Một bài "sơ kết" Thơ mới ngay thời đầu phong trào

(Toquoc)- Ta biết, theo các kết quả nghiên cứu tính tới nay, có thể xác nhận rằng phong trào Thơ mới tiếng Việt ở thế kỷ XX được khởi xướng từ mùa xuân 1932, trở thành phong trào từ đầu năm 1933, giành được ưu thế vào năm 1936. Cùng với phong trào sáng tác, các hoạt động trứ thuật về lý thuyết và phê bình xung quanh thơ và thơ mới cũng diễn ra rất sôi động, cả trên mặt các báo và chí lẫn trên các diễn đàn hội họp ở khắp ba miền.

Bài mà tôi tạm coi là “sơ kết” phong trào thơ mới, sẽ giới thiệu lại toàn văn dưới đây, là thuộc về 2 tác giả Nguyễn Xuân Huy và T. K. (dự đoán là Lê Tràng Kiều) đăng ở tuần báo Tân Thiếu niên, số 3, ngày 16/2/1935.

Hồi năm 1992 và các năm tiếp sau đó, nhân kỷ niệm 60 năm phong trào thơ mới, bên cạnh các sưu tập sáng tác thơ mới thời 1932-45 được sưu tầm, kiểm định và đưa in vào các sưu tập, thì các bài vở từng tham gia thảo luận, tranh luận về thơ hồi những năm 1932-45 cũng được nghiên cứu, sưu tập. Tuy vậy, tình trạng thiếu thốn về tài liệu luôn luôn ảnh hưởng đến các kết quả nghiên cứu, nhận định cũng như đến diện mạo các sưu tập tiểu luận phê bình. Cũng vì vậy, về mặt này, những tài liệu phát hiện được từ di sản sách báo cũ luôn luôn đem lại những tin tức tốt lành cho làng văn, làng nghiên cứu phê bình.

Bài báo dưới đây, cũng như tờ Tân Thiếu niên, là thuộc số những tài liệu còn chưa được biết đến trong những nghiên cứu sưu tầm từ 1990 đến nay xung quanh đề tài dư luận về thơ mới.

Tân Thiếu niên (còn có tên tiếng Pháp là La Jeunese nouvelle) ban đầu là nhật báo ra vào các ngày thứ năm và chủ nhật, tòa soạn ở 25 Lê Quý Đôn, Hà Nội; Giám đốc Trần Tấn Thọ, Quản lý Ngô Thanh; ra số 1 ngày 21/02/1932; ngừng lại ở số 51 ngày 25/8/1932 [theo Huỳnh Văn Tòng: “Báo chí Việt Nam từ khởi thủy đến 1945” Tp.HCM., 2000; và Nguyễn Thành: “Từ điển thư tịch báo chí Việt Nam”, Hà Nội, 2000].

Có lẽ giấy phép của tờ báo này đã được Lê Tràng Kiều mua lại để ra một bộ mới. Tân Thiếu niên của chủ bút Lê Tràng Kiều đặt tại số 8 đường Richaud (nay là Quán Sứ) Hà Nội, số 1 ra ngày 26/01/1935. Tuy ước mong “sống lâu” nhưng báo chỉ ra được đến số 3, ngày 16/02/1935, có lẽ vì chủ báo bị cạn vốn hoặc gặp một khó khăn gì đó không vượt qua được, chứ không phải do bị cấm, là vì ngay thời gian trước đó, vào cuối năm 1934, viên Toàn quyền Đông Dương Robin đã ký “nghị định bãi các sở kiểm duyệt các báo chí viết bằng những thứ chữ khác với chữ Pháp”, - như chính Tân Thiếu niên số 1 đã đưa tin.

Tân Thiếu niên của Lê Tràng Kiều thuộc loại tuần báo văn chương nghệ thuật, - kiểu báo khá thịnh hành và đạt nhiều thành tựu trong đời sống báo chí văn nghệ ở Việt Nam suốt thế kỷ XX. Chính Lê Tràng Kiều, sau Tân Thiếu niên, sẽ thu được kết quả tốt hơn hẳn khi được chủ nhà in Lê Cường mời làm chủ bút Hà Nội Báo.

Mỗi số Tân Thiếu niên gồm từ 12 đến 16 trang khổ 30 x 40 cm, ngoài một số bài mục thời sự, tóm tin các báo v.v… còn lại, số trang chủ yếu giành đăng tác phẩm thơ văn, phê bình, tiểu luận.

Tân Thiếu niên quan tâm đến thơ mới ngay từ số đầu: bên cạnh chùm thơ mới của các tác giả Đông Hồ (Nhớ Mai), Cung Vấn (Nhớ chuyện xưa), Đỗ Huy Nhiệm (Ngày mai), Huy Thông (Hận chiến sĩ)… là các bài tiểu luận: 1934, năm của nhà thi sĩ (T. K.), Nghề phê bình (Nguyễn Xuân Huy); tất nhiên phần chiếm dung lượng lớn nhất là các truyện, ký: Đời trong ngục (hồi ký, Nhượng Tống), Động Phong Nha (tiểu thuyết, Lưu Trọng Lư), Chung đụng với bọn phu tầu chạy biển bến Sài Gòn (phóng sự, Lê Trung Nghĩa), Thi sĩ (truyện ngắn, Lưu Trọng Lư),…

Ở số 2, về thơ: Khúc xuân tiêu (Đỗ Huy Nhiệm), Trên bãi biển (Đông Hồ), Gió lạnh (Vân Đài); Tiểu luận: 1934, năm của nhà thi sĩ, II (T. K.), Văn học bình dân (Lưu Trọng Lư); Phê bình: Đọc “Yêu đương”, tập thơ Huy Thông, “Cô gái xuân”, tập thơ Đông Hồ (Nguyễn Xuân Huy), Đọc “Lãng mạn”, tập thơ Nguyễn Tử Kính (Cụ Án Cao); Văn xuôi: Động Phong Nha (tiếp), Đời sống anh em chân sào vùng sông nước (phóng sự Lê Trung Nghĩa), Đời trong ngục (tiếp)...

Ở số 3, về thơ: Con voi già (Huy Thông); Phê bình: Đọc thơ Huy Thông (Lưu Trọng Lư), Đọc kịch “Không một tiếng vang” (Án Cao); Tiểu luận: Một trào lưu mới trong thơ ca: Thơ mới (Nguyễn Xuân Huy, T. K.); Văn xuôi: Đời cạo giấy (phóng sự, Vũ Trọng Phụng), Hoa đào năm ngoái (truyện ngắn, Vũ Lang), Động Phong Nha (tiếp), Đời trong ngục (tiếp)…

Bài tiểu luận của Nguyễn Xuân Huy và T. K. phác họa lại giai đoạn khởi đầu phong trào thơ mới, nhìn từ miền Bắc. Bài báo xuất hiện đầu năm 1935 này xác nhận việc Phan Khôi đem lối thơ mới “trình chánh giữa làng thơ” trước tiên là trên Tập văn mùa xuân của báo Đông tây ở Hà Nội. Tập văn mùa xuân là một ấn phẩm Tết của một tờ nhật báo, đương nhiên phải được phát hành trước Tết Nhâm Thân (mồng một Tết âm lịch ứng với ngày dương lịch 06/02/1932). Do vậy công chúng ngoài Bắc đã được đọc bài báo Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ của Phan Khôi sớm hơn, và người lên tiếng “góp ý kiến” với Phan Khôi cũng đăng bài phản hồi sớm hơn (Thượng Minh: Đôi lời về lối thơ mới của Phan Khôi // Đông tây, Hà Nội, s. 147 (17 /02/ 1932), thậm chí sớm hơn thời điểm bài báo của Phan Khôi được đăng tại Sài Gòn, trên tuần báo Phụ nữ tân văn (s. 122, ngày 10/ 03/ 1932); ở lần đăng thứ hai này, bài của Phan Khôi còn bị kiểm duyệt cắt bỏ những đoạn nhắc đến bài thơ Dân quạ đình công.

Sở dĩ cần xác định chính xác thời điểm xuất hiện bài báo Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ của Phan Khôi, là vì có một nhận định nổi tiếng mang tính chất “cắm mốc” văn học sử của Hoài Thanh, Hoài Chân trong bài khảo luận Một thời đại trong thi ca in ở phần đầu sách Thi nhân Việt Nam 1932-1941 như sau:

“Nhưng một ngày kia cuộc cách mệnh về thi ca đã nhóm dậy. Ngày ấy là ngày 10 Mars 1932”, và thời điểm này được tác giả ghi chú: “Tức là ngày xuất bản tờ Phụ nữ tân văn số 122 trong ấy có bài Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ.” (Hoài Thanh, Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam 1932-1941, bản tái bản, Nxb. Văn học, 1988, tr. 22).

Với tư liệu hiện có về thời điểm ra mắt bài báo của tác giả Tình già, nếu vẫn tôn trọng cái mốc văn học sử mà Hoài Thanh, Hoài Chân muốn đánh dấu sự nhóm dậy “cuộc cách mệnh về thi ca”, thì cần di chuyển cái mốc ấy về trước Tết Nhâm Thân 1932.

Ngoài ý nghĩa nêu trên, bài của hai tác giả Nguyễn Xuân Huy và T. K. còn cho thấy những nỗ lực khám phá đặc điểm của nền thơ mới đang hình thành. Nêu ra các điểm khác biệt và các điểm tương đồng giữa những bài thơ mới đã có tính đến lúc đó so với thơ cũ, hai tác giả đã tinh tường nhận ra sự tương đồng của thơ mới với các thể cũ như cổ phong, từ khúc chỉ là tương đồng bề ngoài. Vấn đề là thơ mới có thể dùng một trong các thể thơ cũ đã biết nhưng cũng có thể không dùng bất cứ thể thơ nào đã có. “Người làm thơ mới có thể chẳng làm theo điệu thơ cố hữu nào hay làm theo bất cứ điệu thơ nào cũng được. Cái mới của thơ mới so với thơ truyền thống là mới cả về văn thể lẫn ý tưởng.

Tất nhiên, với thực tiễn sáng tác thơ mới tính đến đầu năm 1935, thật khó để có thể nêu lên thật phong phú tất cả sự mới mẻ của một nền thơ đang hình thành, bài viết ngắn của Nguyễn Xuân Huy và T. K. đăng báo Tân Thiếu Niên đầu năm 1935 cho thấy sự ghi nhận, phân tích của hai nhà phê bình về những động thái đang tiến triển ngay bên trong trào lưu thơ mới, ở những năm đầu. Trong phong trào đổi mới thơ ca này, các nhà phê bình đã luôn luôn là bạn đồng hành trên con đường sáng tạo của các nhà thơ. Ta cũng không quên Nguyễn Xuân Huy còn là một nhà thơ mới có thơ được Hoài Thanh, Hoài Chân tuyển trong Thi nhân Việt Nam 1932-1941.

Xin trân trọng giới thiệu lại cùng bạn đọc.

Lại Nguyên Ân sưu tầm và giới thiệu

 

MỘT TRÀO LƯU MỚI TRONG THI CA: THƠ MỚI

Nguyễn Xuân Huy và T. K.[3]

 

Lược sử thơ mới

Năm 1932, trong Tập văn mùa xuân của báo Đông tây, ông Phan Khôi có đem “trình chính trong làng thơ” một lối thơ phỏng theo lối “thơ tự do” của văn học Pháp, không hạn chữ không hạn câu, mệnh danh là “thơ mới”. Ông Phan đưa ra một bài làm mẫu, bài Tình già:

Hai mươi bốn năm xưa,

Một đêm vừa gió lại vừa mưa,

Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ,

Hai cái đầu xanh kề nhau than thở ...

......................................................

Rồi cũng trong năm ấy, một độc giả của báo Đông tây bấy giờ, ký tên Thượng Minh, có viết một bài bàn với ông Phan nên hạn chữ trong những câu thơ mới. Thí dụ như trong bài Tình già thì nên thêm bớt cho mỗi câu chỉ vừa sáu chữ:

Đã hai mươi bốn năm xưa,

Một đêm vừa gió vừa mưa,

Dưới ngọn đèn, trong nhà nhỏ,

Hai cái đầu xanh than thở...

Ông Phan phản đối bài ấy, lấy lẽ rằng hạn chữ như thế thì sẽ hóa ra thơ cổ phong mất, mà ý ông muốn tạo ra một lối thơ thực hoàn toàn tự do chứ không có tâm lập lại lối thơ cổ phong.

Ông Thượng Minh không thấy nói lại. Thế là bẵng đi ngót một năm trời không ai đả động gì đến thơ mới nữa. Cả người xướng xuất ra nó là ông Phan cũng không thấy làm thêm được bài nào hay viết một chữ nào cổ động cho nó cả. Người ta đã tưởng rằng cái tình dan díu của Nàng Thơ Mới với thi nhân chỉ có thế mà thôi, ngắn ngủi chóng tan như bọt bể chiều hôm, sương mù buổi sớm. Thì trong một số ra về dịp Tết nguyên đán (Janvier 1933) báo Phong hóa lại có một bài nhắc đến, tán dương và cổ vũ cho. Được thấy đời trong một “tập văn mùa xuân”, đến khi hấp hối lại được người cải tử hoàn sinh cho trong một số báo tết, lối thơ mới thực có duyên với ngày xuân, với năm mới.

Thế là, trong số Phong hóa 31 ra ngày 14 Janvier 1933, cô Liên Hương có gửi một “bức thư ngỏ” cho ông Phan Khôi đại ý trách ông sao đã xướng xuất ra mà bấy lâu lại thờ ơ lãnh đạm với thơ mới, và khuyên ông “nên mạnh dạn một lần nữa mà tiến lên đường”. Phụ theo lá thư ấy lại có cả bài Tình già và nhiều bài nữa của Lưu Trọng Lư, Tân Việt, Thanh Tâm, có lẽ là những bài thơ mới thứ nhất, sau bài mẫu Tình già của ông Phan. Thế là trong ngày xuân xán lạn tươi cười năm 1933, thơ mới lại nối lại với thi nhân mối giây tình đứt đoạn đã hai năm! Mà lần tái hợp này tình duyên mới mặn mà đằm thắm biết bao!

Từ đó số nào của báo Phong hóa cũng có đăng một vài bài thơ mới của Thế Lữ, Huy Thông, Nguyễn Văn Kiện... Người ta có thể đếm được chừng mấy chục.

Đồng thời, trong Nam, tuần báo Phụ nữ tân văn cũng sốt sắng cổ động và hoan nghênh những thơ mới của các thi gia Nguyễn Thị Kiêm, Hồ Văn Hảo, Thiết Mai... Cô Kiêm, nữ trợ bút của Phụ nữ tân văn, lại lấy thơ mới làm đầu đề một buổi diễn thuyết.

Ấy là không kể tuần báo Phụ nữ thời đàm ông Phan Khôi hồi đó đứng chủ trương đăng nhiều bài tuyệt tác, mấy tờ báo hằng ngày thỉnh thoảng cũng có đăng thơ mới. Hiện nay thì Thơ Mới đã thành ra một vấn đề.

Đặc sắc của thơ mới

Khi ông Phan Khôi đề xướng ra lối thơ mới thì có lẽ ông chỉ nghĩ đến làm một lối thơ khác với các lối có từ trước tới nay, về hình thức mà thôi. Ông Phan vốn ưa thích khác người. Làm thơ, ông cũng muốn làm một lối khác.

Nhưng đến đầu năm 1933, khi người ta nhắc lại lối thơ mới đã hầu chìm trong sự quên, thì người ta còn muốn nó mới về tinh thần nữa. Mà lại chú trọng tinh thần hơn. Hình thức chỉ là cái khung để treo tranh tinh thần của bài thơ. Vì người ta đã thay tranh thì người ta cũng phải thay cái khung cho được xứng đáng với bức tranh luôn thể.

“Mới về văn thể, mới về ý tưởng”, đó là hai cái đặc sắc của lối thơ mới.

A/ Về văn thể:

a/ Thơ mới không cần niêm luật bằng trắc

b/ Thơ mới không hạn chữ hạn câu

c/ Thơ mới không bắt câu nọ phải đối với câu kia

d/ Thơ mới không dùng điển tích, sáo ngữ

Có người cho rằng nếu hình thức của thơ mới thì không có gì là mới cả. Nó hệt như thơ cổ phong và từ khúc. Những cứ kể ra thì từ khúc và thơ cổ phong giống thơ mới mà thơ mới không giống từ khúc và thơ cổ phong. Người làm thơ mới không chỉ làm từ khúc và thơ cổ phong. Người làm thơ mới có thể chẳng làm theo điệu thơ cố hữu nào hay làm theo bất cứ điệu thơ nào cũng được. Nhưng dầu sao ta cũng nhận thấy một cái đặc sắc trong cách phô diễn ý tưởng, nghĩa là trong lời thơ.

B/ Về ý tưởng:

Trong các bài thơ mới đã đăng, ta nhận xét thấy:

a/ Những ý tưởng mà trong thơ cũ chưa từng thấy diễn đạt ra được (Sống, Huy Thông; Thi nhân và cuộc đời, Hồ Văn Hảo) (1)

b/ Những ý tưởng cũ diễn đạt một cách rất mới (Hồ xuân và thiếu nữ, Thế Lữ; Tại lá vàng, Nguyễn Văn Kiện) (1)

c/ Những quang cảnh tả một cách linh động, tỉ mỉ chưa hề thấy trong thơ cũ (Tràng thu, Khuê Nh...; [2] Đoàn lực sĩ, Nhất Chi Mai) (1)

Những vẻ đặc sắc này đã họp thành như cái “hồn” của thơ mới.

Phái phản đối thơ mới

Bất cứ một công cuộc, một vấn đề gì, khi xướng xuất ra hầu hết bao giờ cũng có một phái phản đối một phái tán thành: Thơ mới cũng không tránh khỏi thông lệ ấy. Trào lưu thơ mới đã gây nên một không khí rất náo nhiệt trong thi giới và văn giới.

Không kể những người theo mới một cách rụt rè đã xướng ra cái thuyết diễn đạt tư tưởng mới bằng lối thơ cũ, những tín đồ rất mực của thơ luật cũng nhiều. Người ta phản đối thơ mới bằng những cớ:

1/ Thơ luật vẫn dùng để diễn tả được tính tình, vẫn tạo nên được những chân thi sĩ, vẫn viết theo đúng Đường thi, mà những vần lãng mạn của Xuân Hương, những vần réo rắt của Chu Mạnh Trinh, những vần mai mỉa của Trần Kế Xương luống chẳng đã đưa được tâm hồn ta lên mấy từng trăng cao mây bạc: niêm luật có hại gì đến tinh thần thơ đâu? Những thơ ấy vẫn là những thơ bất tử thì còn phải đổi mới gì trong thi ca nữa?

2/ Niêm luật làm cho thơ có giá trị. Một người ký tên là Nhật Thiên viết bênh vực niêm luật trong báo Đông Pháp: ...dùng lối thơ Đường luật tuy khó thì không thể lông bông như thơ mới được, nhưng chính vì khó... nó làm cái biệt tài của nhà thơ... Nghĩa là niêm luật làm cho ai có biệt tài mới làm được thơ, và thơ, như thế, sẽ là một món có gì đó quý hóa, hiếm có”. Nhật Thiên cũng viết: “chứ ai cũng có thể … tạo ra được, chẳng hóa thơ như mớ rau mớ dưa ngoài chợ?”

3/ Bảo rằng cải cách tinh thần của thơ cũng lại vô lý. Thơ là sự biểu diễn của tâm hồn, mà “cõi lòng thì bao giờ cũng làm bằng một thứ thơ thôi”. Ai đổi được tâm hồn người mà hòng đổi được tinh thần thơ?

Phái tán thành thơ mới

Trên đó là những lẽ chứng viện bởi phái cừu địch lối thơ mới để đánh đổ nó. Nhưng phái hướng ứng cái trào lưu trong thi ca này cũng có những lý sự không phải non nớt:

1/ Vẫn biết là người xưa cứ làm thơ theo niêm luật mà cũng diễn tả được hết tâm hồn, song những nhà thơ xưa tâm hồn quen thuộc với niêm luật thơ lắm: từ thuở còn nhỏ, mới vỡ lòng, đã được học thuộc hàng trăm bài Đường thi. Trái lại, một nhà thi sĩ ngày nay, một khi cái tâm linh tha thiết như chan chứa dào dạt, chẳng lẽ lại còn đi học luật thơ rồi mới biểu diễn ra sao?

2/ Vả lại cái tâm hồn nhà thơ ngày nay cũng khác của người xưa, chớ không phải bao giờ cũng thế. “Cái tâm hồn là phản ảnh của ngoại giới. Ngoại giới tức là cái khách (l’ objet) của nhà triết học, tức là cái thực tế. Ngoại giới ngày nay khác với cái thực trạng ngày xưa, ngày nay có vô tuyến điện, ô-tô, máy in sách và báo, có cuộc khủng hoảng kinh tế, vân vân, thì tâm hồn của loài người “tức là phản ảnh của thực trạng xã hội cũng khác” (Phụ nữ tân văn).

(Nguồn: Tân Thiếu niên, Hà Nội, s. 3 (16 Février 1933), tr. 10, 11.)

 

--------------------------------------

[1] Những bài thơ kể đây, độc giả có thể tìm trong Phụ nữ tân văn, Phong hóa, Phụ nữ thời đàm (nguyên chú).

[2] Khuê Nh... : tên riêng này bị thiếu mất phần sau vì chỗ rách ở sưu tập báo cũ ; đành ghi tắt theo 2 chữ còn lại. - N.S.T.

[3] Nguyễn Xuân Huy (1915-2000) quê huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, 1932 đỗ bằng Thành chung, ra Hà Nội dạy học, viết văn viết báo; tác giả các tập truyện dài: Nắng đào (1939), Chiều (1940), Duyên Bích Câu (1943), Một cuộc phiêu lưu (1944), Người tráng sĩ áo lam (1952); tập truyện ngắn: Thềm nhà cũ (1941), Nhịp cầu quân dân (1948); truyện cho thiếu nhi: Ma xó (1943), Sám hối (1943), Sư tử đá (1943), Con gái ma vương (1943), Liều thân cứu chị (1943), Giời thua nhân đức (1943); tập tiểu luận Viết và sống: Tìm nghĩa làm văn (1944); sách dịch: Nghệ thuật làm việc (1942), Jean-Christof (1977, 1981, dịch chung); tập thơ Hương xuân (1941),…

* Lê Tràng Kiều (1913-77), họ tên thật Lê Tài Phúng, sinh tại quê Nam Định, từ nhỏ theo gia đình lên sống tại Hà Nội; làm báo, viết văn; 1933 viết cho Văn học tạp chí, 1935 làm chủ nhiệm báo Tân Thiếu Niên, 1936-37 chủ bút Hà Nội Báo, 1937-38 chủ bút Tiểu thuyết thứ Năm; 1940 vào Sài Gòn, làm báo Lá lúa; từ 1947-75 tại Sài Gòn làm các báo Dân quyền, Ngày nay, Việt báo, Lẽ sống, Phụ nữ,…; Lê Tràng Kiều chủ yếu viết các thể văn báo chí, từ bình luận xã hội, phê bình văn học, đến các loại văn tiểu phẩm, hài đàm; ông cũng viết một số truyện ngắn, tiểu thuyết, như tiểu thuyết Tôi đã gặp người đàn bà ấy (Nxb. Minh Phương, Hà Nội, 1938); về thơ mới, ông có loạt bài về thơ của các nhà thơ mới, đăng Tân Thiếu Niên, Hà Nội Báo, Tiểu Thuyết Thứ Năm, v.v… - N.S.T.

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác