Nét thần diệu của tâm hồn Tày trong thơ Dương Thuấn

Mỗi nhà thơ đều có một vùng quê riêng, gắn với bao kỷ niệm yêu dấu của cuộc đời. Quê hương của Dương Thuấn là vùng núi cao Việt Bắc hùng vĩ. Chính vì vậy những vần thơ của anh về quê hương, bao giờ cũng phóng khoáng và bay bổng như chính tâm hồn của người dân miền núi.

Vào dịp tháng 10 năm 2010 mùa thu ở Tuy Hoà miền nam Trung Bộ, trời vẫn nắng chói chang, như Nét thần diệu của tâm hồn Tày trong thơ Dương Thuấn  - ảnh 1không bao giờ nguôi bớt đi cái nóng của mùa hè vừa qua - tôi nhận được Tuyển tập thơ Dương Thuấn gồm ba tập đồ sộ, dày hai ngàn trang. Thật là đột ngột, bất ngờ và đầy ngoạn mục. Cảm giác đầu tiên của tôi là choáng ngợp trước thành công của người bạn thơ Tày ở miền Việt Bắc quê hương. Nó như một làn gió thu se lạnh mang nét thần diệu của tâm hồn Tày quê mình, phả vào cái nóng miền Trung, làm cho cả đất trời nơi đây trở nên mát rượi và nhuốm cái lâng lâng của núi rừng sâu thẳm xa xôi mà xiết bao gần gũi. Cảm ơn, cảm ơn Dương Thuấn đã mang lửa hồn Tày soi sáng lòng tôi ở nơi đất khách quê người.

Mở đầu Tuyển tập thơ của mình, Dương Thuấn tự giới thiệu bản thân bằng một lời giản dị, mộc mạc, thấm đượm chất núi rừng hết sức độc đáo:

Hây lẻ pỏ chài cúa pù khau

Hây tán chắc phuối cằm sle mác khót

Dịch:

Ta là chàng trai của núi

Ta chỉ biết nói lời cho quả sai

Một lời nói bình dị nhưng nó chứa chan một ý nghĩa thật lớn lao. Đó là quan niệm rất giàu chất nhân văn của các trí thức miền núi là dâng hiến cho đời những điều cao quý nhất của lòng mình. Đó cũng là tuyên ngôn thơ của Dương Thuấn. Trong nguyên bản tiếng Tày hai câu thơ trên thần diệu hơn bản dịch tiếng Việt rất nhiều, nhất là về mặt âm điệu, âm thanh (về mặt âm thanh ngôn ngữ thơ, dù người dịch có tài ba đến đâu, cũng đành bó tay, khi dịch sang ngôn ngữ khác).

Hây lẻ pỏ chài cúa pù khau

Âm điệu của câu thơ này mềm mại, đượm vẻ khiêm nhường của người miền núi, bởi hai từ “pù khau” ở cuối câu mang vần bằng. Giới thiệu mình với mọi người bằng một vẻ khiêm nhường, như không có gì đặc biệt cả - đó là cách ứng xử đáng quý và đáng trân trọng của người miền núi.

Hây tán chắc phuối cằm sle mác khót

Câu thơ thứ hai này nghe chắc nịch bởi hai từ “mác khót” mang vần trắc ở cuối câu, nghĩa là kết trái, sai quả… Về mặt âm thanh, khi đọc câu thơ này bằng tiếng Tày, nó gợi lên một sự lắng đọng, tích tụ - ta như hình dung thấy bao tinh chất của đời từ rễ (rễ người dài) thăng hoa, rồi đung đưa kết trái làm nặng trĩu cả lá cành…Thật là thú vị, ơi tiếng Tày yêu dấu của chúng ta…

Tôi còn nhớ một kỷ niệm đẹp về sự ngưỡng mộ của một người bạn miền xuôi, đối với thơ Dương Thuấn. Đó là dịp tôi được đi dự Trại sáng tác do Hội nhà văn Việt Nam tổ chức tại Nha Trang vào tháng 7 năm 1997. Chị Hoàng Tuyên là cán bộ văn phòng Hội nhà văn cũng vào lo khâu tổ chức cho các nhà văn đến dự trại. Khi biết tôi là người Tày, chị nói ngay:

- Mình cũng biết một nhà thơ người Tày là Dương Thuấn, có hai câu thơ hay. Chị liền đọc ngay:

Ta là chàng trai của núi

Ta chỉ biết nói lời cho quả sai

Đầu chị Hoàng Tuyên hơi nghiêng nghiêng, mắt mơ màng đọc thơ Dương Thuấn trong ánh chiều biển Nha Trang say nồng. Nghe chị đọc thơ bạn, mà lòng tôi cũng thấy vui lây và trộm nghĩ rằng: Chị Tuyên ơi, giá như chị biết thêm tiếng Tày, đọc được nguyên bản hai câu thơ ấy, hẳn chị sẽ càng mê đắm hơn nữa đấy!

Mỗi nhà thơ đều có một vùng quê riêng, gắn với bao kỷ niệm yêu dấu của cuộc đời. Quê hương của Dương Thuấn là vùng núi cao Việt Bắc hùng vĩ. Chính vì vậy những vần thơ của anh về quê hương, bao giờ cũng phóng khoáng và bay bổng như chính tâm hồn của người dân miền núi:

Quê tôi núi ngàn cao vời và lớn rộng

Sáng sớm sương trời bay trắng lòng thung

Chiều về từng đàn mây vờn nhau trên cỏ

Xuân đến hoa đào nở đỏ, hoa lê trắng ngần…

Cái phóng khoáng của lòng người luôn hoà với thiên nhiên, muông thú:

Quê tôi núi ngàn mênh mông là thế

Ngồi bếp nấu cơm nghe vượn hú trên non…

Những vần thơ giản dị trên được viết bằng một tư duy thơ miền núi đặc sắc “Chiều về từng đàn mây vờn nhau trên cỏ”. Đám mây, áng mây, hay là làn mây - là cách nói phổ thông, chúng ta thường gặp. Nhưng ở đây nhà thơ gọi: đàn mây. Vậy là mây (vốn là bất động vật) trong con mắt của nhà thơ, nó đã thành động vật, như con nghé, con bê - là bạn của chúng ta rồi. Đó cũng là một nét sáng tạo mang dấu ấn riêng của thơ miền núi hôm nay.

Tôi là người Tày, là dân miền núi chính gốc, nhưng tôi vẫn cảm thấy thú vị khi hồn thơ Dương Thuấn dẫn tôi đi thăm những nét toả sáng trong lòng anh. Những dòng sau đây, là dành cho quê anh, quê tôi cũng là quê của chúng ta:

Quê hương không đủ chỗ đánh rơi đồng xu

Ba bước chân gặp núi

Ra khỏi cửa là leo là lội

Đằng kia biển rồi…

Càng chật hẹp về đất đai bao nhiêu, thì tâm hồn càng phóng khoáng bấy nhiêu. Đấy cũng là một phẩm chất của người miền núi chăng? Chính nhờ phẩm chất này mà nhà thơ nhìn thác Đầu Đẳng quê hương với một cách nhìn rất đặc biệt:

Vẻng đang lồng vảng đông đăm

… Tốc pền tát bửn phu khao xoác…

Tự gieo mình rơi xuống giữa đại ngàn

… Hoá thành thác bọt tung lên trắng xoá…

Câu đầu trong nguyên bản còn hấp dẫn hơn nữa “Vẻng đang lồng vảng đông đăm” (Tự gieo mình xuống những khe hở của đại ngàn tối sẫm) - Để làm sao cho tất cả núi rừng bừng sáng lên như ước vọng con người. Cảnh sắc thiên nhiên trong thơ Dương Thuấn đậm chất nhân văn và lãng mạn là vì vậy.

Thế rồi thơ Dương Thuấn dẫn chúng ta về thăm Bản Hon quê anh, một cái bản khi gọi tên lên đã đậm đà phong vị của hồn Tày. Đó là bản có mào, hay bản mào gà…hay là bản có tố chất của bình minh từ ngàn năm trước…:

Bản Hon ở xa trên rẻo cao

Hà Nội lên đi xe một ngày

Qua mấy núi, mấy đèo sẽ đến

Ở nhà sàn ăn nước sông Năng…

Việc đọc thơ phản ánh tâm hồn và hiện thực miền núi, đòi hỏi người đọc phải có hiểu biết tối thiểu về miền núi, thì mới thấm hết cái thần của tác giả gửi gắm trong bài thơ. Ở nhà sàn ăn nước sông Năng… Mới đọc qua câu này ta cảm thấy như có hạt sạn trong thơ. Ai nói ăn nước bao giờ? Phải viết là uống nước chứ! Nhưng không…. Ở đây tác giả dịch thẳng chữ “kin” của người Tày vừa có nghĩa là ăn vừa có nghĩa là uống. Đây có thể là một sự mạnh dạn làm phong phú thêm tiếng Việt chăng?

Từ bản Hon nhỏ bé nhà thơ Dương Thuấn lên đường đi xuống đồng bằng, rồi đi khắp bốn phương trời. Chỉ có một tâm hồn đậm chất núi rừng, thì mới có cách nói độc đáo này:

Ta có con mắt của con nai bên suối

Ta có con mắt của con báo trong lồng

Ta đi bộ từ núi xuống đồng bằng

Ta ghé tai hổ nói:

- Ta là họ Dương

Hổ liền cõng ta vượt núi

Giữa đường gặp trăng sao

Ta ngồi cùng trăng sao uống rượu…

Tôi không rõ những vần thơ ấy là hiện thực hay là siêu thực đây. Nhưng tôi khẳng định chắc chắn rằng: Nét thần diệu của văn hoá Tày thấm đẫm vào hồn anh, nên Dương Thuấn mới có những vần thơ đầy ngoạn mục như thế.

Lên đường xuống đồng bằng học hành và phấn đấu thu nhận nhiều tri thức của đất nước và nhân loại, Dương Thuấn cũng có lúc nhớ về quê núi. Nhưng nỗi nhớ không đượm chất u buồn của người xa quê như nhiều người khác, mà là một sự tiếc nuối, vì phải tạm xa vầng vui trên núi biếc và cũng là những phút trầm tư cần thiết để tự nạp thêm năng lượng hồn núi vào lòng mình:

Có những lúc ngồi một mình

Nhớ về Bản Hon

Bốn năm chục nóc nhà sàn

Không có ngày nào chán…

Tôi đồ rằng khi nhà thơ buột miệng thốt lên: Không có ngày nào chán, hẳn anh cũng sẽ nở một nụ cười tự thưởng cho riêng mình ở chốn đô thành…

Nhớ quê hương cũng chính là nhớ đến mẹ hiền. Với một tấm lòng da diết và thương mẹ, Dương Thuấn đã có những vần thơ xứng đáng với người mẹ kính yêu của mình:

Mẹ thường dặn mang bình đi đựng chữ

Nhớ đựng cho đầy

Mẹ không dạy làm bài ca

Mẹ chỉ hát con nghe trong tối…

Mẹ chỉ hát con nghe trong tối

Đây lại là một phát hiện nữa về tâm hồn cao vời và mênh mông của người mẹ miền núi chúng ta. Tôi có cảm tưởng rằng: Lời mẹ hát xua đi tất cả mọi bóng tối của đất trời, của lòng con, của lòng người và của lòng đời trên thế gian này. Hai chữ “trong tối” thật là bình dị mà cũng thật là nặng ký trong thơ. Trong tối mà lòng mẹ sáng. Mẹ chỉ hát trong tối, như thể chỉ riêng hai mẹ con nghe, nhưng khi đưa vào thơ, thì tất cả chúng ta cùng nghe… Đi đến tận cùng của dân tộc mình, sẽ gặp nhân loại - chính là trường hợp này chăng?

Vẻ đẹp của người con gái hiện lên trong thơ Dương Thuấn đầy sức quyến rũ, nhất là những cô gái Núi Hoa quê anh:

Cô gái Núi Hoa

Mái tóc trời xanh về ở

Bắp chân thon mây trắng quây quần

Ngôi sao đậu vào con mắt…

Đó là một vẻ đẹp như trong huyền thoại. Trong nguyên bản “Đao đí chắp đâư tha lủng tích” (Ngôi sao đậu vào trong mắt sáng lấp lánh). Một quê hương như vậy, thử hỏi người miền núi chúng ta sao không đáng tự hào?

Nét thần diệu của hồn Tày trong thơ Dương Thuấn, biểu hiện rõ nhất ở tính cách con người miền núi thấm đẫm trường văn hoá đậm đặc chất Tày- Nùng. Nét văn hoá ấy vẫn còn toả sáng lòng người trên những bản làng vùng cao hôm nay. Đó là một điều đáng quý hơn bao giờ hết. Khách đến thăm nhà mình, là một vinh dự. Và khi khách đi, thì chủ nhà chỉ nói: Đừng để cầu thang tôi mọc cỏ gà… Một câu tưởng chừng như chẳng ăn nhập gì với sự quyến luyến, bịn rịn chia tay khách, trước lúc khách ra đi… Nhưng ẩn sâu trong ấy là một sự mong mỏi, ngóng chờ và khao khát vô bờ bến: Khách sẽ luôn trở lại đến thăm nhà mình…và cỏ gà ở cầu thang sẽ không mọc nổi bởi những bàn chân… Cái thẳm sâu của lòng người miền núi được biểu hiện bởi một câu nói rất mộc mạc đơn sơ. Tôi gọi đó là sự thành công trong thơ anh.

Càng đi sâu vào thơ Dương Thuấn ta càng thấy nhiều nét độc đáo trong tâm hồn của người miền núi rất đáng tự hào. Vấn đề mẹ chồng nàng dâu ở dưới xuôi từ bao đời nay thật là nan giải. Song ở miền núi vấn đề này thuận buồm xuôi gió hơn nhiều. Những ai đã từng sống lâu năm ở miền núi, có dịp chiêm nghiệm, thì sẽ thấm thía những vần thơ sau đây của anh:

Mẹ chồng bao giờ cũng vậy

Cả đời quý nhất mỗi con dâu

Con dâu cùng đi rẫy mỗi ngày

Con dâu trông mẹ lúc ốm đau

Con dâu cúng ông bà tiên tổ…

Gia đình người Tày ở Việt Bắc dù theo chế độ phụ hệ, nhưng vai trò người phụ nữ hầu như quyết định mọi việc trong nhà và ngoài đồng áng. Phụ nữ mà làm việc như đàn ông: Cày ruộng, đập lúa, lấy củi, cuốc đất… Chính vì thế:

Khi con dâu đi yêu người khác

Con trai viết đơn đòi ly dị

Mẹ chồng vẫn yêu quý con dâu

Một lòng bảo con trai chớ bỏ…

Một người mẹ chồng bao dung như vậy, thật là đáng quý và đáng hoan nghênh, nhất là trong xã hội ngày nay.

Cũng như Dương Thuấn, tôi cũng đã từng được đi nhiều nơi ở các vùng miền xuôi. Rồi những năm tuổi trẻ tôi được Đảng và Nhà nước ta gửi đi du học dài hạn ở Liên bang Xô Viết. Là dân địa chất, tôi cũng đã từng đi nhiều nơi ở đồng bằng và vùng núi Liên Xô. Nhưng tôi chưa thấy nơi nào có nghĩa địa trẻ con như ở bản làng người Tày quê tôi. Chính điều ấy là một sự độc đáo. Hiện thực độc đáo mà được phản ánh bằng một nét văn hoá độc đáo, thì bài thơ sẽ thêm phần quyến rũ. Bài thơ “Đi qua nghĩa địa trẻ con” của Dương Thuấn là một trường hợp như thế.

Tháng sáu mưa phùn cỏ rậm

Trở trời ma con khóc ti ti

Đứa khóc ngằn ngặt, đau đớn

Đứa khóc buồn khổ lầm lì…

Từ xa xưa trẻ em đau ốm

Chết không được vào hòm chôn

Đặt vào dậu treo lên ngọn cây rừng…

Thật là xót xa cho những số phận trẻ thơ sớm lìa đời. Có một câu trong nguyên bản tiếng Tày không thể dịch nổi cho trọn ý là: Tua lẻ hảy nhòi nhòi (Đứa khóc “nhòi nhòi” ) - nghĩa là khóc tức tưởi, tội nghiệp, khổ thân và mong ngóng… mẹ cha và người thân. Hai từ “nhòi nhòi” điệp âm này sao mà thần diệu và lay động lòng ta sâu thẳm thế? Những người đã từng làm cha làm mẹ, liệu có cầm nổi nước mắt khi nghe con mình khóc nhòi nhòi trong một buổi chiều mưa ở nghĩa địa không, hả trời?

Thơ Dương Thuấn được sáng tác bằng con mắt của người trong cuộc. Tâm hồn anh đầy ắp bao nỗi niềm quê núi. Chính vì vậy có những nét hiện thực rất khó có thể thành thơ, như vấn đề: sức kéo cho nông nghiệp ở vùng cao chót vót của núi - thế mà qua hồn thơ anh (hẳn đã phải lao động nghệ thuật rất công phu) - một tứ thơ lấp lánh đã hiện hình và chinh phục được bạn đọc. Đó là bài thơ Cõng trâu. Bản trên núi cao dốc đứng, muốn lên thì phải bám đá mà leo. Vậy thì trâu bò làm sao lên nổi. Ấy thế mà ông Giàng nảy ra một sáng kiến rất thông minh:

Ông Giàng đi xuống chợ phiên

Ai hay ông mua nghé sữa

Đong đưa chiếc gùi đeo nặng

Chân đi một bước lại dừng nhìn

 

Phiên đầu ông mua nghé cái

Chọn giống hay ăn lại đẻ dày

Phiên sau mua thêm nghé đực

Đem nuôi cho lớn để kéo cày…

Chúng ta phải cảm ơn những người dân quê núi như ông Giàng. Dẫu môi trường sống đặc biệt khó khăn, mà lại có sáng kiến tuyệt vời như vậy để phát triển kinh tế ở vùng sâu vùng xa nhất của Tổ Quốc. Tôi rất thích bài thơ này, vì nó có tứ rất độc đáo.

Thơ Dương Thuấn không những thể hiện thành công những nét cổ kính của văn hoá Tày - Nùng, mà những mảng hiện thực miền núi hiện đại cũng được thể hiện với những nét đặc sắc riêng. Môi trường sống miền núi, tâm lý và phẩm chất người miền núi, có những nét hết sức đặc thù. Nó vừa mang cái chung lại vừa mang cái riêng trong cuộc sống hiện đại. Những thầy cô giáo cắm bản vì sự nghiệp giáo dục ở vùng sâu vùng xa - là một thí dụ điển hình về vấn đề này. Bài thơ “Lần lỡ độ đường” như một nốt lặng tạm thời trong âm nhạc, để làm nền tảng cho những giai điệu đẹp rực ngời vụt lên toả sáng. Một lần tác giả đi trên đường khuya núi vắng, thấy một túp lều lá lẻ loi:

Thầm thì

Thầm thì

Bên trong có hai cô giáo trẻ

Cằm tỳ gối soạn bài

Duỗi chân hong bên bếp…

 

Tôi khe khẽ chào

- Kìa không có cửa…

Hai cô cười: Nói gì lạ nhỉ!

Đây thế đã quen, mời anh vào nghỉ…

 Và cuối cùng tác giả viết:

Bâng khuâng lòng buồn như sương

Vừa lớp vừa nhà, một căn lều cũ…

Một bài thơ giản dị mà cảm động, phản ảnh được tấm lòng cao thượng của các thầy cô giáo vùng cao hôm nay. Tôi có cảm giác rằng căn lều cũ ấy càng tuyềnh toàng trống hoang bao nhiêu, thì tấm lòng của hai cô giáo ấy càng đầy ắp tình người, tri thức cuộc sống và càng cao thượng bấy nhiêu. Thơ cần phải có ích cho người cho đời là vì vậy! Với bài thơ này, Dương Thuấn đã cho chúng ta một bài học quý: Hãy đi tới những vùng hẻo lánh xa xôi nhất của đất nườc, mà thâm nhập thực tế… Ở những nơi ấy sẽ luôn có những vỉa vàng lấp lánh của lòng người đợi chờ các nhà văn nhà thơ chân chính…

Thơ Dương Thuấn cũng đã chú ý đến những xao xác mơ hồ như có như không, mà hết sức tinh tế của những tâm trạng con người miền núi hiện đại. Chẳng hạn như bài “Cơn mơ trên chòi cao”. Đây là kiểu thơ hiện đại: Chỉ chớm gợi lên những ý tưởng, rồi bỏ lửng cho người đọc tự suy nghĩ tiếp…để hoàn thành bài thơ tuỳ theo mức độ trải nghiệm cuộc sống của mình:

Nằm trong chiếc chòi treo trên mây

Bao ý tưởng hiện về náo nức

Chập chờn, vo ve, u u

Giấc mơ trên cánh diều hâu

Như ong bay tìm tổ cuối mùa đông

Như hoa trà núi thơm

Tiếng suối kêu róc rách…

 

… Bạn nghĩ gì về tôi khi trăng lên

Tôi nghĩ gì về bạn lúc mặt trời mọc?

Cái sự trở trăn về cuộc sống, về đời, về tình bạn, về những miền quê bát ngát của Tổ Quốc - là một ẩn số X trong bài thơ này. Nhưng đối với riêng tôi, Triệu Lam Châu, tôi như thấy ẩn số X đã bắt đầu loé sáng, nhất là ở hai câu cuối của bài thơ. Bạn nghĩ gì về tôi khi trăng lên? Có thể đấy là bạn đồng bằng, ngước lên nhìn trăng mà nghĩ về tôi… đang ở trên này cùng trăng núi… Rồi lúc mặt trời mọc…ở vùng đồng bằng hay biển… tôi lại nghĩ bạn như mặt trời… Nếu X là tâm trạng say nồng về đời của người ở phía trăng sao, thì hẳn X’ là tâm trạng cũng hết sức quyến rũ của người ở vùng nền, vùng mặt trời mọc… X hay X’ trong trường hợp này tuy hai mà một, thống nhất, bổ sung cho nhau, phong phú vô cùng - như tình đoàn kết keo sơn giữa người miền xuôi với người miền núi của Tổ quốc chúng ta!

Cái xôn xao của lòng người miền núi hiện đại trong buổi giao mùa, cũng được thể hiện độc đáo trong bài thơ ‘Mùa lá bay”:

Rì rào… rì rào…

Lá nửa màu vàng tươi

Lá đã xám xịt khô quăn…

Bay xuống lòng đường dốc

 

Núi vắng bỗng nhiên vui

Tiếng gió thổi qua đèo vi vút

Người đang đi đứng lại xem

…Rừng xau xau đang thay áo mới…

Rừng xau xau, chính là rừng phong đấy. Độc giả đã từng quen với hình tượng rừng lá phong vàng rực rỡ trong bức tranh “Mùa thu vàng” của hoạ sĩ Nga Lêvitan nổi tiếng thế giới. Rồi trong thơ Nguyễn Du, với kiệt tác Truyện Kiều cũng có câu:

Người lên ngựa, kẻ chia bào

Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san…

Phải tạm biệt mùa lá phong vàng, nhẽ ra lòng người phải xao xác buồn mới đúng, nhưng sao đây lại: Núi vắng bỗng nhiên vui?

Nếu bạn đọc đã từng lên miền núi vào tháng ba, mà chiêm ngưỡng màu xanh mềm mại hết sức quyến rũ của rừng phong Việt Bắc, thì bạn lập tức sẽ bị thôi miên ngay bởi chính màu xanh huyền diệu ấy. Bạn có thể đứng hàng giờ liền ngắm nhìn mãi mà không thấy chán màu xanh thần diệu của lá phong mùa xuân - nó là đường mật, là thuốc bổ dưỡng tâm hồn của tinh hoa đất trời miền núi… Mùa lá bay, mùa lá rụng… là điều không tránh khỏi. Vậy thì cứ vui với cái non tơ, với màu xanh huyền diệu sẽ tới - có lẽ hơn chăng? Do vậy niềm vui ở đây được rọi sáng bởi lý trí sâu xa:

Lá rụng cây đau rồi cây trổ búp

Lá bay bay cho bản vắng càng vui…

Cảm thức của người miền núi hiện đại rất tinh tế. Cái trống vắng bâng khuâng, nỗi xao động sâu thẳm không cùng, khi nhớ về bao kỷ niệm máu thịt cuộc đời - đã được thể hiện thành công trong bài thơ “Có một buổi chiều”. Tôi cũng rất thích bài thơ này, nhất là trong nguyên bản tiếng Tày:

Có một buổi chiều không gió mây

Nhà sàn mái xám rêu xanh dày

Từng viên ngói máng nằm bốc khói

Em xuống chợ về mặt đỏ gay

 

Hôm sớm lưng nương ngày ngày bận

Bỗng đâu dư một buổi chiều nay

Dắt chú ngựa hồng ra suối tắm

Kỳ cọ mà thương lưng nó gầy

 

Có những chàng trai mười năm trước

Đi đánh giặc tan chẳng thấy về

Bao bà lão nay còn mong ước

Ngắm áo của chàng cũ vẫn mê

 

Có những buổi chiều lòng quanh quất

Ngồi không mà tưởng chuyện người dưng

Ai đã sống từ muôn kiếp trước

Có một buổi chiều như thế không?

Bài thơ như một mạch kể chuyện bình dị mà thấm đượm tình người tình đời. Đây là hiện thực tâm trạng của những người phụ nữ miền núi thời hậu chiến. Bài thơ phảng phất buồn, mà làm cho ta hết sức trân trọng những mối tình thuỷ chung và trong trẻo như suối nguồn của thanh niên vùng cao.

Ngày ấy, trước khi chàng lên đường đi đánh giặc, hẳn nàng đã từng cùng anh đi ngựa xuống chợ phiên. Rồi khi đi chợ về, nàng đã cùng anh “Dắt chú ngựa hồng ra suối tắm”. Thế rồi anh lên đường đánh giặc… và đã không trở về…

Giờ đây mỗi lần nhớ anh, nàng lại:

Dắt chú ngựa hồng ra suối tắm

Kỳ cọ mà thương lưng nó gầy…

Tôi nghĩ rằng khi làm hai câu thơ này, hẳn tác giả đã rơi nhiều nước mắt, bởi trong tâm hồn anh đầy ắp bao câu chuyện tình cảm động của một thời hào hùng đã qua của đất nước.

Thực ra được sống lại với kỷ niệm cũ thiêng liêng, cũng là một hạnh phúc, hạnh phúc tinh thần. Vậy là một mình, mà hạnh phúc vô biên. Hai câu cuối của bài thơ không buồn, mà như chứa chan một niềm hãnh diện và tự hào:

Ai đã sống từ muôn kiếp trước

Có một buổi chiều như thế không?

Rõ ràng một người giàu nội tâm và hết sức coi trọng hạnh phúc tinh thần mới thốt lên như thế. Cảm ơn nhà thơ Dương Thuấn đã cho chúng ta thêm một bài thơ hay và cảm động.

Trong nguyên bản tiếng Tày của bài thơ này, có hai câu tuyệt vời. Nó hay về điệp âm, nên không dịch nổi sang tiếng Việt:

 Ngoạ pền kép ngáo ngáo khửn dai

 Pây háng mà noọng nả đeng ó ó..

(Từng viên ngói máng bốc khói “ngáo ngáo”) - Nghĩa là bốc khói mãnh liệt, dẫu từng làn khói bay lên lúc dày lúc mỏng… Nó hay ở chỗ điệp âm ngáo ngáo

(Em xuống chợ về mặt đỏ “ó ó” ) - Đỏ ó ó, nghĩa là đỏ như phát sáng, đỏ một cách trẻ trung, một màu đỏ đang thở nồng nàn. Chỉ điệp âm ó ó trong tiếng Tày mà nó thể hiện những nội dung như vậy, thì quả thật là vô cùng khó khăn khi dịch sang ngôn ngữ khác.

Có thể nói qua Tuyển tập thơ Tày - Việt đồ sộ này của Dương Thuấn, hiện thực và tâm hồn người miền núi đã được toả sáng với một vầng hào quang mới rất đáng tự hào. Núi non, đất trời lồng lộng của miền cao và nền văn hoá Tày - Nùng đặc sắc đã kết tinh thành một tiếng thơ Dương Thuấn độc đáo hôm nay.

Tôi đã dành ra bốn tháng đọc kỹ Tuyển tập thơ Dương Thuấn, để viết nên bài cảm nhận này. Tôi không phải là nhà phê bình văn học, mà chỉ là người bạn thơ Tày của Dương Thuấn. Chính vì vậy những điều tôi viết về thơ Dương Thuấn đều xuất phát từ lòng trân trọng về sức lao động thơ có thể gọi là phi thường của bạn. Đồng thời tôi cũng muốn bạn đọc thưởng thức thơ Dương Thuấn theo con mắt của chính người miền núi, thì sẽ hiểu sâu thêm nét thần diệu của tâm hồn Tày trong thơ Dương Thuấn ra sao.

Tôi vừa nối mạng Internet hơn năm nay. Tôi truy cập những trang web văn học, thì thấy ba trang nặng ký nhất hiện nay là: trannhuong.com - phongdiep.net - và lethieunhon.com. Tôi thật sự cảm phục trước sự dấn thân tự nguyện hết sức vô tư vì văn học, với khối lượng công việc đồ sộ của các chủ nhân các trang web ấy. Với sự ngưỡng mộ và cảm phục, tôi đã từng viết thư riêng gửi cho nhà thơ Trần Nhương, nhà văn Phong Điệp và nhà thơ Lê Thiếu Nhơn rằng: Các anh chị thật xứng đáng được phong danh hiệu anh hùng cao quý trên mặt trận văn học của nước nhà. Dẫu nhà nước chưa phong cho các anh chị danh hiệu cao quý ấy, nhưng theo tôi, Triệu Lam Châu, thì trong lòng độc giả danh hiệu ấy đã đến với các anh chị rồi.

Giờ đây khi đọc Tuyển tập thơ đồ sộ song ngữ Tày - Việt của nhà thơ Dương Thuấn, tôi lại muốn nghĩ như trên được chăng?

Triệu Lam Châu

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác