Một nhà văn Hà Nội khiêm cung - trung hậu (*)

(Toquoc)- “Đọc suốt nhiều tác phẩm của anh Đỗ Quang Tiến, một giọng văn đằm thắm, tinh tế và sâu sắc, không giật gân, không cuồn cuộn như một dòng sông, một dòng có quanh có khúc, nhưng êm đềm và trôi xa vào lòng người” (nhà văn Nguyễn Quang Sáng).

Một nhà văn Hà Nội khiêm cung - trung hậu (*) - ảnh 1Kỷ niệm 20 năm ngày mất, mấy người con đã trưởng thành, hoạt động trong giới khoa học xã hội - văn hóa, báo chí mới tập họp lại một phần những tác phẩm của ông trong tập sách gần nghìn trang (khổ 18x24) do NXB Hội Nhà văn in trong hệ thống sách nhà nước đặt hàng: TUYỂN TẬP ĐỖ QUANG TIẾN. Đó là một nghĩa cử cần thiết, bởi tác giả là Hội viên sáng lập Hội từ năm 1957, hơn thế, là cán bộ thuộc các cơ quan của Hội, khi biên tập viên của báo, biên tập viên Nhà xuất bản, khi tham gia quản lý và giảng dạy các lớp đào tạo và bồi dưỡng những người viết trẻ của Hội cho đến ngày về hưu.

Đọc qua tác phẩm được xuất bản: Biến đổi ở thôn Đèo Hoa (1955), Nhất tội nhì nợ (1956), Hai suất sưu (1956), Hai bố con (1958), Lưỡi dao tiện (1959), Làng tề (1961), Đàn trâu (1962), Ánh lửa (1967), Trong rừng (1969), Vùng cao (1971), Vòm trời biên giới (1972), Quê cũ quê mới (1974)… những tác phẩm thể hiện chân thực và sâu sắc cuộc sống của những người nông dân các dân tộc thiểu số vùng cao Việt Bắc, vùng đồng bằng Bắc Bộ trước cách mạng, trong kháng chiến chống Pháp, và sau ngày giải phóng, ít ai nghĩ rằng, tác giả là một nhà văn gốc Hà Nội! Chính cách mạng và kháng chiến đã cuốn chàng thanh niên Hà Nội, con nhà khá giả, học vấn cao, sống tự lập, đã từng bôn ba Sài Gòn lập nghiệp, ôm mộng viết văn (Tiểu thuyết Chiều ba mươi Tết in ở Sài Gòn 1943), đã từ bỏ tất cả để làm một viên chức kháng chiến trong ngành Tư pháp suốt hơn chục năm. Nhưng cũng chính sự từng trải, lăn lộn, gần gũi người dân những năm cực kỳ gian khổ mà tràn đầy lý tưởng này đã là vốn sống để khi hòa bình lập lại sau 1954, thúc giục ông cầm bút trở lại. Những kiếp sống cơ cực, những người dân vùng cao được cách mạng giác ngộ, đã tìm thấy con đường để thoát kiếp lầm than, nhưng đó là một con đường không dễ dàng.

Mấy năm gần đây, văn học nước ta có đến mươi cuốn tiểu thuyết viết về thời gian lịch sử dài ở những vùng quê nước nhà từ trước cách mạng, qua 2 cuộc kháng chiến đến thời điểm hiện tại. Một thời điểm được đặc biệt thể hiện là Cải cách ruộng đất. Những sai lầm trong Cải cách ruộng đất đã được Đảng và Chính phủ công khai thừa nhận và có biện pháp sửa sai. Nhưng hình như thể hiện cho chân thực, thấu lý về giai đoạn lịch sử này vẫn là một thách thức với văn học, đòi hỏi bản lĩnh và tâm huyết của nhà văn. Có tác phẩm tái hiện bức tranh xã hội trước cách mạng, ở các vùng quê, thời gian có vẻ chưa xa, mà quá khứ bị thi vị hóa hơi nhiều. Những sai lầm về biện pháp thực hiện trong phát động quần chúng, cải cách ruộng đất, không làm sai lạc bản chất, mục đích cách mạng: Đưa ruộng đất về cho nông dân. Hàng ngàn năm dưới chế độ phong kiến, lại ở một nước thuộc địa, cái khốn cùng của người nghèo không chỉ là đói rét, dù đói rét triền miên là một nỗi khổ ghê gớm, mà còn bị chà đạp, dày xéo, đầy đọa, sỉ nhục, hành hạ về thể chất và tinh thần. Vì thế, toàn dân đã theo tiếng gọi của Đảng làm cách mạng, với lý tưởng sáng ngời: xây dựng một xã hội không còn giai cấp, không còn bóc lột, một xã hội công bằng, bình đẳng, no ấm, hạnh phúc. Hứa hẹn mang lại một đời sống hạnh phúc nơi trần thế cho toàn dân sau khi đánh đuổi bọn xâm lược và giai cấp bóc lột, cái lý tưởng từng hấp dẫn triệu triệu người xông lên chiến đấu, không sợ hy sinh ấy, gần nửa thập kỷ độc lập, tự chủ, mà xem ra vẫn xa vời.

Đọc lại Đỗ Quang Tiến viết về đời sống lầm than của đồng bào dân tộc, của người nông dân đồng bằng Bắc Bộ một thuở, để thấy hạnh phúc của đời sống hiện đại. Nhưng cũng và càng đau lòng hơn là vẫn còn một bộ phận không nhỏ những con người nhỏ bé đó, những công nhân, nông dân chân chất và thật thà đi theo cách mạng, vẫn chưa thoát cảnh nghèo khổ, vì thất nghiệp, có việc thì lương thấp; nông dân, đặc biệt là miền núi thì mất đất, mất mồ mả cha ông, phải xa nơi an cư ngàn đời vì các qui hoạch tùy tiện nhân danh công nghiệp hóa. Họ thiếu những điều kiện, cơ sở tối thiểu để kiếm sống một cách lương thiện.

Thế mà, văn chương hiện tại, đang có vẻ lảng tránh hay lãng quên những vùng đất, những con người bình thường đã đóng góp lớn lao cho cách mạng này.

Vì thế, đọc lại Đỗ Quang Tiến, thức tỉnh trong chúng ta ý thức về một nền văn học có ích, Bùi Hiển, một nhà văn viết về nông thôn với chủ nghĩa hiện thực nghiêm nhặt, từng nhận xét về tác phẩm Đỗ Quang Tiến: … Tấm lòng người dân, đặc biệt người dân thôn dã, đối với cách mạng, đối với sự tồn vong của đất nước. Ngày nay đọc lại, có thể tìm thấy trong đó một lời chứng khiêm nhường và trung thực, không tô vẽ mầu mè, về một gương mặt đẹp nông thôn trong giai đoạn hào hùng của lịch sử vẫn còn xiết bao gần gũi.

Một nhà văn Hà Nội khiêm cung - trung hậu (*) - ảnh 2
Bìa sách
Nghĩ đến tình cảnh cả nước còn đến 14 triệu người nghèo và cận nghèo, sự bất bình đẳng đang phát triển, sự phân hóa trong xã hội, khoảng cách giầu nghèo ngày càng rộng, đều nhắc những người có lương tri và trách nhiệm phải làm sao để tránh xa con đường bội ước với nhân dân mà nhiều triều đại xa xưa, nhiều cuộc cách mạng đã mắc phải!

Bút pháp, cách nhìn, điểm nhìn, cách thể hiện đời sống trong tác phẩm mỗi thời mỗi khác. Quen với cao lương mỹ vị trong ẩm thực hôm nay, gạo thừa xuất khẩu mấy triệu tấm, vẫn không nên quên trong chiến tranh, và cả mười năm sau đó, lương thực của quân dân ta còn có sắn, bo bo, bột mì, ngô hạt… Thế mà - nhờ thế mà - toàn dân khổ nhưng không đói! Và những thứ lương thực ít chất dinh dưỡng lại khó nuốt ấy đã nuôi sống chúng ta. Cũng vậy, văn chương phản ảnh hiện thực có thể còn sống sít, nghèo nàn, đơn giản theo cái nhìn hôm nay, đã từng làm tròn sứ mạng của nó là lương thực tinh thần cho cả dân tộc sống ngẩng cao đầu và chiến thắng.

Không thiêng liêng hóa quá mức nghề văn, nhà văn cũng như tác phẩm của mình, nhưng ông là người nghiêm cẩn và khiêm nhường. Tài năng là chuyện vô cùng. Bằng những trang viết của mình, ông đã lưu giữ được không khí lịch sử xã hội, phong cảnh thiên nhiên đất nước, tính cách, tâm tính, ước vọng những con người của một giai đoạn lịch sử biến động từ nô lệ, tù đày, dày xéo, truy đuổi vùng lên tự giải phóng và tổ chức cuộc sống mới! Hạnh phúc là thứ đã nằm trong tầm nhìn.

Đi từ một một nền văn chương chia ngọt xẻ bùi với nhân quần đông đảo trong hành trình tìm kiếm cuộc sống ấm no, tự do, con cái được học hành, đi tới bất cứ nơi đâu Tổ quốc cần, thời gian gần đây, không ít bạn trẻ, mà không chỉ bạn viết trẻ, mải chạy theo cảm hứng riêng và tự thể hiện mình, với một tâm thể nhẹ dạ, rơi vào cái bẫy của dòng chảy vui vẻ trẻ trung, né tránh hoặc trốn tránh bao nhiêu vấn đề bức xúc của đời sống xã hội, rồi ngơ ngác quay lại tự hỏi, tự bao giờ, bạn đọc đã bỏ rơi văn học, đúng ra là những gì ngỡ là tác phẩm văn học mà không có bao nhiêu phù sa của đời sống!

Trân trọng đọc lại những gì một nhà văn Hà Nội từng gắn bó và thể hiện một thời mới thấy một ý tưởng rõ rệt: Thể hiện những gì là cao đẹp của lớp người bình thường mà ông hằng chứng kiến như một phát hiện. Chỉn chu và chân thành, văn ông đã thể hiện con người ông.

Mấy chục năm cả hai vợ chồng làm việc quẩn quanh ở mấy cơ quan của Hội, ông bà là những viên chức mẫn cán mẫu mực của một thời nghèo khổ mà trong sáng, thanh sạch. Gia đình gốc Hà Nội, cha ông đã từng có vài ba biệt thự lớn ở Thủ đô, nhưng ông bà tham gia kháng chiến, khi trở về, như nhiều viên chức khác, hai ông bà với một đám con đàn, chen chúc trong căn phòng nhỏ gần hồ Thuyền Quang, ở đường Trần Bình Trọng. Vậy mà, trong nhiều năm, đây đã là nơi tá túc, đi về, đùm bọc bao nhiêu văn nghệ sĩ cả nước. Đám con đông đúc đang tuổi ăn tuổi lớn bao lần phải nhịn miệng cho bố mẹ đãi khách văn chương gần xa, khi lớn lên, đi đó đi đây, gặp gỡ bao người, quen cũ của gia đình, mới biết, tình nghệ sĩ, một thời, có sức nặng nghĩa nhân cao quý chừng nào!

Khi làm một người thầy, một nữ sĩ, vốn là học sinh trường viết văn, có cuộc đời riêng không mấy may mắn ghi nhớ: Có thể trên đời này, thời gian đã nhạt nhòa sương khói, đến rêu phong trên đá cũng bị bỏ khô, đến sự tử tế cũng bị khuất lấp trong cõi vô thường, nhưng sự tử tế, dạy dỗ cho nên một con người, một thế hệ, thì người chèo đò như thầy Đỗ Quang Tiến - một nhà văn của thế kỷ XX đầy khiêm nhường và lặng lẽ như ông thì chúng tôi không bao giờ quên. (Nhà thơ Hoàng Việt Hằng)

Nhà văn Ngô Thảo

------------

(*) Đọc tuyển tập Đỗ Quang Tiến

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác