Mỹ học của thời gian


(Toquoc)- Thời gian trong mối quan hệ với nghệ thuật đã trở thành phạm trù của mỹ học. Trong các sáng tác văn chương, thời gian đã trở thành quy ước nghệ thuật của cái đẹp và sự chân thực trong sáng tác. Tuy nhiên, thời gian như một phạm trù của mỹ học không đồng nhất với thời gian nghệ thuật như thi pháp học thường vận dụng trong nghiên cứu. Thời gian với tư cách một phạm trù mỹ học nhấn mạnh đến những khắc khoải của chủ thể sáng tạo về các ấn tượng cuộc sống, hoặc những ám ảnh từ quá khứ được lưu giữ qua các giai đoạn của tồn tại, vì vậy, nó tự nhiên như cách con người xúc cảm và nghĩ về đời, về người. Trong khi đó, thời gian nghệ thuật ở thi pháp học là thời gian đã được điển cố về mặt nội dung, mang đặc trưng phong cách nghệ thuật cũng như quan niệm sáng tác có tính quy ước ở một giai đoạn văn học cụ thể, vì vậy, sự đóng khung và cứng nhắc trong khi diễn giải các hình tượng nghệ thuật là những giới hạn cố hữu của kiểu thời gian này.

Với tinh thần và quan điểm trên, tôi xem mỹ học của thời gian như là phạm trù đặc biệt trong thơ ca, nghệ thuật. Nó nhấn mạnh đến ý thức truy tìm các giá trị tươi sáng và thuần khiết thông qua những biểu tượng nghệ thuật quá khứ, trong truyền thống suy tư đã trở thành sức mạnh và sự thiêng liêng của thời đại, dân tộc. Vì vậy, mỹ học của thời gian như là quá trình thanh lọc những tạp âm của thơ ca thời hiện đại đang mong cầu “đạp đổ” hay “giải thiêng” các giá trị truyền thống thuần khiết vốn đã trở thành biểu tượng của cái đẹp dân tộc. Thông qua tập thơ Miền thương nhớ của thi sĩ Hồng Vinh, tôi muốn làm công việc của nhà khảo cổ học và thực chức luận, tìm lại các biểu tượng thời gian trong quá khứ - những giá trị đã trở thành xúc cảm phổ quát của cái đẹp, để khẳng định: Cái đẹp trong thơ ca là phạm trù có tính lịch sử. Vì vậy, bỏ qua các hiệu ứng quá khứ của lịch sử, đặc biệt là các giá trị cốt lõi của tinh thần dân tộc biểu hiện trong văn hóa, ngôn ngữ, thì thơ ca hiện đại sẽ chỉ là thân cây, có thể đa màu sắc, nhưng mất gốc và thiếu sức sống.

Mỹ học của thời gian - ảnh 1
Bìa sách

Có một sự thực là, thơ ca hiện đại với những cách tân vượt quá giới hạn của mỹ cảm đã trở thành bức tường chặn đứng sự hứng thú của người đọc về nó. Thơ ca cách tân hoặc thơ ca tính dục, hay  kiểu “thơ nghĩa địa”…là thứ mà người đọc bị đẩy vào tình huống vô cảm trước “ấn tượng” mà nó tạo ra. Sự ức chế đã trở thành điểm quy chiếu phản thẩm mỹ, khi ai đó dính vào vòng hệ lụy mà nó tạo ra, khi họ “phải” đọc nó. Hẳn rằng, điều này là có lý do? Cái cảm giác “xấu hổ” như một hành vi đạo đức đã bật lên tức thời khi ai đó bắt gặp những ngôn từ phản cảm vốn đã trở thành “thi pháp” của các kiểu thức thơ ấy. Điều lý giải căn bản cho sự “lộng ngôn”, mà nhiều kẻ đã tán tụng cho dạng thức thơ kiểu Vi Thùy Linh... đơn giản, vì họ đã quên hoặc bị lãng quên các giá trị văn hóa có trong tâm thức thơ ca truyền thống Việt Nam.

Nếu ai đó với khởi sự của thi hứng bằng cái nhìn văn hóa dân tộc, yêu con người, yêu cuộc sống, trân trọng các giá trị lịch sử, thì hẳn rằng sẽ chẳng ai có thể kiên nhẫn ngồi đọc hết một bài thơ mang dáng dấp kiểu thơ “nghĩa địa” cả. Cái ấn tượng ngoa ngôn và dung tục không thể nào che khuất sự trong sáng và thuần khiết của ngôn ngữ dân tộc; cái cảm giác “hổ thẹn” ngay lập thức trở thành sức mạnh  đạo đức, phản ứng chống lại sự suy đồi văn hóa trong cách nghĩ của những kẻ đi ngược lại các giá trị của dân tộc.

Trong xu hướng chung chống lại sự suy đồi thẩm mỹ trong thơ ca ấy, sự ra đời tác phẩm Miền thương nhớ của Hồng Vinh là rất đáng trân trọng. Tác phẩm như tiếng nói gợi lại các giá trị và cái đẹp của thời gian đã đọng lại trong tâm thức văn hóa truyền thống, tư tưởng của dân tộc.

“Đọc thơ em

Nỗi day dứt lặn trong từng con chữ

Buồn đau mỗi số phận éo le

Khản tiếng chị reo hàng đêm giá buốt

Tiếng những trẻ thơ khuyết tật u ơ

Tiếng nạng thương binh lộc cộc vỉa hè..”[1]

Thơ ca hay bất cứ loại hình nghệ thuật nào muốn tồn tại, thì trước hết, nó phải nhất trí với cuộc sống. Thơ ca ra đời không nhằm mục đích cổ vũ cho những tư tưởng ở trên trời, đúng như Lỗ Tấn nói: “Không ai có thể tự nắm tóc mình mà nhấc mình lên được”; thơ ca muốn tồn tại được thì trước hết, nó phải sống đời sống tinh thần của dân tộc. Đời sống ấy đúng như Hồng Vinh đã xây dựng hình tượng thơ thân quen, là tiếng vọng trong đêm của người bán hàng rong, là vết thương hằn trên cơ thể như nhắc nhủ nỗi đau mà cả dân tộc đã từng trải… Thơ muốn bắt rễ trong đời sống, thì bản thân người thơ làm ra nó phải có những rung cảm thẩm mỹ thực sự, phải đau và thấy được sự hiện hữu của thời gian trong cuộc sống, trong “mỗi số phận éo le”. Đọc đoạn thơ này, tuy lời thơ của Người thơ phảng phất một nỗi buồn khó nói, nhưng là một nỗi buồn sâu thẳm của tâm lý yêu hòa bình, vì thế, tinh thần thơ của Hồng Vinh buồn song không bi lụy. Cái ý niệm thời gian của một dân tộc nhiều phen trải qua binh lửa đã hằn lên trên hình hài của những em thơ, trên “vết chân tròn” của người thương binh như sự nhắc nhở về ý nghĩa của một đời sống hòa bình. Ý niệm thời gian ấy toát lên một vẻ đẹp nhân văn, nối kết tinh thần phản chiến sâu rộng ở con người, cổ vũ cho sự lập lại hòa bình trên quê hương, đất nước.

Tâm thức thơ của Hồng Vinh phản ánh tâm thức chung của triệu người dân Việt: Tôn trọng các giá trị con người, mà tiền đề của nó là tôn trọng các giá trị của một đời sống hòa bình, yên ấm. Giá trị nhân bản ấy của người Việt, mà nói đúng hơn là Việt tính đã trở thành thước đo xuyên thời gian và lịch sử, ẩn mình trong nếp nghĩ và hành động của con người. Mà nhìn đâu, trong dòng chảy của thời gian hình thành, phát triển đất nước, con người Việt Nam, ta cũng thấy một vẻ đẹp cao cả của chủ nghĩa nhân văn và tư tưởng nhân đạo:

“Từ thuở hồng hoang

Những mầm xanh lấn biển

Đàn ong hút mật gọi bầy

Con người cần cù mở cõi

Sinh thành dải đất hôm nay”[2]

Lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam là lịch sử của dựng xây và chống lại sự phá hủy. Từ những vĩ nhân “khai hoang lập ấp” cho đến cuộc chiến đấu vĩ đại của dân tộc nhằm bảo vệ những thành quả mà cha ông gây dựng, đâu đâu ta cũng thấy các giá trị của thời gian. Thời gian đã trở thành sự thử thách của con người Việt Nam, khi họ phải oằn mình gánh trên vai những sứ mệnh cao cả của thời đại: Phát triển đất nước và chống xâm lược ngoại bang. Ý niệm thời gian như sức mạnh của “lửa thử vàng” đã trở thành “bệ phóng” của tinh thần dân tộc trong thơ Hồng Vinh. Ý niệm ấy là thao thức, là niềm tin bất diệt về các giá trị cốt lõi của con người - điều mà một số nhà thơ “cách tân” hiện đại đã và đang tìm cách phủ nhận hoặc mưu cầu vượt qua, đó là: Giá trị lịch sử và văn hóa. Ý niệm ấy và sự tin tưởng vào các thành quả lịch sử của dân tộc trong quá khứ đã in đậm trong ký ức của Hồng Vinh về những cuộc chiến đấu vệ quốc dân tộc, về thành tựu xây dựng và đổi mới đất nước là: “ 12 cô Truông Bồn/ 10 cô ngã ba Đồng Lộc/ 8 cô hang đá Quảng Bình”[3], là “59 năm gập gềnh điện biên/ 38 năm điệp trùng Trường Sơn”[4]. Do đó, có thể nói, thơ của Hồng Vinh là một bức tranh lịch sử được vẽ bằng ngôn ngữ trong sáng, bình dị của dân tộc Việt Nam.

Thời gian trong thơ Hồng Vinh không phải là sự vận động của những sự kiện khô cứng được dụng điển từ các pho sử liệu, cũng không phải là cái “cảm giác” thời gian ẩn trong ý thức hiện thời về tồn tại, xét về mặt triết học. Mà, nó là thứ thời gian đã được thơ hóa, hay nói đúng hơn, nó đã được hình tượng hóa thông qua các biểu tượng, mà từ các biểu tượng thơ ấy, thời gian trong thơ của anh góp phần khơi gợi thi hứng ở con người. Vì vậy, cái đẹp của sự biểu tả về mặt thời gian trong thơ Hồng Vinh nằm ở sức mạnh hành động của con người trước thực tại, nhằm cải tạo hoặc sáng tạo các giá trị: Từ các giá trị nhân văn của cả một dân tộc thông qua quá trình gìn giữ bảo vệ hòa bình, cho đến các giá trị văn hóa được dựng xây qua mỗi giai đoạn hưng thịnh đất nước:

“Mấy mươi xuân, lửa bùng trở lại?

Rộn tiếng Đời gõ nhịp nồng say

Hương xuân ùa về theo lời em hát

“Mùa xuân đầu tiên” em gọi từ đây"[5]

“Mùa xuân đầu tiên”, đó là thao thức đợi chờ đợi một mùa yên bình, nơi các giá trị được nở hoa, “đâm chồi nẩy lộc” trên nhựa sống của một dân tộc tự do và độc lập. Đó là khắc khoải thời gian thuộc về tâm thức con người. Khắc khoải ấy đã trở thành hành động, là tiếng nói tụng ca mà các thế hệ như “thư anh T, anh H…”[6], là “Bao nhiêu cô gái hy sinh/ Để làm nên một con đường Giải phóng!”[7] đã ngã xuống cho mùa xuân đầu tiên nở hoa với tiếng chim ca và rộn tiếng cười. Hẳn rằng, trong tâm thức của người thơ, ý niệm về một “mùa xuân đầu tiên” đã trở thành ám ảnh tận sâu thẳm vô thức, mà biên độ thời gian để diễn giải tâm thức ấy là không giới hạn? Chúng ta vẫn bắt gặp đâu đó trong thơ Hồng Vinh tâm thức này:

“Thu này trời như cao hơn?

Duyên dáng váy mầu trong nắng

Say khoảng trời riêng lấp lánh

Lửa đời ủ mãi trong tâm”[8]

Ý niệm về hòa bình là ý niệm mang tính phổ quát. Song tùy từng dân tộc và thời đại, mà ý niệm ấy được cụ thể hóa cho phù hợp. Với một dân tộc mà thời gian chiến tranh nhiều hơn thời gian hòa bình như Việt Nam, thì ý niệm hòa bình không còn mang màu sắc của đạo đức học nữa, mà đã trở thành giá trị mỹ học của triệu triệu con người. Và đó cũng là lý tưởng, khơi gợi lòng tự hào dân tộc cũng như tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” qua bao thế hệ người Việt Nam. Tôi nghĩ, hoặc, Hồng Vinh là người đã phải trải qua những thời khắc mà mạng sống trở nên mong manh trước hòn tên mũi đạn, chứng kiến sinh mạng người “rẻ như bèo” trong chiến tranh; hoặc, anh là người yêu cuộc sống, trân trọng các giá trị từ cuộc sống bằng toàn bộ tâm hồn của mình thì mới cảm hết ý nghĩa của đời sống hòa bình. Giọng thơ và hình tượng thơ của anh xuyên suốt Miền thương nhớ phủ lên một tông màu chung: khát khao HÒA BÌNH và YÊN ẤM cho quê hương. Anh đã gửi gắm cả lý tưởng của mình vào đó:

Là:

“Cột mốc chủ quyền kiêu hãnh

Thạch Đông sừng sững gió lùa

Vùng đất một thời máu đổ

Thiêng liêng hai tiếng TỰ DO”[9]

Là:

“Hoàng Sa, Trường Sa

Thịt của thịt ta

Máu của máu ta

Cát và đá hiện hình bao thế hệ!”[10]

Ý niệm hòa bình không chỉ khẳng định các giá trị, kéo dài về mặt thời gian của một đất nước tự do và độc lập, mà còn là xúc cảm hướng tới các giá trị nhân văn cao cả, là hành động, là tinh thần chống lại những thế lực phản nhân văn, phi nhân tính toan lập lại chiến tranh, phủ bóng chết chóc lên nền hòa bình của con người. Vì vậy, ở mặt nào đó, ý niệm hòa bình phản ảnh những giá trị chân và thiện của cái đẹp, thu gộp cả thời gian quá khứ, hiện tại và tương lai vào sự tụng ca những giá trị bình dị, cốt lõi xung quanh đời sống con người. Bởi vì, khi con người còn trân trọng những giá trị bình dị quanh mình, là khi ấy, khát vọng chiếm lĩnh khoảng không tự do và thời gian hòa bình vẫn còn nguyên nhựa sống tươi mới. Suối nguồn trong trẻo ấy đi vào thơ Hồng Vinh thông qua các hình tượng thơ, phản ánh khát khao một đời sống bình dị và yên ả cho con người. Có những tứ thơ và hình ảnh thơ trong thơ của anh, mà người đọc phải giật mình vì sự trong trẻo và độc sáng từ tác giả, phản ánh khao khát sống, cống hiến và sự cảm nhận tinh tế thế giới bên ngoài của người thơ. Những hình ảnh thơ như:

“Biển miền trung trưa hạ

Cát bỏng rang bàn chân

Gió đâu mà kín tiếng

Buồm trễ tràng lặng thinh ”[11]

Hoặc:

“Sóng cứ tung bọt trắng

Ve vuốt em – thiên thần

Nắng cứ xanh rót mật

Xoa làn da mịn màng..”[12]...,

phản ánh tâm thức ấy. Thơ ca, theo tôi, không chỉ là tiếng nói của cá nhân mà còn là tiếng vọng của muôn người. Vì vậy, ý tứ cũng như ngôn ngữ thơ phải là ý tứ và ngôn ngữ của muôn người, phản ánh tinh thần của cả một thời đại. Thế nên, bất cứ sự cách tân thơ nào mà xa rời ý tứ cũng như ngôn ngữ có tính phổ quát của toàn dân, thì đều là những cách tân đi ngược lại với mong muốn và ý niệm sống của con người. Trong xu hướng bão hòa thơ, thậm chí là khủng hoảng thơ ca như hiện nay, những tiếng thơ trong trẻo như Miền thương nhớ của Hồng Vinh ra đời là cần thiết, để chống lại những thói sính tư tưởng và dung tục hóa thơ của các nhà thơ tự cho mình là “cách mạng” và “cách tân” nghệ thuật.

Với một đất nước được mệnh danh là “quốc thi” như Việt Nam, thì thơ phú muốn bám rễ vào cuộc sống thì nó phải làm được sứ mệnh khích lệ tinh thần, trách nhiệm của mỗi công dân với đất nước cũng như với vận mệnh dân tộc. Truyền thống thơ ca Việt Nam đã cho thấy, thơ ca không chỉ là sự thưởng thức nghệ thuật mà còn là sức mạnh chiến đấu mỗi khi đất nước gặp biến cố hiểm nguy. Chẳng phải vậy mà cuộc chiến đấu thần thánh của nhân dân Đại Việt trước quân Tống xâm lược luôn được nhân dân tôn vinh cùng một nhịp với khúc thần ngôn “Nam Quốc Sơn Hà”, rồi cuộc kháng chiến chống quân Minh của nhà Lê được nhân dân xướng ngôn cùng khúc khải hoàn thơ “Bình Ngô Đại Cáo”, cho đến sự thắng lợi trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ của nhân dân Việt Nam cũng thường gắn liền với các bản hùng ca tráng lệ bằng ngôn từ như “Máu và hoa”, “Việt Bắc”…

Sự vẻ vang và hãnh tiến của một dân tộc đã từng đánh bại nhiều kẻ thù lớn trên thế giới, không phải ngẫu nhiên gắn liền với các bản thần ngôn trác tuyệt bằng thi ca, hẳn rằng, nó phải có sức mạnh và vẻ đẹp chinh phục riêng của nó? Và vẻ đẹp cũng như sức mạnh ấy chính là vẻ đẹp của lịch sử, từ cái “cựa mình” của đất nước qua các giai đoạn sự sống. Mà, tựu chung lại, đó là: Mỹ học của thời gian.

Ngô Hương Giang



[1] Nguyễn Hồng Vinh (2013). Miền thương nhớ. “Thêm một nhành xuân”. Nxb Văn học, Hà Nội,  tr. 23.

[2] Nguyễn Hồng Vinh (2013). Miền thương nhớ. Sđd.,“Lá và Hoa”, tr. 47.

[3] Nguyễn Hồng Vinh (2013). Miền thương nhớ. Sđd., “Còn mãi Truông Bồn”, Tr.53

[4] Nguyễn Hồng Vinh (2013). Miền thương nhớ. Sđd., “Mộ chí chưa có tên”, Tr.73.

[5] Nguyễn Hồng Vinh (2013). Miền thương nhớ. Sđd., “Em hát gọi xuân”, Tr.29.

[6] Nguyễn Hồng Vinh (2013). Miền thương nhớ. Sđd., “Hai tiếng con người”, Tr.44.

[7] Nguyễn Hồng Vinh (2013). Miền thương nhớ. Sđd., “Còn mãi Truông Bồn”, Tr.53.

[8] Nguyễn Hồng Vinh (2013). Miền thương nhớ. Sđd., “Tiết giảng đầu năm”, Tr.77.

[9] Nguyễn Hồng Vinh (2013). Miền thương nhớ. Sđd., “Tản mạn Kiên Giang”, Tr.94.

[10] Nguyễn Hồng Vinh (2013). Miền thương nhớ. Sđd., “Dưới cánh bay”, Tr.79.

[11] Nguyễn Hồng Vinh (2013). Miền thương nhớ. Sđd., “Bên biển”, Tr.86.

[12] Nguyễn Hồng Vinh (2013). Miền thương nhớ. Sđd., “Bên biển”, Tr.88.

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác