“Ngày đang mở sáng” (*)

Vân Long

Hình thức của "Ngày đang mở sáng" là thơ tự do có nhịp điệu, không xa rời xa nhạc tính truyền thống. Giọng thơ được buông bắt, lúc dồn gấp, lúc khơi mở phù hợp với nội dung từng khúc, đoạn được thể hiện. Ngôn ngữ trong sáng, không hàm súc đến mức khó hiểu, không hồn nhiên đến mức dễ dãi. Sự liều lượng hợp lý của hình thức khiến sự chuyển tải nội dung được uyển chuyển, tôi cho đó là hình thức phù hợp với một bản trường ca.

Thú thật, khi đọc lướt lần đầu để nắm bắt ý đồ và bố cục của trường ca Ngày đang mở sáng, tôi thấy nó hơi bị vụn, do tác giả chia ra nhiều khúc, nhiều đoạn quá. Cả thảy có 11 khúc bao gồm 60 đoạn thơ.

Nhà thơ như người đã tới đỉnh núi, nơi mình “ngộ đạo”, hồi ức lại con đường mình đã đi qua, ở mỗi chặng nhỏ, bên cạnh nhân vật trữ tình với mọi cảm thức của người trong cuộc ở độ tuổi ấy, hoàn cảnh ấy, còn có một Trần Anh Thái từ nới thức ngộ nhìn lại để bình xét con người và hoàn cảnh lịch sử. Thí dụ giữa Khúc trẻ thơ (khúc I) trong sáng của tuổi thiên thần, người đọc luôn được nhắc nhở:

Tôi bỏ quên đám mây buồn bầu trời âu lo trĩu nặng

Quên cơn nắng ran mặt đất khô cằn

Lúc ấy nhà thơ kể bình. Những khúc và đoạn khác, nhà thơ lại hoàn toàn đắm mình trong hiện thực đang xẩy ra, để cảm nhận hiện thực đến từng chi tếit sống, lúc ấy nhà thơ thực sự viết (quan niệm kể và viết hiện thực của giáo sư Hoàng Ngọc Hiến).

Khi đã nắm được ý đồ tác giả, thấy mỗi cách thế hiện này đều có hiệu quả riêng của nó trong một bản trường ca nhiều khúc, đoạn, tôi coi mỗi đoạn như một bài thơ trữ tình, như mỗi viên ngọc có vẻ đẹp riêng, bản trường ca như một quốc đảo gồm nhiều hòn đảo nhỏ…

Thấy được điều ấy, tôi mới bình tâm đọc chậm từng khúc, đoạn.

… Nếu cần trích hai câu biểu tượng cho thời thơ ấu của tác giả, có lẽ là hai câu này:

Không có hoa mài gà cánh đồng khô nứt nẻ

Bé thơ đứng cắn ngọn cỏ gà chớm nở bình minh

Trẻ thơ hồn nhiên cả trong cảnh khổ, bởi chúng cũng chưa biết gì nhiều để mà so sánh. Không có hoa thì nhâm nhi ngọn cỏ, có sao đâu! Mặc dầu chung quanh cậu, không những đất khô nứt nẻ không cây gì mọc được mà người người vẫn phải đổ xuống cánh đồng cơn đói mờ run.

Hiện thực dù u tối đến đâu cũng không che được ánh sáng thiên thần. Cậu bé vẫn:

Nắng thu trong suốt giòn tan nụ cười con trẻ

Lọ thủy tinh nâng niu trong trẻo bầu trời

Đứa trẻ hồn nhiên này vẫn có sức mạnh riêng của mình, bởi chúng vẫn là niềm hy vọng, nỗi chờ mong của người lớn: Chúng tôi đi qua nỗi đau, nỗi buồn tan biến. Và cậu bé cứ thản nhiên: hào phóng tung những con tàu cất giấu trong mơ/ Bay mãi mãi về phía mặt trời bí ẩn.

Rồi cậu bé trở thành một chàng trai biết yêu. Tình yêu của chàng thánh thiện, trong trẻo như bao cuộc tình lần đầu chớm nở:

Vô cớ một tiếng chim

Vô cớ u buồn

Tôi cất giấu giấc mơ vào ngăn bàn học

Và tối tối tôi bí mật lấy ra

đặt trong trái tim mơ hồ thuần khiết

Lang thang khắp các nẻo đường

Trĩu nặng dấu chân em.

Giai đoạn này có một khúc thơ trọn vẹn là một ca khúc tình yêu (đoạn 4 khúc II) ghi nhận khá biểu tượng về các sắc thái của thứ tình cảm kỳ diệu này, lúc thì lý tưởng đến mức thiêng liêng: Ngôi đền thiêng cao vút trên xa kia/ Những chùm mây vây bạc. Lúc thì tình yêu bị những thói tục cổ xưa ngăn trở: Những tảng đá già nua cũ kỹ chắn đường. Nhưng chàng trai không sởn lòng trước những khó khăn khiến Bàn chân rớm máu con đường. Không phải bàn chân rớm máu, mà bàn chân đã làm con đường rớm máu, một bản sao nâng cấp của lời cầu chúc dân gian Chân cứng đá mềm!

Người thanh niên không chỉ biết đắm mình trong tình yêu. Anh còn tìm hiểu cuộc sống của ông cha mình từ xưa trên mảnh đất này: Tôi lang thang khắp cánh đồng tìm dấu chân tổ tiên/ Mảnh đất im lìm tầng tầng máu đổ… Một ngàn năm ao tù/ Một trăm năm ông cha dao cuốc tìm đường/ Gió hú tu tu miệng bình gốm cũ…

Nhà thơ nhận ra Ngoài kia rôi dạt con thuyền/ người bị ruồng bỏ ớ chính mảnh đất của mình… Vết thương bết máu/ Mảnh đất xác xơ/ Cơn gió tựa vào vòm cây bật khóc.

Khoan nói đến thế hệ xa xưa, thế  hệ đi trước mình một bước cũng gợi cho chàng trai nghĩ đến bước tiếp theo của mình: Vì sao nước mắt chị tôi rơi/ Chiến tranh hốc hác mặt người chỉ đơn giản là Anh tôi biền biệt chiến trường để chị một mình Trăng rằm côi cút sáng ngoài sân…

Đoạn 2 khúc IV là một bản tình ca buồn da diết, đêm trước khi người lính trẻ lên đường. Quê anh là vùng biển Đồng Châu tuyệt đẹp, cảnh càng đẹp càng nhói lòng lúc chia tay. Liệu ta còn được nhìn lại quê hương này nữa không? Chúng ta khắc bóng mình in trên mặt biển này/ Bài ca chúng ta biển ghi vào trong sóng…

Nhưng nét khắc ghi sâu đậm nhất trong đời người lính phải chăng là phút sống chết chỉ cách nhau cái tơ cái tóc. Đầu đoạn 2 và đoạn 5 của khúc V, những câu thơ chiến trường của Trần Anh Thái đầy căng cảm xúc: Mộ bạn đắp vội ngày/ Hàng cây câm lặng/ Trời Nghĩa Hành mây trôi rưng rưng/ Lê bước về chiều/ Người đi loạng choạng/ Tôi nghe lạnh giữa hai bờ cuộc chiến/ Cái chết nối hàng cái chết tiễn đưa nhau. (Đoạn 2/V)… Cái chết/ Bom vùi lấp mặt/ Mặt trời lấp mặt/ Xác quân thù xác bạn gục vào nhau/ Kẻ thất trận dưới chân đồi lê bước/ Kéo hoàng hôn rã rời/ Kẻ thắng trận hai tay ôm mặt khóc/ Thương tích tạc vào gió thổi ngàn sau…

“Xác quân thù xác bạn gục vào nhau/ Kẻ thất trận hai tay ôm mặt khóc”, thời gian làm nhoà dần những tình cảm căm thù, còn lại là nỗi đau xót của người với người lao vào cuộc tương tàn cốt nhục. Trong đêm, đọc chương này không khỏi gai lạnh toàn thân như lần đầu đọc những trang văn Bảo Ninh viết về chiến tranh, trung thực với từng ảo giác của mình, mà nhìn thẳng, nhìn sâu vào hiện thực nghiệt ngã, tàn khốc của chiến tranh, không né tránh…

Đoạn 1 khúc VII, tôi đánh dấu khuyên cả đoạn. Một người dân của ngôi làng vừa được các anh giải phóng, trở về nhà cũ. Ngỡ đó là niềm vui, ai ngờ: Má Mừng về quê cũ/ Nhà không đất không/ Cánh đồng ẩn đầy bất trắc/ Sông Vệ nhoà nhoà sương. Gương mặt chồng và năm đứa con/ Tàn nhang rơi lạnh/ Đôi khi giật mình tiếng gió kẹt cửa/ Lẩn thẩn hai tay sờ soạng phên thưa… Người lính sẵn sàng mất đi một sinh mạng, là bản thân mình. Nhưng người dân thường là Má Mừng đã 6 lần chết đi rồi sống lại bơ vơ, lần lượt tử biệt 6 người thân.

Hôm nay, đến kỷ niệm về những người đến giải phóng cho quê hương mình, cũng chỉ còn là: Chiếc lán cứu thương năm chiến tranh/ Giờ mọc vài cụm cỏ dại/ Trống hai bàn tay trống ánh nhìn.

Hai khúc VIII và IX là cảnh sống thiếu thốn cơ khổ ở cả hai vùng đất thời hậu chiến không phải là thiếu những câu hay, nhưng tôi muốn nhanh nhanh đi đến hai chương cuối, đến điểm loá sáng của nhận thức nhà thơ. Khúc X và khúc XI là hai cánh cửa chung một tấm bản lề, một cánh để đóng lại những gì thảm khốc của chiến tranh, một cánh để mở ra một chân lý mới, là sự bừng ngộ nâng tầm ý nghĩa của trường ca lên một cấp độ mà những trường ca trước đó dù muốn, dù có tác giả tài năng hơn, cũng không làm được. Hay nói chính xác hơn là chưa đủ điều kiện lịch sử để thuyết phục cả người đọc lẫn người viết.

Khúc X là sự suy ngẫm về cái chết ý nghĩa  và vô nghĩa của người lính ở hai phía chiến hào. Cái chết hầu như vô tăm tích sau mấy chục năm bom đạn. Người sống cứ phải sống vật lộn với cuộc mưu sinh, nhưng từng lúc, từng nơi người chết vẫn được nhớ đến, được vinh danh, truy tìm hài cốt. Còn xác những người lính phía bên kia, nhiều trường hợp thân nhân của họ ra nước ngoài sinh sống, thì họ hoàn toàn bị bỏ rơi, vô nghĩa cả lúc sống cũng như khi về với cát bụi như trường hợp Chiếc giếng cạn ngày xưa/ Giờ là nấm mồ chín người lính nguỵ/ Những cái chết vô danh không tên, không địa chỉ

Nhưng ngay những người lính chết trận ở chiến tuyến của chính nghĩa cũng đâu tránh khỏi bơ vơ trước sự quên lãng của người đời. Chỉ người đồng đội của họ trên con đường héo hút tìm mộ bạn mới thấy hết sự bi thảm khi trở lại chiến trường xưa:

Mộ bạn tôi đâu?

Câu hỏi không cất thành lời càng đun sôi ảo giác trong mưa nắng hầm hập gay gắt, chỉ có tiếng của hoang vu trả lời: Vách núi dựng ầm ào thác đổ/ Một tiếng chim côi cút rừng xa/ Tiếng ống cóng gõ qua cơn đói/ Thẳm vào cõi sâu!

Sự im lặng côi cút cũng dễ hiểu: Bao nhiêu năm rồi không ai về đây/ Âm u con đường mất dấu. Người sống còn bao nhiêu việc phai rlo toan, giành nhau từng chỗ ngồi, chỗ đứng, giành nhau thị trường, giành nhau lợi nhuận.

Chỉ có người đồng đội - nhà thơ mới tặng cho bạn vòng hào quang thi sĩ này:

Mộ bạn không dấu vết

Chơ vơ vòm trắng mây bay

Tác giả nhấn mạnh mấy từ không thê thiết:

Bạn tôi chết không ngày không tên đất

Vô vàn tấm bia trên mộ không tên

Từ một trường hợp cụ thể không tìm được di cốt bạn mình, nhà thơ gieo một câu nặng hơn cả những con số không ở trên cộng lại: Bạn như chưa từng có về một người có họ tên, quê quán, có người yêu chờ đợi anh về, có bố mẹ sinh ra, có sự nuôi dưỡng kỳ vọng, bỗng trở thành người… chưa từng có!

Choáng váng vì sự hoang lạnh của mảnh đất chiến trường xưa, nhà thơ tưởng như thấy lại được đâu đây cảnh tượng thê thảm:

Bóng người dìu nhau bết máu. Màn đêm lặng phắc bãi chiến trường, gió khô mặt đất. Mơ hồ cơn co giật, tiếng gọi thất thanh, tiếng kêu cứu vớt, ròng gương mặt thời gian ám mùi bom đạn … Từng nhúm xương chắp vá vô tình đêm tối mò tìm. Căn hầm nồng nặc

Lòng thương cảm bất lực của tác giả đành đặt lên mộ bạn câu thơ:

Những chùm hoa dại trắng tinh trên vết máu chiến hào

Để thăng bằng lại, để công bằng lập lại, những người bạn trở nên vô tăm vô tích, như chưa từng có của nhà thơ, thực ra vẫn có mặt trong sự biết ơn của những người còn sống, của thế hệ sau chiến tranh, để nhà thơ hát lên lời ca giục giã thế hệ trẻ:

Thức dậy em ơi!/ Hãy bước lên thuyền giong buồm ra biển cả/ Đêm tối mịt mùng mưa giông bão táp/ Đôi tay em cứng cáp dần lên/ Và gió lặng, biển là nơi đầu tiên mặt trời ghé đậu/ Mặt nước sẽ ấm lên hào phóng trinh nguyên/ Và sóng biếc nâng cao/ Tôn em lên cùng tận cõi người.

Nếu trường ca này kết thúc ngay ở đây với những lời có cánh như trên thì tôi thấy hơi lo cho sự tiếp nhận của độc giả, bởi có những điều trùng lặp khó tránh khỏi ở những trường ca khác viết về chiến tranh; cũng một tuổi thơ trong sáng với quê hương còn nhiều đói khổ, một lịch sử miếu đền gắn liền với những hạn chế của hủ tục, những người đi chinh chiến trở về xây dựng quê hương lại gặp những vật lộn đời thường… Rồi kết thúc có hậu bằng một ngày mới tươi sáng của hoà bình xây dựng đất nước.

Nhưng…

Chỉ đọc đến khúc XI tôi mới dám chắc mình có thể viết những dòng chia xẻ niềm vui với tác giả về trường ca này mà không bị lặp lại những người đi trước trên lĩnh vực phê bình.

Hoá ra, những chuyến xuất cảnh ra ngoài biên giới nước mình, đã giúp nhà thơ trực tiếp nhìn ra dấu vết của cuộc hành trình bao đời nay của nhân loại. Tiêu biểu là chuyến anh tới Băng Đảo một vùng tuyết trắng, là xứ sở đỉnh chóp của thế giới. Từ đây như nhìn bao quát được mặt địa cầu: Những dấu chân người xưa/ Hiện bóng dáng đoàn quân Vi - king mở cõi/ Vẳng cơn gió ngàn năm/ Mơ hồ những cuộc chinh phạt.

Anh hỏi vào không gian cao rộng Con đường bắt đầu từ đâu? Hạnh phúc thật của con người là gì? Mà từ xứ sở đỉnh chóp thế giới này vẫn In dấu những bàn chân dò tìm sự sống. Dấu tích trận núi lửa vùi lấp toà thánh đường, từ nét chữ khắc vào mặt đá Dậy lên tiếng đao khua, ngựa hí chiến trường xưa…

Qua những bằng chứng như dấu vết người xưa trên vách đã, trên bến tàu Địa Trung Hải với bao chuyện huyền thoại này. Trên bến tàu hiện đại lồng bóng cổ xưa, bao thuỷ thủ trên những con thuyền đã ra đi tìm sự sống: Những con thuyền ra đi? Những con thuyền không bao giờ trở lại, Nhưng họ vẫn cứ ra đi Như những tội đồ bị ruồng bỏ? Bóng họ chơi cơn khát trùng khơi.

Vậy là các dân tộc bằng nhiều hình thức đều phải lao vào cuộc hành trình, cuộc vật lộn kiếm tìm hạnh phúc. Anh ngộ ra:

Không có đại lộ trần gian

Không có bữa tiệc nào dọn sẵn

Gợi ta nhớ đến Lỗ Tấn “Trái đất vốn không có đường, người ta thì thành đường”. Thức ngộ lớn nhất của nhà thơ phát ra như một chân lý:

Không có vùng sáng nào đặc quyền

Không ai độc chiếm hào quang

Thức ngộ này có lẽ chỉ được phát huy một cách hợp tình, không địa ngôn và đầy tự tin, khi đằng sau nhà thơ là một đất nước đang chuyển mình…

Chỉ từ tư thế đó, những dòng cuối cùng của trường ca mới được vang lên một cách tự tin, thuyết phục: Tất cả quanh ta/ Cánh đồng núi đồi biển cả./ Nâng bước chân qua u tối đau buồn.

Và:

Ánh sáng nơi nơi toả rạng

Vang ca sự sống ngời sinh!

Hình thức của Ngày đang mở sáng là thơ tự do có nhịp điệu, không xa rời xa nhạc tính truyền thống. Giọng thơ được buông bắt, lúc dồn gấp, lúc khơi mở phù hợp với nội dung từng khúc, đoạn được thể hiện. Ngôn ngữ trong sáng, không hàm súc đến mức khó hiểu, không hồn nhiên đến mức dễ dãi. Sự liều lượng hợp lý của hình thức khiến sự chuyển tải nội dung được uyển chuyển, tôi cho đó là hình thức phù hợp với một bản trường ca. Xin chúc mừng nhà thơ Trần Anh Thái!

14.1.2008

(Tạp chí Thơ)

 

-------

(*) Trường ca của Trần Anh Thái, NXB Hội Nhà văn - 2007

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác