Mấy suy nghĩ về lý luận phê bình văn học các dân tộc thiểu số

Lâm Tiến (Dân tộc Nùng)

Đã có nhiều bài viết lý luận và phê bình về văn học các dân tộc thiểu số. Nhưng có lẽ chưa có bài viết nào đánh giá về lý luận phê bình mảng văn học này. Chỉ có một số bài viết lẻ tẻ về phê bình, tiểu luận của Nông Quốc Chấn. Điều đó có nhiều nguyên nhân.

Rõ nhất là lý luận phê bình văn học các dân tộc thiểu số còn rất trẻ, nó mới chỉ được bắt đầu vào năm 1957 với bài Kể ít chuyện làm thơ của Nông Quốc Chấn. Năm 1960 có Xuân Diệu giới thiệu về thơ Hoàng Đức Hậu. Trong cuốn Mấy suy nghĩ về nền văn học các dân tộc thiểu số ở Việt Bắc do nhà xuất bản Việt Bắc ấn hành năm 1976 có Hoàng Như Mai viết về thơ Nông Quốc Chấn; Nông Quốc Chấn viết Đọc lại những bài thơ của Bàn Tài Đoàn; Phúc Tước viết Mấy suy nghĩ về truyện ngắn của Nông Viết Toại; Trang Nghị viết Về tác giả Nông Minh Châu; Khái Vinh viết về Truyện ngắn ở Việt Bắc trong những năm gần đây; Vũ Duy viết về Chồi nhỏ và cành xanh.

Năm 1985 trong cuốn 40 năm văn hóa nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam 1945-1985 do Nhà xuất bản Văn hóa ấn hành, có Phong Lê và Đinh Văn Định viết về thành tựu của 40 năm văn học các dân tộc thiểu số.

Như vậy là trước năm 1985, Nông Quốc Chấn là người đầu tiên và viết nhiều bài giới thiệu, phê bình văn học các dân tộc thiểu số như: Kể ít chuyện làm thơ (1957); Hoàng Đức Hậu và thơ tiếng Tày (1961); Quê ta anh biết chăng (1962); Đọc Tung còn và Suốit đàn (1968); Một số hình tượng người dân tộc thiểu số trên sân khấu (1970); Sáu mươi tuổi một tâm hồn (1973); Từ Hoa trong mường đến Trăng mắc võng (1975); Văn học dân tộc thiểu số - Tác phẩm và đội ngũ (1983).

Từ năm 1985 trở lại đây có nhiều nhà văn người Kinh viết giới thiệu phê bình các tác giả, tác phẩm các dân tộc thiểu số như: Tô Hoài, Nguyên Ngọc, Tế Hanh, Trúc Thông, Trinh Đường, Phạm Quang Trung, Vũ Quàn Phương, Trần Lê Văn, Lê Thị Mây, Lưu Khánh Thơ, Phạm Xuân Nguyên, Tôn Phương Lan, Vũ Tuấn Anh, Nguyễn Thị Chính, Phạm Phú Phong, Nguyễn Văn Toại, Phan Diễm Phương, Nguyễn Ngọc Phúc...

Những tác giả viết lý luận phê bình văn học của các dân tộc thiểu số có thể đếm trên đầu ngón tay. Vừa viết nghiên cứu lý luận phê bình vừa sáng tác có Nông Quốc Chấn, Inrasara; Vừa nghiên cứu vừa sáng tác có Triều Ân, Vi Hồng; Vừa sáng tác vừa viết giới thiệu phê bình có Lò Ngân Sủn, Hoàng Quảng Uyên, Mai Liễu, Dương Thuấn; chuyên viết nghiên cứu lý luận, phê bình văn học có Lâm Tiến...

Điều dễ dàng nhận thấy là các tác giả người Kinh là những người có tài năng, có trình độ lý luận cao, giỏi ngoại ngữ và am hiểu nhiều phương trời văn học nên việc phê bình đánh giá văn học các dân tộc thiểu số khách quan, khoa học, đưa ra được những nhận định có sức thuyết phục. Giáo sư Phong Lê đã lý giải những vấn đề cơ bản của sự phát triển văn học các dân tộc thiểu số với những lý luận và kinh nghiệm của văn học nước ngoài như: Đặc trưng dân tộc và cá tính sáng tạo, tính thời đại và bản sắc dân tộc, vấn đề sử dụng ngôn ngữ trong sáng tác... Ông viết: “Mỗi nhà văn phải là bậc thầy về ngôn ngữ dân tộc mình. Nhưng vai trò ngôn ngữ dẫu quan trọng đến đâu, vẫn chưa phải là yếu tố quyết định duy nhất, hàng đầu. Bởi lẽ trên thế giới hôm nay, nếu có ngôn ngữ chỉ được dùng riêng cho một dân tộc..., thì lại có ngôn ngữ được dùng cho nhiều dân tộc, nhiều khu vực như tiếng Anh, tiếp Pháp, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Đức, tiếng Bồ Đào Nha... Nhưng không vì vậy mà văn học của mỗi dân tộc, mỗi nước lại mất đi bản sắc riêng của mình và lẫn vào nhau” (Nhà văn các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại - Nxb Văn hóa dân tộc 1988. tr 220 -221).

Tô Hoài đã phát hiện ra sự khác nhau giữa nhà văn người Kinh và nhà văn người dân tộc thiểu số cùng viết về đề tài dân tộc và miền núi. Ông viết: “Cho tới nay, tôi có viết một số tác phẩm về đề tài miền núi.. Tôi cho rằng dẫu tôi đã cố gắng nhưng những tác phẩm ấy cũng chỉ đạt tới đôi nét chấm phá của một bức ký họa thông qua cảm xúc mới mẻ của mình.... Văn học các dân tộc thiểu số có thực sự phong phú, lớn mạnh phải do chính các nhà văn dân tộc ấy xây dựng, góp phần vào nền văn học đa dân tộc của chúng ta” (Tạp chí Văn học số 9-1994, tr.3).

Những bài giới thiệu và phê bình của Tế Hanh, Vân Long, Nguyễn Trọng Hoàn... về thơ Y Phương; của Vũ Quần Phương, Trần Lê Văn... về thơ Inrasara... đã nêu bật lên được những giá trị riêng độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc, cùng với những thành tựu đáng ghi nhận và những đóng góp phong phú, đa dạng của những tác phẩm các nhà văn dân tộc thiểu số vào nền văn học Việt Nam nói chung.

Như vậy sự đóng góp của các nhà lý luận, phê bình văn học người Kinh đối với văn học các dân tộc thiểu số giữ một vai trò rất quan trọng, rất cơ bản cho việc xây dựng và phát triển mảng văn học này. Mặc dù có bài viết còn có những hạn chế nhất định, do chưa hiểu đầy đủ về các dân tộc thiểu số nói chung và văn học các dân tộc thiểu số nói riêng. Như có ý kiến cho rằng: con đường tiến lên của văn xuôi các dân tộc thiểu số là từ ký, truyện ngắn đến tiểu thuyết và kịch bản. Thực ra kịch bản văn học các dân tộc thiểu số có trước truyện ngắn (vở kịch Chờ gà gáy của Nông Ích Đạt ra đời năm 1957 sau đó mới đến truyện ngắn Ché Mèn được đi họp của Nông Minh Châu (1958)). Đó cũng là đặc điểm riêng của tiến trình phát triển văn học các dân tộc thiểu số đặt trong sự phát triển của văn học Việt Nam nói chung; hoặc câu: “Không có sự phát triển của văn xuôi nếu ngôn ngữ dân tộc chưa phong phú” (40 năm văn hóa - nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam (1945-1985) Nxb Văn hóa 1985, tr.204). Ý kiến này nói chung thì đúng, nhưng nói riêng thì không phù hợp. Bởi vì từ những năm 60 của thế kỷ XX trở lại đây ngôn ngữ các dân tộc thiểu số không những không phát triển mà còn có phần mai một dần. Nhưng văn xuôi các dân tộc thiểu số vẫn phát triển không ngừng. Và cho: “Xây dựng chữ viết cho các dân tộc chưa có chữ, thì việc đó cũng chỉ có thể tiến hành thuận lợi ở một số dân tộc có số người tương đối đông và sống tương đối tập trung, có trình độ kinh tế và văn hóa tương đối phát triển cao, và sự khác biệt giữa các phương ngôn, thổ ngữ không quá nhiều như: Tày, Nùng, Thái, H’Mông...(Sđd, tr.303). Người viết đã thấy được những khó khăn cho các dân tộc có các phương ngôn, thổ ngữ khác nhau quá nhiều. Nhưng lại không hiểu các dân tộc Tày, Nùng, Thái, H’Mông đều có những phương ngôn, thổ ngữ như vậy. Điều đó không chỉ đúng với Tày, Nùng, Thái, H’Mông mà hầu hết các dân tộc thiểu số ở Việt Nam đều rơi vào tình trạng đó, do sống phân tán và xen kẽ với các dân tộc khác (Xin xem Ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam - Nxb Khoa học xã hội 1984).

Vì không có được tiếng tiêu chuẩn, ngôn ngữ chung, nên việc dạy tiếng - chữ ở các trường phổ thông cấp I gặp nhiều khó khăn và có nơi không thực hiện được (như vậy dạy tiếng - chữ Tày vào những năm 60 của thế kỷ XX). Do đó việc phổ biến tiếng dân tộc trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên các giấy tờ cơ quan Nhà nước cũng gặp phải khó khăn không kém. Lò Ngân Sủn rất khách quan khi viết: “Trong thực tế các nhà thơ, nhà văn sáng tác bằng tiếng dân tộc càng ngày càng ít đi, cũng như chữ dân tộc ngày càng mai một dần, chẳng còn mấy ai sử dụng đến nữa”(Hoa văn thổ cẩm - tập 3- NXB Văn hóa dân tộc, 2002, tr.67). nhiều nhà văn dân tộc đã sớm nhận ra điều này. Họ thấy sáng tác bằng tiếng Việt, tư duy bằng tiếng Việt thuận lợi hơn, có điều kiện hơn để biểu đạt tốt nhất những điều mình định nói. Mã A Lềnh viết: “Thơ, tôi tư duy bằng ngôn ngữ Việt. Không  viết được bằng tiếng dân tộc mình...” (Thư viết cho L.T ngày 2/7/1992). Inrasara không ngần ngại khi nói: “Giữa tiếng Chăm và tiếng Việt với người Chăm hôm nay - đâu là ngôn ngữ thứ hai? Không nên tự gạt lòng mình. Câu trả lời sẽ là tiếng Chăm (Văn hóa - xã hội Chăm - Nxb Văn học, 2003, tr 274). Nghĩ có vẻ ngược đời khi nhiều nhà văn dân tộc thiểu số không coi tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ thứ nhất. Nhưng tỉnh táo nhìn lại một cách khoa học và theo quy luật phát triển tất yếu của xã hội Việt Nam thì cả 54 dân tộc anh em đều coi tiếng Việt là ngôn ngữ chung, là tiếng phổ thông. Trong thực tế, tiếng Việt là ngôn ngữ chuẩn mực và hiện đại, là công cụ văn hóa tích cực, thỏa mãn mọi yêu cầu đặt ra của sự phát triển xã hội, phát triển đất nước trong thời kỳ đổi mới. Do đó, tiếng Việt không những tạo điều kiện để các nhà văn đi sâu hơn, đầy đủ hơn vào tâm hồn, cốt cách dân tộc mà còn mở rộng việc giao lưu văn học giữa các dân tộc trong nước và nước ngoài. Với ý nghĩa đó thì tiếng Việt không phải là ngôi nhà tạm trú như có người ngộ nhận.

Trở lên trên về đội ngũ lý luận phê bình là người dân tộc thiểu số không những ít về số lượng, mà còn hạn chế về chất lượng. Những người có được ngoại ngữ để đọc tác phẩm lý luận văn học nước ngoài như Inrasara rất hiếm. Nên nhiều bài viết phê bình còn nặng cảm tính hơn lý tính. Lò Ngân Sủn đã có 4 tập tiểu luận phê bình văn học (Hoa văn thổ cẩm I, II, III, IV) đã có những nhận xét, đánh giá khá sâu sắc về văn học các dân tộc thiểu số, nhưng chưa có bài viết nào hoàn chỉnh. Lò Ngân Sủn có phần nào có dễ dãi, phóng bút khi viết về thể loại này. Nông Quốc Chấn có phần thận trọng hơn. Ông có thế mạnh là rất am hiểu về đội ngũ văn nghệ sĩ các dân tộc thiểu số và những sáng tác của họ, nên ông rất nhạy cảm với tình hình văn học các dân tộc thiểu số hiện nay. Ông vui mừng trước những tìm tòi sáng tạo của các cây bút tiêu biểu hể hiện được bản sắc dân tộc trong văn học. Tuy ông viết phê bình văn học không nhiều, nhưng những ý kiến trong bài viết của ông đã góp phần thiết thực và cụ thể trong việc xây dựng và phát triển văn học các dân tộc thiểu số. Nhiều câu  phê bình văn học đã trở thành những trích dẫn không thể thiếu trong những công trình nghiên cứu về văn học dân tộc.

Inrasara là người viết lý luận phê bình nghiêm túc, táo bạo, sắc sảo, đưa ra được những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn của quá trình sáng tạo. Ông quan tâm nhiều tới tiếng nói và chữ viết và vấn đề bản sắc dân tộc trong văn học. Inrasara cho việc dùng tiếng Việt là một tất yếu khách quan: “Tôi nghĩ có lẽ sang đầu thế kỷ XXI, người Chăm sẽ chỉ dùng tiếng Việt để diễn tả suy nghĩ của mình. Dù đau xót, nhưng có thể đấy là một thực tế phải chấp nhận” (Sđd, tr. 209). Inrasara không bao giờ hài lòng với truyền thống của cha ông, ông muốn đập, phá nó ra để lọc lấy cái tinh chất, tìm trong đó những chất liệu, phương tiện và kinh nghệm nghệ thuật cần thiết cho mục đích sáng tạo của mình, để rồi tái tạo lại trong một tác phẩm mới hiện đại hơn. Ông quan niệm sáng tạo là phải mở rộng tầm nhìn, tầm hiểu biết đến khôn cùng. Ông thấm nhuần những tư tưởng văn học phương Tây, Ấn Độ, Trung Quốc, ông vận dụng đủ các biện pháp nghệ thuật của “lục bát, đường luật, sonet, haiku, tự do...”

Để bật ra cái riêng ông. Chính vì vậy, những tác phẩm của ông không bao giờ lặp lại mình và lặp lại người khác. Ông đặc ra yêu cầu cao cho những tác phẩm sau phải mới, phải khác hơn những tác phẩm trước về nội dung tư tưởng cũng như hình thức nghệ thuật. Dường như ở đây Inrasara là người thể hiện tương đối rõ một quy luật riêng của nghệ thuật. Đôi khi cái khái quát, phổ biến, rộng lớn của nhiều dân tộc, của thế giới xưa và nay, cả cái biển văn hóa phong phú rộng lớn đó có khi lại được đọng lại trong một hình thức riêng rất độc đáo của một dân tộc nhỏ bé. Như trường hợp Aimatốp, Gamzatốp chẳng  hạn. Xét về bản chất người nghệ sĩ là một hiện tượng dân tộc, nên sáng tác của anh ta không thể thoát ly truyền thống đạo đức văn hóa của dân tộc mình, nhưng sáng tác của anh ta chỉ có giá trị và ý nghĩa khi nó chưa đựng những tư tưởng và những hình tượng gần gũi với những vấn đề gây xúc động cho cả xã hội chúng ta, cho toàn nhân loại, cho những người đương thời của tất cả các dân tộc. Đó chính là con đường thể hiện bản sắc dân tộc rõ nhất, hiện đại nhất. Nó đòi hỏi nhà văn thật sự có “tài năng và sự dấn thân hết mình cho nghệ thuật” (Inrasara - Sđd, tr.272).

Nhìn chung lý luận phê bình văn học các dân tộc thiểu số lâu nay vẫn chưa làm rõ được việc sử dụng tiếng dân tộc hay tiếng Việt trong sáng tác, về bản sắc dân tộc trong văn học. Đó là những vấn đề đáng bàn. Nhưng cần dứt điểm. Không nên để kéo dài mãi từ những năm 50 của thế kỷ XX cho tới mãi giờ (đến cuộc họp hội nghị “Văn học dân tộc thiểu số và miền núi” tổ chức tại Sa Pa, Lào Cai vào cuối tháng 4 năm 2004 vẫn có nhiều nhà văn đề cập tới). Sở dĩ có tình trạng như vậy là do bản thân lý luận phê bình văn học các dân tộc thiểu số còn nhiều hạn chế về mặt lý luận, còn thiếu những cuộc tranh luận, trao đổi, thiếu một phương pháp luận khoa học cần thiết khi viết về vấn đề này. Cho nên, người viết cứ viết theo cảm nhận riêng của mình, không cần biết những người đi trước đã đề cập tới vấn đề này như thế nào để mà tranh luận lại bằng lý lẽ và cả thực tiễn để đi tới thống nhất về mặt nhận thức. Thứ hai, thực tiễn phát triển của văn học các dân tộc thiểu số sau này trong những tác phẩm của Y Phương, Lò Ngân Sủn, Inrasara, Cao Duy Sơn mới thể hiện rõ những luận điểm về ngôn ngữ và bản sắc dân tộc trong văn học.

Có thể nói, cho tới nay, lý luận phê bình văn học của các dân tộc thiểu số mới chỉ đề cập đến những vãn đề trong nội bộ của nền văn học đó.  Nó chưa có điều kiện và khả năng để hòa nhập vào nền lý luận phê bình văn học của cả nước.

Với thực trạng lý luận phê bình văn học các dân tộc thiểu số như trên, văn học các dân tộc thiểu số rất cần những nhà lý luận phê bình văn học người Kinh tham gia nhiều hơn nữa vào việc giới thiệu phê bình văn học các dân tộc thiểu số trên tinh thần thẳng thắn, đoàn kết, dân chủ và bình đẳng. Cần có những bài đánh giá khái quát về thơ, văn các dân tộc thiểu số hơn là những bài viết chỉ nặng về giới thiệu phê bình từng tác giả, tác phẩm.

Các cơ quan hữu trách (trong đó có Hội đồng lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương, Viện Văn học...) cần tạo mọi điều kiện để những người viết lý luận phê bình văn học các dân tộc thiểu số nâng cao về nhận thức và trình độ lý luận; được trao đổi gặp gỡ với những nhà lý luận phê bình văn học trong cả nước thông qua các hội nghị, hội thảo về văn học.

Viện Văn học cần có bộ phận nghiên cứu về văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại. Cũng như những bài viết khái quát về văn học Việt Nam cần có mặt của bộ phận văn học này.

Cuối cùng, lý luận phê bình văn học các dân tộc thiểu số cần có những cuộc hội thảo chuyên sâu với tinh thần dân chủ, khoa học về vấn đề ngôn ngữ trong sáng tác, về bản sắc dân tộc trong văn học, về những tác giả, tác phẩm đoạt giải cao để từ đó xác định rõ phương hướng phát triển của văn học và định hướng cho các nhà văn dân tộc thiểu số trong qúa trình sáng tạo.

 

(Diễn đàn văn nghệ Việt Nam)

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác