Một tình yêu Hà Nội nhóm lên từ “Hồn phố” (1)

 

(Toquoc)- Đọc hết 30 bài tản văn của Chử Thu Hằng, cảm nhận đầu tiên của tôi là thấy toát lên một lối viết khá tinh tế, văn phong rõ ràng, trong sáng, có sức gợi qua từng trang, chứng tỏ tác giả là người đọc nhiều, đi nhiều và chịu khó quan sát.

Chử Thu Hằng sinh ra và lập nghiệp ở khu phố cổ Hà Nội nên rất hiểu mảnh đất này. Chị đã biết tận dụng lợi thế của mình khi cầm bút. Không đi vào những chuyện “vĩ mô”, chị thường viết về những gì vừa gần gũi thân quen, vừa dung dị có vẻ như rất đời thường, những trải nghiệm cá nhân được dồn nén đến mức như không viết không thể được. Đấy là thế mạnh của chị. Và theo tôi ở một khía cạnh nhất định chị đã thành công trong nhiều bài, nếu không muốn nói là đa phần. Xin hãy đọc một đoạn tản văn của chị trong bài “Sen tàn nghe rốn tiếng mưa”: “Không một bóng người, con đường nhỏ ven hồ ngập trong cây và cỏ dại. Hồ sen trong veo in bóng mây trời. Mùa sen đã qua từ lâu, chỉ còn những cuộng sen đã bị ngắt hoa thẫm màu ngơ ngác, cố vươn lên dõi tìm cánh hồng đã bị lìa xa. Những lá sen cái còn xanh, cái héo ngả màu nâu, cái đã rạc chỉ còn lại gọng xương, cái lập lờ trên nước, cái ủ rũ cúi mình soi gương tiếc một thời nhan sắc đã qua. Ai bảo cảnh sen tàn không đẹp? Có một chút gì đìu hiu u tịch, một chút gì buồn bã kiêu sa làm lòng bỗng bàng hoàng... Sen đã nỗ lực vươn lên từ đáy nước, chắt chiu tinh túy của đất trời để dâng cho đời sắc hương thanh khiết. Thời vàng son đã qua, còn lại đây những lá sen tàn mang trên mình dấu ấn thời gian, trầm tư trong nỗi buồn mùa thu hiu hắt. Những lá sen tàn còn chút hương xưa, duyên muộn, ủ thơm vạt nắng cuối chiều. Những lá sen tàn còn chưa chịu rã vào lòng đất, cố nán chờ một tiếng mưa thu để vỡ òa bao nuối tiếc...

Có thể coi đây là một đoạn viết rất có văn, có cái để người ta có thể quan sát trực tiếp bằng giác quan. Và quan trọng hơn là có cái khiến người đọc phải nghĩ suy về danh phận của vạn vật (ở đây là cây sen tàn) cũng như cõi người.

Dưới vòm xanh cây lá”, “Hà Nội đêm trở gió”, “Mùa sấu”, “Ngoài đê sông Hồng”, “Ngôi nhà cũ”, “Hà Nội - Những ngày mưa ngập phố”, “Đâu rồi võng đay”... là những bài khá hay. Tôi nghĩ rằng sẽ có nhiều người muốn đọc đi, đọc lại những trang văn này của Chử Thu Hằng. Giữa bộn bề những lo toan của cuộc sống thường nhật, những trang viết của chị trong tập sách này như những gầu nước mát được múc lên ở giếng khơi làng quê xưa ngái giữa trưa hè bỏng rát, khiến người đọc rất dễ cảm nhận được giá trị của những gầu nước ấy. “Người Hà Nội yêu mùa đông. Trời lạnh, để có làn da trắng mịn, để có dịp khoe áo, khoe khăn. Con gái Hà Nội rất biết làm duyên với những chiếc khăn. Lạnh ít, những tấm khăn voan đủ màu bay phấp phới trên xe máy, dọc ngang các ngả đường. Lạnh nhiều, những bộ măng tô, khăn len, mũ len duyên dáng được dịp trình làng. Ai đã đến Hà Nội vào mùa đông, ngắm những khuôn mặt thiếu nữ ửng hồng trong thời trang mùa lạnh, hẳn sẽ thấy mùa đông thật đáng yêu.

Mùa đông lại còn được hưởng thú ẩm thực. Còn gì thú hơn một sáng mùa đông ngủ dậy, đi dạo vài vòng cho gió lạnh vuốt ve khuôn mặt, chợt nghe trong gió mùi phở bò. Trời lạnh, mùi phở như quyến rũ hơn, đậm đặc hơn, mời gọi hơn thì phải. Ngã vào một quán phở, gọi bát tái gầu, ngon mắt, ngon mũi và ngon miệng làm sao.

Không thích phở, hãy ăn món xôi gà. Gạo nếp cái hoa vàng đồ hai lần mọng bóng, thịt gà ta rắc ít lá chanh thái chỉ, rưới thêm chút xì dầu, ăn dè từng chút một để thưởng thức hết vị thơm ngon, cái tinh tế trong món ăn của người Hà Nội…” (Hà Nội đêm trở gió).

Bất cứ ai là người con đất Việt, dù không được sinh ra và lớn lên ở Hà Nội cũng không thể không yêu và thèm được đắm mình trong Hà Nội với bốn mùa, mỗi mùa có một vẻ đẹp riêng. Nhưng Hà Nội, theo cách nhìn nhận của Chử Thu Hằng thì: “Hà Nội đẹp và dễ chịu nhất vào các tháng 10, 11, 12 dương lịch, khi những trận bão cuối mùa cũng hết, nắng vàng như rót mật và se se con gió heo may ướp thơm hương cốm, hương hoa. Đó cũng là mùa cưới hỏi rộn ràng nhất. Những ngày đẹp, từng đoàn xích lô chở các bà mặc áo dài, mang lễ hỏi trôi dềnh dang trên phố như khoe; những xe hoa đón dâu trang trí điệu đà chạm nhau ở mỗi ngã tư, chạm những ánh nhìn khát khao, náo nức” (Có phải em là mùa thu Hà Nội).

Một tình yêu Hà Nội nhóm lên từ “Hồn phố” (1) - ảnh 1

Mùa hạ ở Hà Nội vốn nóng nực, bức bối, nhưng qua trang văn của chị vẫn lộng lẫy sắc màu: “Đến Hà Nội mùa hè, sẽ thấy thành phố vô cùng lãng mạn, những hồ nước long lanh soi bóng mây trời, những con đường rực rỡ màu nắng màu hoa: phượng đỏ, bằng lăng tím, điệp vàng… và dàn nhạc ve bất tận ngân trong vòm lá biếc. Đêm về, khi lang thang dạo phố dưới vòm trời xanh nhung, bất chợt ta bắt gặp ở đâu đó mùi hương hoa ngọc lan, hoa sen hay hoa đại… như tự ngàn xưa theo gió thoảng về.  (Dưới vòm cây xanh lá).

Qua những trang tản văn của mình, Chử Thu Hằng đã góp một phần nhỏ bé làm sống dậy Hà Nội của một thời, và còn góp phần lưu giữ Hà Nội sống mãi với muôn sau. Hà Nội một thời trong tản văn của chị là như thế này đây: “Ngày xưa, cả phố chung nhau một cái máy nước. Quanh máy nước, cũng như quanh cái giếng làng, mọi sinh hoạt đời thường và cái gọi là “văn hóa phố” diễn ra bình dị và ấm cúng. Quanh máy nước, người ta rửa rau, vo gạo, giặt quần áo, tán tỉnh trêu đùa nhau. Trong cái rét căm căm tháng Chạp, bọn con gái mang lá dong ra rửa để chuẩn bị gói bánh chưng, bàn tay nhỏ dầm nước lâu, đỏ tấy lên vì lạnh. Nhưng không lạnh, không mưa, lại chẳng thấy không khí Tết. Ngày đó không có tủ lạnh, chỉ mong cho Tết thật rét, để giò xào đông cứng lại, và thức ăn trong mấy ngày Tết không bị hỏng”.  (Lay phay mưa bụi).

Hồn phố của Hà Nội không chỉ lãng đãng trong những khu phố cổ, đường Cổ Ngư, hồ Dâm Đàm, hồ Lục Thủy, những hàng cây cổ thụ, cửa hàng cửa hiệu sầm uất, mùa thu vàng và mùa đông giá buốt, mà còn được giữ gìn trong những làng quê nghèo quần cư hai bên bờ sông Nhuệ và sông Đáy với những làng nghề truyền thống rất nổi tiếng. Và đây là cảnh của làng nghề làm võng đay xưa bên bờ sông Đáy: “Hồi đó chưa có điện. Xong bữa cơm chiều ở ngoài sân, thắp đèn dầu lên, cả nhà ngồi vào làm võng. Cái đèn dầu hỏa nhỏ bé, thô sơ mà có cái tên đến khiếp: Đèn Hoa Kỳ! Các cô gái hay hẹn nhau mang võng của mình đến một nhà, móc chung vào cột, vừa làm, vừa chuyện râm ran tới khuya. Những ngón tay mềm như múa, những cái bóng rung rinh trên vách trong ánh sáng mờ mờ của đèn dầu. Con gái quê tôi ngón tay chẳng nuột nà vì phải đập đay, se đay. Dùng ngón trỏ và ngón cái se riêng hai nhúm đay theo chiều kim đồng hồ, rồi bện hai nhúm đó với nhau ngược chiều kim đồng hồ, mới được một li của sợi võng. Mấy sợi võng dài độ ngón tay lại tết thành một hoa thị. Cứ thế, một chiếc võng đay, với hàng trăm ô mắt cáo đều tăm tắp, sợi võng mịn màng, không nhìn thấy mối nối nào đã được kết nên bởi những bàn tay khéo léo, nhẫn nại, chịu thương chịu khó của người quê tôi...  (Đâu rồi võng đay…).

Hà Nội và những làng quê Việt Nam với những con người cần cù lao động, từ anh công chức nghèo nhưng mẫn cán, đến chị bán cháo vỉa hè, cô y tá, anh đạp xích lô, những cô gái dệt võng đay... các nam thanh nữ tú Hà Thành dưới ngòi bút Chử Thu Hằng hiện lên thật đáng yêu và sống động biết nhường nào. Một lễ hội cổ truyền còn lưu lại trong “Dấu xưa”, không khí đón Tết rộn ràng trong một gia đình gốc Hà Nội trong “Ngày xưa, nhà tôi đón Tết”… Tôi nghĩ rằng để có thể viết được những trang tản văn như vậy, chắc chắn Chử Thu Hằng đã yêu Hà Nội lắm. Hà Nội gắn bó với chị như một phần máu thịt của cơ thể, không thể nào tách rời được, và chị đã truyền tình yêu của mình cho lớp trẻ hôm nay, qua những trang văn này.

Nếu trau chuốt thêm một đôi chỗ thì đây có thể là một tập tản văn khá hay về Hà Nội nói riêng, về đất nước và con người Việt Nam nói chung. Có thể nói trời đã phú cho Chử Thu Hằng một tư chất để viết tản văn và tôi tin chị có thể đi xa hơn nữa trong mảng “văn chương sạch” này. Chúc mừng thành công của chị./.

Đỗ Ngọc Yên

...............

(1) Hồn phố- Tản văn của Chử Thu Hằng, Nxb Hội Nhà văn, H, 2011

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác