm đạo về nhân tình thế thái, về cuộc sống, về thơ ca cùng nhà thơ Nguyễn Duy, với tôi là một điều thú vị. Càng thú vị hơn, tôi được đọc bản in thử cuốn sách thơ - ảnh “Về Côn Sơn” gồm 30 bài thơ chữ Hán của cụ Nguyễn Trãi do anh dịch thành thơ lục bát, chủ biên và nhiếp ảnh. Một cuốn sách đẹp và quý...

Ngày xuân đọc “Về Côn Sơn” cùng Nguyễn Duy  - ảnh 1 

Sách thơ - ảnh “Về Côn Sơn” (tuyển tập 30 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi) là cuốn sách thứ hai trong tủ sách “truyền bá tinh hoa văn hóa Việt Nam” do nhà thơ Nguyễn Duy chủ biên. Đây là tâm huyết của anh khi dự định làm sách thật đẹp về các nhà thơ lớn của dân tộc như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Hồ Xuân Hương… và về chùa cổ, nhà thờ, đình làng Việt Nam…

Nguyễn Duy là người hoài cổ với văn hóa dân tộc. Hơn 12 năm từ khi tuyên bố gác bút không “mần” thơ (1997-2009), Nguyễn Duy vẫn đều đặn xuất bản thơ trên lịch thơ do chính anh làm cùng con trai thứ hai - Nguyễn Duy Sơn. Rồi anh triển lãm thơ kỷ niệm 50 tuổi đời và 30 năm làm thơ (kể từ lúc in bài thơ đầu tiên năm 1967) trên giấy dó, trên thúng, mủng, giần, sàng… và nhiều cuộc triển lãm “thơ Nguyễn Duy” ở Việt Nam và nước ngoài. Nghĩa là anh không đoạn tuyệt với thơ. Đặc biệt, Nguyễn Duy đã thực hiện tập sách thơ - ảnh “Thơ Thiền Lý -Trần” tam ngữ (Hán - Việt - Anh) do anh chủ biên, nhiếp ảnh và dịch thơ, Nguyễn Bá Chung và Kevin Bowen dịch sang Anh ngữ, Nhà xuất bản Văn hóa Sài Gòn ấn hành. Năm 2008, nhân dịp Đại lễ Phật đản Liên hiệp quốc tổ chức tại Việt Nam, tập sách này đã được tái bản làm quà tặng của Thành phố Hồ Chí Minh cho Đại lễ. Độc bản của nó in trên giấy dó khổ lớn (80x110cm) đã triển lãm thành công tại Thư viện Tp. Hồ Chí Minh (tháng 5.2005), tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội, tháng 10.2005, nhân kỉ niệm 995 năm lập đô Thăng Long) và tại Boston (Hoa Kì, tháng 4.2007). Vậy, Nguyễn Duy vẫn trân trọng nâng niu Thơ như một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần lẫn tâm linh.

*

Từ năm 1986, Nguyễn Duy đã viết bài thơ Côn Sơn:

Ráng chiều nhuốm máu Ức Trai

thềm rêu leo lét dấu hài hoàng hôn

mắt nhìn bia đá Côn Sơn

Ruột gan thì để tận vườn Lệ Chi

Tôi biết anh rất ngưỡng mộ tài năng và thơ ca của Nguyễn Trãi (1380-1442), một đại thần nhà Hậu Lê, một đại thi hào và anh hùng dân tộc của Việt Nam, một danh nhân văn hóa thế giới. Theo Nguyễn Duy, cuộc đời của Nguyễn Trãi là một bi kịch lớn: tài năng nhất, công lao nhất nhưng kết thúc lại bi đát nhất với thảm án Lệ Chi viên. Thơ cụ không chỉ là “thiên cổ hùng văn” như Bình Ngô Đại cáo, mà còn mang đầy tâm sự nhân tình và vẫn còn giá trị thời sự cho đến bây giờ: “Đời như một giấc mơ hoang/ Tỉnh ra mọi sự chỉ tòan ảo thôi/ Nay ưa sống cảnh núi đồi/ Ở bên hoa đọc sách người đời xưa” (Ngẫu thành) (*).

30 bài thơ chữ Hán trong “Về Côn Sơn” được Nguyễn Duy chuyển thành thơ lục bát truyền thống của dân tộc, cố gắng theo cách dịch “tín-nhã-đạt”. Anh bắt tay thực hiện từ năm 2006, cộng tác với nhà nghiên cứu Hán-Nôm trẻ Phạm Văn Ánh biên tập và hiệu đính văn bản Hán ngữ. Hai nhà thơ tại Mỹ, Nguyễn Đỗ và Paul Hoover, dịch sang Anh ngữ. Để có được những bức ảnh đẹp, anh đã tự đi chụp qua nhiều chuyến xuyên Việt hay những lần trở lại Côn Sơn… Hai cha con, Nguyễn Duy và Nguyễn Duy Sơn, cùng một số bạn hữu giúp sức, vừa thiết kế mỹ thuật, vừa chỉnh sửa hình ảnh cũng tốn mất hơn năm trời. Anh cho biết, ban đầu anh định chọn 33 bài nhưng sau lấy 30 bài, để vừa cuốn sách, vì giá thành của nó quá cao, mỗi bài thơ (tam ngữ) được in cùng hình ảnh trên 4 trang bốn màu sang trọng. Thơ Nguyễn Trãi thấm đẫm cảm hứng thiên nhiên, lòng yêu nước, thương dân cùng nỗi niềm nhân sinh… Mở đầu tập sách, anh chọn bài “Tĩnh Yên vãn lập” (Chiều ở Tĩnh Yên) như một bức tranh phong cảnh: Chiều tà khói nhạt mây thưa/ Sắc màu như có lại vừa như không/Đất trời muôn thuở tươi trong/ Vì ta mà nước non lồng nên tranh. Những bức tranh thiên nhiên cứ ẩn hiện suốt tập thơ đan xen với những bức tranh tâm trạng… Xác xơ vượn hạc buồn tênh/ Nát lòng nhìn khói lênh đênh chiu tà/ Nhờ người vẽ giỏi gần xa/ Bút nào vẽ tấm lòng ta giữa đời (Nhờ người vẽ bức tranh Côn Sơn)…

Nguyễn Duy nhận ra rằng, sự bất công đối với những bậc đại công thần như Nguyễn Trãi đâu chỉ xảy ra ở thời nhà Lê, đấy là sự phi lý lịch sử không phải của riêng một thời nào. Chính Nguyễn Trãi đã viết: “Nghìn năm thù nước trả xong / Công lao muôn thuở cất trong rương vàng/ Hết thời chỉnh đốn thế gian/ Còn ai đếm xỉa đến trang anh hùng (Đề trên kiếm)…

Theo chính sử, Nguyễn Trãi theo cha là Nguyễn Phi Khanh đến ải Nam Quan, nghe lời cha dặn phải tìm cách rửa nhục cho đất nước, ông đã trở về và bị quân Minh giam lỏng ở Đông Quan. Nhưng trong quá trình đọc thơ và những nguồn tham khảo khác, Nguyễn Duy lại thấy Nguyễn Trãi bị bắt theo cha sang Trung Quốc, sau khi cha mất ông mới được hồi hương. Trong thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi có rất nhiều địa danh ở Trung Quốc mà ông đã đến đó, và những bài thơ mang tâm trạng nhớ quê trong khoảng thời gian mười năm lưu lạc, như: Từ khi lưu lạc quê người/ Bấm tay đếm mấy tiết trời thanh minh/ Tổ tiên ngàn dặm, thôi đành…Mười năm thân thích đã thành hồn ma… (Thanh minh). Hay: Mười năm phiêu dạt bềnh bồng/ Lòng như cờ phất nỗi mong trở về/ Gửi hồn vào mộng tìm quê/ Lệ pha máu nhỏ suông về cố hương…(Viết trong thuyền về Côn Sơn). Đến Mười năm xa cách núi ngàn/Nay về tùng cúc mọc hoang nửa chừng… (Đến Côn Sơn sau loạn)…Ăn tòan rau, ngủ thiếu chăn/ Mười năm đọc sách nghèo cằn tận xương…(Gửi bạn).Theo Nguyễn Duy, Góc thành Nam lều một gian, có tài liệu nói đó là thành Nam Kinh tức kinh đô của nhà Minh hồi bấy giờ chứ không phải Đông Quan (Hà Nội bây giờ). Tuy nhiên, không biết chính xác cụ bị giam hay làm quan, làm dân hoặc làm gì ở bên đó, nên  anh vẫn phải theo chính sử.

Tôi hỏi: “Vậy, anh đã làm như thế nào để giữ lại được văn phong của thơ Nguyễn Trãi chứ?”

Nguyễn Duy (ngẫm nghĩ): Tôi đã nhiều lần trở lại Côn Sơn để chiêm nghiệm và chụp những bức ảnh sử dụng trong tập sách này. Nguồn tuyển chọn chủ yếu là bộ sách “ Nguyễn Trãi toàn tập”, NXB Khoa học Xã hội, 1976, có tham khảo một số bản sách khác. Cũng như với cuốn thơ thiền Lý -Trần mà tôi đã làm, tôi mò mẫn chuyển những bài thơ thất ngôn, ngũ ngôn của cụ Nguyễn Trãi thành thơ lục bát của dân tộc, cố gắng cho tự nhiên, sát được ý mà không làm mất đi cái hồn thơ. Tất nhiên đây là một cách làm rất khó khăn mà tôi quyết chọn. Mò mẫm gần ba năm mới tàm tạm được 30 bài, nhiều khi cứ một mình lẩm bà lẩm bẩm như người dở hơi. Bản dịch này không thể gọi là ưng ý hoàn toàn, nhưng tôi đã làm hết sức để Việt hóa câu chữ và tránh sự can thiệp của tiếng Việt hiện đại, sao cho hợp với thơ xưa mà người nay vẫn đồng cảm được. Tôi tham khảo những bản dịch thơ Nguyễn Trãi của các bậc tiền bối, để học cách cảm thụ và tránh sự trùng lặp.

Ngày xuân đọc “Về Côn Sơn” cùng Nguyễn Duy  - ảnh 2
Chắc chắn rằng, với một việc dài ngày và dày công như thế, Nguyễn Duy phải gặp nhiều khó khăn khi thực hiện. Đó là sự hao tổn cả tâm sức, thì giờ lẫn tiền bạc. Nếu không có sự đam mê và nhẫn nại ở mức cao thì không thể nào làm được. Theo tôi biết, anh đã giấu vợ tiền lương, tiền làm lịch thơ những năm trước để làm cuốn sách này. Tập trung cho cuốn sách, anh đành bỏ lỡ vụ lịch thơ tết Canh Dần, như thất thu mất một mùa lúa… Vâng, với Nguyễn Duy làm văn chương thật là phải “rũ được gan ruột mình ra” và “Dù ở đâu vẫn tổ quốc trong lòng"… 

Chia tay nhà thơ Nguyễn Duy, tôi không khỏi băn khoăn khi ngẫm nghĩ lời anh tâm sự: “Mình đang đuối dần. Đuối cả về sức lực lẫn tài chính. Tủ sách “truyền bá tinh hoa văn hóa Việt Nam” mình dự định làm 12 cuốn, để những người khác sẽ làm tiếp. Đến nay, hết 2009 rồi, mới làm được hai cuốn. Số còn lại, không biết có làm nổi không”…

Nguyễn Tý           

---------------------------

(*) Chúng tôi chỉ trích dẫn phần dịch thơ của Nguyễn Duy

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác